Đăng bởi

 Truyền thuyết về Mẫu Hưng Yên

Đền Mẫu Hưng Yên nằm ở phường Quang Trung, thành phố Hưng Yên. Đền Mẫu Hưng Yên thờ bà Dương Quý Phi người Tống. Mẫu Dương Quý Phi không thuộc Tứ Phủ. Tuy vậy, ngôi đền vẫn được thờ các ngôi của Tứ Phủ.

Truyền thuyết về Mẫu Hưng Yên

Năm 1279, quân Nguyên xâm lược Trung Quốc. Vua Tống là Tống Đế Bình khi đó mới 9 tuổi cùng hoàng tộc và quân thần rong thuyền bỏ chạy ra biển đông. Do thuyền truy sát của quân Nguyên đuổi sát thuyền vua Tống. Biết không thể thoát, nên Vua Tống, hoàng tộc và các quần thần đã nhảy xuống biển để tuẫn tiết.

 Dân làng chải Cờn Môn – Nghệ An nhìn thấy 4 cái xác, nhưng chỉ vớt được 3 xác. Còn xác kia trôi về cửa sông Phố Hiến ( Hưng Yên ngày nay). Xác đó chính là Dương Quý Phi mẹ vua Tống Đế Bính). Nhân dân xót thương bà và đã lập đền thờ bà.

Đời Vua Trần Ánh Tông khi đi đánh chiêm thành đã nằm mộng thấy Dương Quý Phi đến xin âm phù để giết giặc. Khi thắng trận trở về, nhà vua cho tôn tạo lại đền khang trang hơn.

Khảo dị khác về thần tích Mẫu Hưng Yên

Bà Dương Quý Phi còn được thờ tại Đền Cờn – Nghệ An. Tuy nhiên, theo thánh tích của Đền Cờn – Nơi đây đã vớt được 4 xác tứ vị thánh nương trong đó có cả bà Dương Quý Phi không thấy nhắc đến việc xác bà Dương Quý phi trôi dạt về Phố Hiến ( Hưng Yên).

Xin xem thêm bài: Đền Cờn Nghệ An

Hiện nay, rất nhiều tài liệu lầm tưởng Bà Dương Quý Phi là vợ của Vua Tống Đế Bính, nhưng theo sử của Trung Quốc thực chất bà là vợ của vua Tống Độ Tông, cha của Vua Tống Đế Bính. Tống Đế Bính lên ngôi năm 9 tuổi và 1 năm sau đã tuẫn tiết khi bị quân Nguyên đuổi bắt. Vua Tống Đế Bính hiện được thờ tại Đền Cờn Ngoài (đền Quan Hoàng Chín). Ngôi đền này còn gọi là đền Quan Hoàng Chín Cờn.

Theo ý kiến của PGS. TS Nguyễn Minh Tường đã đăng trên tạp chí Hán Nôm thì thần tích Mẫu Hưng Yên tóm tắt như sau:

Vào thời Vua Thiệu Bảo, có người trong triều đình Bắc Quốc đến khúc sông xã Xích Đằng làm nhà và dựng miếu thờ Dương Quý Phi. Do cầu đảo linh ứng, nên mọi người kéo đến lễ ngày càng đông.  Một hôm ông được Dương Quý Phi báo mộng về nơi mất ở đền Cờn ngày nay và dặn ông hãy đến thăm nơi đó và nên lập thêm đền thờ tại Hưng Yên ngày nay.

Cảnh đền Mẫu Hưng Yên

Như vậy, theo tài liệu của PGS. TS Nguyễn Minh Tường thì Đền Mẫu Hưng Yên không phải là nơi Mẫu trôi dạt vào mà mẫu cùng 3 công chúa đều trôi dạt vào Đền Cờn – Nghệ An.
Vì vậy, với những ai yêu mến Mẫu Hưng Yên thì trong đời cũng nên một lần đến với Đền Cờn – nơi thờ chính của Mẫu Dương Quý Phi – Một trong Tứ Đại Mỹ Nhân của Trung Quốc – Một Thái Hậu đã tuẫn tiết vì dân vì nước Trung Hoa và nay cũng đã được nhân dân Việt nam coi như một thánh Mẫu.

Đăng bởi

Thân thế Cô Tám Đồi Chè

Đền Cô Tám Đồi Chè nằm trong Khu Du Lịch Tâm linh Hàn Sơn thuộc đất Phong Mục, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đây là nơi thờ chính của Cô Tám Đồi Chè.

Đền Cô Tám đang được xây dựng đang rất cần sự phát tâm công đức

Hiện nay, Đền Cô Tám đã bắt đầu sửa chữa, trùng tư lớn vào đầu năm 2016. Toàn bộ ngôi đền cũ đã được đập ra và xây mới hoàn toàn. Vị trí ngôi đền cũ được chuyển dịch sang phía bên phải nếu nhìn từ ngoài vào.

Đền đang được xây dựng bởi sự hảo tâm phát tâm công đức của một số con nhang, đệ tử và nguồn của xã. Nghe nói có 2 nhà hảo tâm lớn đã quyên đến hàng chục tỷ đồng để xây dựng Tam quan và ngôi đền. Hiện nay, đền Cô đang được xây dựng, rất mong được sự hảo tâm cung tiến của các con nhang, đệ tử để đền Cô được khang trang, tố hảo.

Thân thế Cô Tám Đồi Chè

Hiện nay, thân thế về Cô Tám Đồi chè hầu như có rất ít tài liệu. Thân thế về Cô chủ yếu là do tương truyền. Theo tương truyền Cô giáng sinh tại vùng Phong Mục, Hà Trung, Thanh Hóa vào thời Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa. Sinh thời cô là một thiếu nữ đảm đang, tần tảo, nết na và hay hái chè xanh làm thuốc chữa bệnh cho dân chúng quanh vùng. Cô có công lớn giúp vua Lê Lợi trong đánh đuổi giặc Minh. Khi Cô hóa về trời, Cô được vua Lê phong công lập đền tại vị trí đền ngày nay.  Trong Tứ phủ Thánh Cô cô là Cô thứ Tám, nên nhân dân gọi Cô là Cô Tám Đồi Chè.

Có tích nói rằng cô vốn là thiếu nữ người Mường (có tích lại nói cô là người Kinh).

Cô có hay ngự đồng và ngự đồng cô thường hay mặc trang phục gì

Trong hàng Tứ Phủ Thánh Cô, Cô Tám Đồi Chè hiếm khi về ngự đồng. Cô Tám Đồi Chè ngự đồng thường mặc áo xanh quầy đen ( đôi khi có nơi là áo tím hoa cà ). Cô Tám cũng khai quang sau đó múa mồi, sau đó thường là múa tay tiên các điệu như người đi hái chè trên non.

Đền thờ Cô Tám Đồi Chè ở những đâu

Đền thờ chính của Cô được thờ riêng tại đền cô thuộc đất Phong Mục, huyện Hà Trung. Ngoài ra tại Đại Từ, Thái Nguyên cũng có một đền thờ vọng. Đền Cô tại đây, trước đây hết sức lụp sụp, nhưng nay do nhiều người hảo tâm công đức nên hiện nay khá khang trang, sạch đẹp. Cô Tám cũng còn được phối thờ ở một số đền, nhưng không nhiều.

Cô Tám Đồi Chè có phải là Cô Tám theo hầu Chầu Tám Bát Nàn hay không

Cô Tám Đồi Chè không phải là Cô Tám theo hầu Chầu Tám Bát Nàn. Cô Tám Đồi Chè có sự tích riêng như đã nêu ở trên. Cô Tám Bát Nàn có từ thời Hai Bà Trưng. Cô Tám Đồi Chè có từ thời Vua Lê Lợi.

Đăng bởi

Khi đã là con bốn Phủ thì làm sao để yên căn yên mệnh.

Làm sao để yên căn yên mệnh đó là điều mọi thanh đồng đều ước muốn. Nhưng tiếc thay, do việc chưa hiểu hết Đạo, nên nhiều thanh đồng đã rơi vào vòng luẩn quẩn, u mê. Chúng tôi xin trích đăng một bài viết về vấn đề này của thầy Huyền Tích – Một người thầy luôn hết lòng vì sự chấn hưng Đạo Mẫu – để mọi người tham khảo.

Khi đã là con bốn Phủ thì làm sao để yên căn yên mệnh?

Yên căn yên mệnh hay không là nhờ vào Đồng Thầy của mình vì bạn mới vào Đạo việc âm chưa tường, việc dương chưa tỏ.  Khi mở phủ xong tạm thời chỉ là yên Bóng chưa phải yên Căn.  Vậy cần sự hướng dẫn tu tập cho Tân đồng, Lính mới là rất quan trọng. Còn chẳng may bạn gặp phải Thầy mở Phủ xong được hay không theo kiểu phó thác cho giời, thấy con nhang vẫn cơ hành chỉ biết bảo phải lễ này lễ kia rồi bách nhật phải tiến thêm mã, thêm lễ… v v.  Chẳng may bạn gặp phải Đồng Thầy không thông việc Đạo như vậy thì phải làm sao?…

Như thế nào là chưa yên Căn

Xem người khác hầu tủi bóng muốn khóc hoặc múa may không kìm chế được bản thân, mơ đi hầu đi lễ ngài hiện về bảo đi hầu đi lễ vv…

Hay những thanh đồng, thủ nhang, đồng thầy phụng sự cửa Thánh nhiều năm rất có tâm, nhưng lại luôn luôn bất an việc mình làm liệu có đúng không hay có sai không…

Những người đồng nghèo lính khó, không có ngân xuyến để hầu hạ, tuy không tủy bóng khát bóng hay mơ đi hầu đi lễ, thấy đồng anh lính chị náo nức đón tiệc hầu tiệc Cha hầu tiệc Mẹ,  tuy không tủi bóng nhưng lại sợ mình lâu không hầu có khi nào Cha Mẹ trách phạt không. Tâm sinh nghi hoặc tự nhiên bất an thần trí rối bời đấy cũng là chưa yên căn vì không hiểu Đạo!

Hay những người nhiều tiền hầu hạ phô trương khoe mẽ đà sở khăn điều áo thắm thuộc hạng sang hàng đắt tiền canh đàn tố hảo hàng nghìn hàng trăm suất lộc, phát lộc rất hậu, theo kiểu thiên hạ không ai bằng mang tiền ra để khảng định bản thân, việc Đạo thì chưa tu được còn phân biệt chấp trước, sang hèn đó cũng là lỗi Đạo chưa yên căn!

Vậy làm sao để yên căn yên mệnh?

Hiểu thông việc Đạo! Tự mình có thể lí giải được khúc mắc cho bản thân, không bị rằng buộc bởi các Pháp hay các nghi thức trong Đạo, tâm sinh hoan hỉ không phiền não tự yên căn yên mệnh ai đó nói gì cũng không thay đổi được, tâm Đạo kiên định không bị tác động của thị phi thì quỷ thần cũng không sâm hại quấy nhiễu.

Còn những người không thể tự mình tu học được, Thầy lại không giúp được chỉ ăn rồi lo sắm lễ hết tiền thì hết tình thầy trò, tâm dạ thì rối bời, ai gặp phải Thầy như vậy, cũng không có gì phải lo cả, không phải tìm thầy xoay khăn hay tái phủ, không phải lễ bái gì nữa, vì các bạn đã lễ quá nhiều rồi, lúc này chỉ cần tìm bạn Đạo thiện hữu tri thức hiểu biết về Đạo để cùng chia sẻ.

Vậy làm sao để các bạn phân biết được đâu là bạn Đạo tin cậy. Đâu là bạn Đạo không tin cậy ?

Rất đơn giản: Bạn gần gũi với ai đó không kể sang hèn trong Đạo hay ngoài Đạo, đồng lâu năm hay đồng tân lính mới, có đồng hay không có đồng.  Sau nhiều lần nói chuyện tâm thấy an, việc Đạo lại thông tỏ hoan hỉ vui mừng, không phải lễ bái hay hầu hạ gì không hao tài tốn của, thân tâm an lạc trí tuệ tăng trưởng thì đó nhất định là bạn Đạo tin cậy.

Còn ngược lại khi bạn nói chuyện với ai đó tâm thấy bất an tinh thần hoảng hốt hoang mang sự việc rối bời không thông không hiểu, lại phải lễ lạp đàn sở tốn kém mà việc Đạo không thông tỏ vẫn bế tắc u mê, thì chắc chắn đó không thể là bạn Đạo! Dù người đó có xưng mình là Phật là Thánh hay Tiên giáng trần có Đền to Phủ lớn tiền hô hậu ủng… thì tất cả những thứ đó không phải là sự thành đạt trong nhà Đạo!

Bạn Đạo là người giúp ta không cầu lợi từ ta! Là người xem ta như ruột thịt người thân, sẵn sàng vì ta mà giúp khi ta cần đấy là thiện hữu tri thức.

Huyền Tích tôi có đôi lời từ tâm can, nếu có mạo phạm xin thứ lỗi.

( Trích lược  Huyền Tích)

Đăng bởi

Thần Tích về Cô Năm Suối Lân

  Cô Năm Suối Lân vốn là tiên nữ trên trời, theo lệnh cô giáng trần là người thiếu nữ dân tộc Nùng ở xứ Lạng. Có tích lại kể rằng Cô Năm là người thị nữ thân cận bên Chầu Năm Suối Lân ( lúc sinh thời khi chầu còn là công chúa) nên cô cũng được tôn hiệu là Cô Năm Suối Lân hay Cô Năm Sông Hoá. Sau này được sắc phong hiển thánh, Cô Năm vẫn được coi là tiên cô kề cận bên cửa Chầu Năm, cô được coi là tiên cô trông giữ bản đền Suối Lân. Ngoài ra cô còn được coi là vị thánh trấn tại cửa rừng Suối Lân (cung rừng này một cửa vào là cửa Suối Lân do Cô Năm Suối Lân trấn giữ, cửa ra là cửa Thất Khê do Cô Bé Đèo Kẻng trấn giữ), vậy nên, ai đi chiêm bái trên đất Lạng đều phải qua bái yết cửa Chầu Năm và Cô Năm Suối Lân. Dòng Suối Lân do Cô Năm cai quản bốn mùa trong xanh, nước thông về sông Hoá, tương truyền rằng đây là dòng suối thiêng của cô, nước suối xanh mát bốn mùa không bao giờ cạn, nếu ai có bệnh tật đến xin nước suối cửa cô, uống vào sẽ thuyên giảm, nhược bằng, người nào không biết mà xuống suối tắm hay rửa chân tay, làm ô uế dòng suối của cô sẽ bị cô hành cho sốt nóng mê sảng. Phép anh linh của Cô Năm Suối Lân còn được biết qua việc nếu có kẻ nào báng nhạo cô sẽ “xát lá han” làm cho kẻ đó luôn ngứa ngáy không yên, rồi cô cho đi lạc đường rừng.

Trong hàng thánh cô, thường thấy Cô Năm Suối Lân ít khi ngự đồng hơn Cô Sáu Lục Cung, thường chỉ người nào có sát căn quả về cửa Cô Năm hoặc khi về đền Suối Lân thì có thấy thỉnh bóng Cô Năm ngự đồng. Khi hầu về giá Cô Năm Suối Lân, thường người ta mặc xiêm y như màu áo của Chầu Năm (nhưng là áo ngắn vạt), đó có thể là màu xanh thiên thanh hoặc xanh lá cây, cô chít khăn củ ấu, bên mình có túi vóc, dao quai. Ngự đồng cô khai cuông rồi múa mồi. Hiện nay Cô Năm Suối Lân được phụng thờ là thánh cô trấn giữ cửa Suối Lân Sông Hoá, cung thờ cô được đặt cạnh ngay đền chính của cửa Chầu Năm Suối Lân (huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn).

   Thần Tích về Cô Năm Suối Lân

   Cô Năm Suối Lân là tiên nữ được giáng trần xuống vùng Sông Hóa. Cô Năm Suối Lân là hầu cận của Chầu Năm Suối Lân. Cô Năm suối Lân cò
n hầu Mẫu Thượng Ngàn. Cô Năm Suối Lân là một Thánh Cô có tính cách phi thường, trí tuệ thần thông:
   Cô Năm cốt cách phi thường

Trâm cài, lược giắt, soi gương chải đầu.
Long lanh mắt phượng tựa sao
Thần thông diệu trí biết bao quyền hành.
  
Oai linh của cô đã vang dậy từ triều nhà Lê:
Lê triều tích cũ sử xanh
Cô Năm công chúa rành rành oai linh
  
Cô thường ngự giá về đền vào nửa đêm:
Nửa đêm cô mới hiện hình
Suối Lân soi bóng tươi xinh dáng hình.
  
Cô Năm Suối Lân nổi tiếng là nghiêm minh trong thưởng phạt:
Phép cô thưởng phạt nghiêm minh
Có công cô thưởng tội hình không tha
   Nhưng tấm lòng của cô lại đầy vị tha:
Người thời có phúc có phần
Có lòng cô sẽ bắc cân cho đều

 Cô giỏi đàn ca, thơ phú và cung giỏi chữa bệnh cứu dân:

Cô Năm ứng hiện tự nhiên
Ban cho nước suối bệnh liền khỏi ngay
   
 Khi cô về đồng, thánh cô đẹp vô ngần:
Về đồng cô mặc áo xanh
Nón buồm túi vóc thanh thanh hoa cài
Rườm rà cô vấn tóc mai
Chít khăn củ ấu chân hài cánh tiên
Đăng bởi

Quan Hoàng Bơ – Quan Hoàng Ba

Quan Hoàng Ba, còn gọi là Quan Hoàng Bơ có đền thờ tại Phong Mục, Hà Trung, Thanh Hóa. Đây là một ngôi đền nhỏ, uy nghiêm nhìn ra một dòng sông. Đây được coi là một trong các đền thờ chính của Ngài.         Nhiều người cho rằng Ngài không giáng trần nên không có chính từ hay vọng từ.

Đền thờ có 3 gian, gian ngoài thờ Tứ phủ Thánh Hoàng, gian giữa thờ tượng Ông Hoàng Bơ và Quan Lớn Đệ Tam, còn gian trong cùng thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế và Quan Nam Tào, Quan Bắc Đẩu. Trước cửa đền có 2 ông ngựa và đền nhìn ra sông.
Đền Quan Hoàng Ba còn có lầu thờ Cô Ba Thượng và Cô Ba Thoải.

Thần tích về Quan Hoàng Ba (Quan Hoàng Bơ hay Quan Hoàng Bơ phủ).

Thần tích về Quan Hoàng Bơ hiện đang còn rất nhiều tranh cãi và có nhiều dị bản khác nhau.  Người viết xin được tóm tắt để bà con tham khảo:

   + Thần tích ông Hoàng Bơ Thoải liên quan đến đền Cờn:

Ngài hạ sinh vào thời Nam Bắc Tống phân tranh. Ngài tên là Tống Khắc Bính, là thái tử con vua Nam Tống  Sau khi nhà Nam Tống bị nhà Bắc Tống đánh bại, Ngài dong thuyền ra biển Đông và thác hóa. Thân y trôi vào cửa Cờn được ông Hoàng Chín lúc bấy giờ đang tu ở đó vớt lên chôn cất. Sau này Ngài phù Lý, Trần anh kinh hiển hách được nhân dân gọi là ông Hoàng Bơ Thoải.
Nhưng hiện nay, đền Cờn đã được đổi lại thành đền Quan Hoàng Chín. Xin các bạn xem bài viết về Quan Hoàng Chín sẽ rõ hơn. Chi tiết tại: Đền Ồng Chín Cờn
Đền Cờn đã được Trung tâm Nghiên cứu Tiềm Năng Con người xác định là nơi thờ Quan Hoàng Chín chứ không phải là thờ Quan Hoàng Bơ. Vì vậy, thần tích ông là Tống Khắc Bình, là Thái tử vua Nam Tống cần xem xét.

 + Thần tích về Quan Hoàng Bơ liên quan đến đền Quan Hoàng Ba – Phong Mục 

Ông là con trai thứ ba hàng Tứ Phủ Ông Hoàng, con trai vua Long Vương Bát Hải Động Đình. Ông Hoàng Bơ thường ngự dưới tòa Thoải Cung, coi giữ việc trong Đền Vàng Thủy Phủ. Có khi ông biến trên mặt nước, hiện lên chân dung một vị Hoàng Tử có diện mạo phi phương, cưỡi cá chép vàng. Đôi lúc ông biến hiện, ngồi trên con thuyền, rong chơi khắp chốn, cùng các bạn tiên uống rượu, ngâm thơ, đàn hát, trông trăng, đánh cờ, hưởng thú vui của các bậc tao nhân mặc khách. Có điển tích nói rằng, Ông Bơ cũng là người em trai thân cận bên Quan Lớn Đệ Tam, khi thanh nhàn các ông thường ngự thuyền rồng, cùng dạo chơi khắp chốn, nhưng thấy cảnh dân chúng còn lầm than, vua cha sai ông lên khâm sai cõi trần, mở hội Phúc Duyên, giáng phúc cho dân, độ cho kẻ buôn bán làm ăn, người học hành đỗ đạt.

 + Thần tích Ông Hoàng Bơ Phủ liên quan đến đền Hưng Long – Thái Bình

Ông Hoàng Bơ là Hoàng tử Minh Đức con trai của Công Chúa Ngọc Dung – con gái của Long Vượng Động Đình. Ngài được giáng sinh vào gia đình Ông Phạm Thái Công và bà Phạm Thị. Đền thờ Ngài ở đây được triều Nguyễn phong nhiều mỹ tự: ” Đông Hải, Thủy Tinh, Bạch Long, Linh Phù, Hiển Ứng, Tịnh Tuệ, Bác Huệ, Minh Đức Đại Vương thượng đẳng thần ” .
Các bạn có thể tham khảo chi tiết tại: Quan hoàng Bơ

Ông Hoàng Bơ có hay ngự đồng và thường diện xiêm y mầu gì

Quan Hoàng Bơ là một trong ba vị Ông Hoàng hay về ngự nhất. Khi giá ngự đồng, ông mặc áo trắng (có thêu rồng kết uốn thành hình chũ thọ), thắt đai vàng, đầu đội khăn xếp có thắt lét trắng, cài chiếc kim lệch màu trắng bạc. Có khi ông ngự về tấu hương, khai quang rồi một tay cầm mái chèo, một tay cầm quạt thong thả bẻ lái dạo chơi, cũng có khi ông cầm đôi hèo hoa, rong ruổi cưỡi ngựa đi ngao du sơn thủy.

Đền chính Quan Hoàng Bơ ở đâu

Với các thần tích như trên khó xác định đâu là thờ chính của Quan Hoàng Bơ. Tuy nhiên, có lẽ có 3 nơi thờ ông Hoàng Bơ chính mà chúng ta có thể quan tâm: Đền Quan Hoàng Ba – Phong Mục, Hà Trung, Thanh Hóa; Đền Hưng Long tại Thái Bình là hai nơi có thần tích. Một ngôi đền nữa thờ Quan Hoàng Bơ đó là đền Vạn Ngang – Đồ Sơn – Hải Phòng nơi ghi nhận sự hiển linh của Ngài. Ngoài ra,  Đền Cờn  (nay là đền Quan Hoàng Chín) trước đây có người cho là đền chính của Ngài.
Ông Hoàng Bơ được hầu hết phối thờ trong các đền trong cung Tứ Phủ Quan Hoàng hay ban thờ riêng. Trong cung Tứ phủ Thánh Hoàng, Quan Hoàng Bơ thường phối thờ với Quan Hoàng Bảy và Quan Hoàng Mười.

Đăng bởi

Đền Kỳ Sầm là nơi thờ chính của Quan Hoàng Tám

Đền Kỳ Sầm thờ Khau Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao tại Bản Ngần, xã Vĩnh Quang, thành phố Cao Bằng. Nhiều người cho rằng Quan Hoàng Tám có giáng trần và đó chính là Khau Sầm Đại Vương Nùng Chí Cao. Cũng có nhiều người cho rằng Quan Hoàng Tám không giáng trần và không có đền thờ chính. Tuy vậy, người viết cũng mạnh dạn viết đôi nét về Tướng quân Nùng Chí Cao để mọi người tham khảo.

Có thể nói: Tướng Quân Nùng Chí Cao là một thánh quan có chí khí và khí phách vô song. Ngài đã nhiều lần đánh chiếm đất của nhà Tống (Trung quốc) để lập một nước riêng. Một vị tướng người thiểu số đã nhiều lần khiến vua quan nhà Lý khốn đốn và nể phục. Nhà Lý cũng đã có lần bắt được ông, nhưng rồi lại thả và phong thêm chức sắc. Đây là một trang lịch sử thực sự tự hào về một vị tướng lỗi lạc đã từng nhiều lần làm cho nhà Tống điêu đứng.

     Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, Nùng Trí Cao là con của Nùng Tồn Phúc – thủ lĩnh châu Thảng Do. Năm 1038, Nùng Tồn Phúc chiếm châu Vũ Lặc và Quảng Nguyên, xưng “Chiêu thánh hoàng đế”, lập nước “Trường sinh”, phong vợ làm “Minh đức hoàng hậu”, phong con cả Trí Thông làm “Điền nha vương”, đồng thời sắm sửa vũ khí, xây dựng thành trì.

Năm 1039, vua Lý Thái Tông thân chinh đem quân đánh Nùng Tồn Phúc, bắt Nùng Tồn Phúc và Trí Thông đem về kinh đô xử tử, Nùng Trí Cao cùng mẹ  chạy đến động Lôi Hỏa, phía Tây Bắc Cao Bằng (thuộc địa phận tỉnh Quảng Tây- Trung Quốc ngày nay).

Năm 1041, hai mẹ con Nùng Trí Cao từ động Lôi Hỏa về chiếm châu Thảng Do, chiêu tập lực lượng, lập nước “Đại Lịch'” Triều đình nhà Lý cử quân lên đánh, bắt Nùng Trí Cao đem về kinh đô nhưng không trị tội mà còn cho Nùng Trí Cao giữ châu Thảng Do,  đồng thời cai quản thêm các động: Lôi Hỏa, Bình, An, Bà, châu Tư Lang và  được phong làm châu mục Quảng Nguyên

Năm 1048, Nùng Trí Cao nổi dậy ở động Vật Ác (thuộc đất Tống); Năm 1043, vua Lý Thái Tông sai Ngụy Trưng đến châu Quảng Nguyên, phong cho Nùng Trí Cao tước “Thái Bảo”- một chức quan cao cấp thời Lý;

Năm 1050, Nùng Trí  Cao chiếm động Vật Dương (thuộc đất Tống), lập nước “Nam Thiên”, đặt niên hiệu Cảnh Thụy;

Năm 1053, Địch Thanh (một viên tướng của nhà Tống) dã dẫn quân đi đánh Nùng Trí Cao, Nhà Lý sai Vũ Nhị mang quân tiếp ứng, nhưng do tình thế không cứu vãn nổi nên cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao chấm dứt.  Năm 1052, sau khi dâng biểu xin cống vua Tống không được, Nùng Trí Cao đã dẫn 5000 quân tiến đánh thành Ung Châu, sau đó xưng “Nhân hậu hoàng đế” , đổi niên hiệu là  “Khải Lich”, đặt quốc hiệu “Đại Nam”.

Mặc dù do những hạn chế tất yếu, nhưng cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao đã chứng tỏ ý chí quật cường của các dân tộc thiểu số vùng biên giới chống lại các cuộc xâm lược của nhà Tống, góp phần bảo vệ biên cương phía Bắc của Tổ quốc. Hình ảnh nửa thực, nửa huyền thoại của Nùng Trí Cao đã in sâu trong tâm thức của nhiều dân  tộc anh em như: Người Tày, người  Nùng, Cờ Lao, La Chí… Phạm vi ảnh hưởng của Nùng Trí Cao không chỉ bó hẹp trong địa bàn tỉnh Cao Bằng, Lang Sơn, Hà Giang… mà còn ở một số nước láng giêng như: Trung Quốc, Thái Lan, Mian ma… Nùng Trí Cao được coi là biểu tượng của thánh thần, anh hùng văn hóa

Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, ngoài di tích đền Kỳ Sầm, nhiều địa phương cũng có đền thờ Nùng Trí Cao như: Huyện Quảng Uyên, huyện Hà Quảng , huyện Thông Nông, huyện Bảo Lạc.

Đền Kỳ Sầm là nơi thờ chính của Quan Hoàng Tám. Khu đền khá rộng, khuôn viên khá đẹp. Khu nhà đền chỉ có 2 cung nhỏ tạo nên một sự tĩnh mịch, linh thiêng, huyền bí. Cung phía trước là cung công đồng thờ quan, quân của Ngài. Cung phí sau thờ Ngài và Thâm Mẫu cùng 3 bà vợ. Tương truyền ba bà là người Hoa, Kinh và Nùng.

Quan Hoàng Tám rất ít ngự đồng, trừ những người nặng căn của Quan.

Dưới đây là văn hầu Quan Hoàng Tám do Phạm Xuân Kiên sưu tầm:

Gương anh dũng ngàn xưa lưu để
Đất Cao Bằng tú khí chung linh
Trời nam có đức thánh linh
Họ Nùng đệ bát hùng anh tuyệt vời ./
Giận bạo chúa bao đời áp bức
Thù ngoại xâm Tống giặc cường hung
Thề rằng không độ trời chung,
Tuốt gươm quét sạch thù trong giặc ngoài./
Dư trăm trận mưa rơi sấm giật

Đôi trượng đồng dạy đất trời long

Bát Nùng nối nghiệp gia phong

Noi gương tiên tổ – họ Nùng – Trí Cao.

Ông Bát Nùng ra vào sinh tử

Trượng tung bay tuyết phủ hoa khai

Xá gì đạn lạc tên rơi

Trên đời hồ dễ mấy ai anh hào./

Thân bách chiến ra vào sinh tử

Đôi thần trùy nhẹ tựa hồng mao

Trần hoàn nhẹ gánh gian lao

Cõi trời giở sổ Nam Tào có tên./

Rước ông Bát về miền tiên giới

Đất Cao Bằng nhớ lại công ơn

Nhân dân thờ phụng khói hương

Nhớ người tráng sĩ hiên ngang anh hùng./

Thưở niên thiếu kiếm cung yên ngựa

Sinh vì đời, thác trợ muôn dân

Oai linh lẫm liệt thánh thần

Một lòng vì nước vì dân vì đời./

Gương anh khí sáng ngời muôn thuở

Chí hào hùng rạng rỡ non sông

Vinh quang thay giòng giống Lạc Hồng

Ngàn thu còn nhớ ông Bát Nùng Trí Cao ./

Đăng bởi

Phủ Tổ nơi thờ Vương Phụ, Vương Mẫu của Mẫu Liễu Hạnh

 Phủ Tổ còn gọi là Khải Thánh Đài tọa tại thôn Vân Cát trong quần thể tâm linh Phủ Dầy.  Phủ tổ còn được gọi là Phủ  Đá có lẽ bởi bởi kiến trúc phía trước đền đều được sử dụng bằng đá.  Đây là nơi thờ phụng Vương Phụ Lê Đức Chính và  Vương Mẫu Trần Thị Phúc – Đó là hai vị đã sinh hạ ra Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Hiện nay sắc phong Vương Phụ  và Vương Mẫu  vào năm Khải Định 1924 đã được tìm thấy.

Nơi đây theo truyền thuyết nơi đây là quê chính của Mẫu Liễu, tức nơi Thánh Mẫu được giáng trần lần thứ hai.
Hiện nay cung trong ở giữa thờ phật, hai bên thờ Vương Phụ, Vương Mẫu sinh ra Mẫu Liễu. Cung thứ hai thờ Tam toà Thánh Mẫu. Cung ngoài cùng ở giữa thờ Đức Thánh Trần, còn một bên thờ Trần triều Vương Cô, một bên thờ bát hương bản mệnh.
Phủ Tổ được sửa chữa lớn vào năm 1943. Trong kháng chiến chống Pháp Phủ Tổ đã bị ném bom hư hỏng nặng. Di tích này mới được tu sửa đưa vào sử dụng năm 1993.

 Về các nơi giáng trần của Thánh Mẫu Liễu Hạnh

+ Giáng trần lần thứ nhất:

Tại hội thảo do UBND huyện Ý Yên và Trung tâm Nghiên cứu Bảo toàn Văn Hóa tín ngưỡng Việt nam dựa trên cơ sở các thư tịch cổ các nhà khoa học khẳng định di tích Phủ Quảng Cung – Thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Huyện Ý Yên chính là nơi ghi dấu cuộc giáng sinh đầu tiên của Thánh mẫu Liễu Hạnh. Tại Phủ Dầy cũng có dâu đối nhắc đến với đôi câu đối chữ hán được tạm dịch như sau:
“Ba kiếp giáng trần, ở Vỉ Nhuế, ở Vân Cát, ở Nga Sơn, Sòng (Sơn) – Lạng (Sơn) – Tây Hồ, hơn năm trăm năm ngời sử sách.
Các triều phong tặng, là Đế nữ, là Đại vương, là Thánh mẫu, là Thánh – Thần – Tiên Phật, ngàn năm vạn thuở rạng non sông”.
Tuy nhiên, Phủ Quảng Nạp lại là một nơi mà theo thánh tích chính là nơi giáng sinh đầu tiên của Thánh mẫu Liễu Hạnh thì lại ít người biết đến
Theo huyền tích lần giáng sinh lần thứ nhất của Mẫu Liễu: Mẫu Liễu lúc đó có tên là Phạm Tiên Nga là con của cụ Phạm Huyền Viên và bà Đoàn Thị Hằng ở thôn Vỉ nhuế, Ý Yên, Nam Định ngày nay.
Phạm Tiên Nga, mất ngày 2 tháng 3 năm Quý tị (1473), khi bà tròn 40 tuổi. Sau khi bà mất nhân dân đã lấp đền thờ tại ngôi nhà cũ – nay là Phủ Đại La Tiên Từ, còn tại quê ngoại của bà cũng được lập đền thờ với tên gọi Phủ Quảng Cung.

+ Giáng trần lần thứ hai:

Vì thương nhớ cha mẹ và quê hương ở cõi trần mà đến thời Lê Thiên Hựu, năm Đinh Tỵ (1557), bà lại giáng sinh lần thứ hai làm con ông Lê Đức Chính ( còn gọi là Lê Thái Công)  và bà Trần Thị Phúc tại thôn An Hải, xã Vân Cát, huyện Thiên Bản, hạt Sơn Nam Hạ (nay là Kim Thái, Vụ Bản, Nam Định, cách quê cũ Vị Nhuế chừng 7 km). Do ông Lê Thái Công nhìn mặt con, thấy nét mặt giống nàng tiên nữ bưng khay rượu trong bữa tiệc chúc thọ Ngọc Hoàng mà ông mơ trước đó nên đặt tên cho con là Lê Giáng Tiên.
Năm 18 tuổi, nàng kết duyên cùng Đào Lang, là con nuôi của một vị quan trí sĩ ở cùng làng, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên, vào đúng ngày, Bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 (1577). Năm ấy, Bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

+ Giáng trần lần thứ 3:

Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi.

+ Những vân du thiên hạ của Mẫu Liễu:

Khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.
– Hóa phép thành cô giá bán hàng ở Đèo Ngang – Quảng Bình với huyền tích cuộc chiến Đèo Ngang. Vì thế ở Đèo Ngang có đền Thờ Liễu Hạnh Công Chúa.
– Sau Đèo Ngang, Thánh mẫu đã vân du ra phía bắc. Tại Đồng Đăng – Lạng Sơn, Mẫu đã gặp Phùng Khắc Khoan cùng nhau xướng họa làm thơ ( Di tích đền Mẫu Đồng Đăng) . Một năm sau, Mẫu gặp lại Phùng Khắc Khoan tại Tây Hồ. (Di tích là Phủ Tây Hồ).
– Năm 1609, Thánh Mẫu tái hợp với Đào Lang – người chông kiếp trước ở Nghệ An. Khi con được 5 tuổi, Mẫu lại được Ngọc Hoàng triệu về tiên giới. (Có tài liệu cho rằng Thánh Mẫu tái hợp với chồng cũ ở Sòng Sơn- Thanh hóa. (Di tích đền Mẫu Sòng Sơn)
–  Do nhớ cõi trần, Mẫu lại xin Ngọc Hoàng trở về cõi trần gian. Lần này, mẫu giáng về Phố Cát. Tại đây đã có cuộc chiến của Mẫu với quân triều đình. Cũng tại đây Mẫu đã quy y cửa Phật.

Đăng bởi

Chầu Bà Đệ Nhất vốn là Quỳnh Hoa Thánh Mẫu là con gái của Vua Khúc Thừa Dụ

Vào thế kỷ thứ 10, đất Hồng Châu có nhà hào trưởng Khúc Thừa Dụ rất thế lực. Nhân khi nhà Đường suy sụp, bọn đô hộ ở nước ta như rắn mất đầu, ông chớp thời cơ, đã dấy binh khởi nghĩa đánh chiếm phủ Tống Bình, tự xưng là Tiết Độ sứ cai quản đất nước, đóng đô ở Tống Bình Đại La (Hà Nội ngày nay), được dân chúng tôn vinh là ông vua Độc lập. Năm Đinh Mão (907), Khúc Thừa Dụ qua đời, con trai là Khúc Hạo nối ngôi cha và cải cách hành chính, xây dựng đất nước.
 
Nhưng ít người biết rằng, Khúc Thừa Dụ còn một người con gái từng được dân chúng tôn thờ là Thánh Mẫu. Đó là Khúc Thị Ngọc (còn gọi là công chúa Quỳnh Hoa), em gái Trung chúa Khúc Hạo. Tương truyền, thuở nhỏ Khúc Thị Ngọc thông minh, ý chí mạnh mẽ hơn người, sớm bộc lộ biệt tài về đầu óc tổ chức. Tuy con nhà gia thế nhưng nàng ham bơi lội, đua thuyền. Trong thời gian cùng sống với cha tại phủ Tống Bình, công chúa Quỳnh Hoa được tham gia bàn kế an dân giữ nước. Từ khi Tiên chúa Khúc Thừa Dụ qua đời, Khúc Hạo thay cha trị vì đất nước, nàng đã xin người anh cho mình được để tâm tìm mưu kế phát triển dân sinh. Tuy là con nhà cành vàng lá ngọc, nhưng công chúa Khúc Thị Ngọc lại là người thuần hậu, thương dân. Bà tự nguyện rời cảnh lầu son về vùng nông thôn, giúp dân nghèo khai phá ruộng sình lầy phía nam thành Đại La, trở thành ruộng vườn, làng mạc, chợ búa sầm uất đông vui. Bà thân chinh đi bảo ban, hướng dẫn dân chúng xây chùa, tu nhân tích đức, sống lương thiện; Trong dân gian có truyền thuyết rằng: Khi ở phủ Tống Bình, một hôm bà đi thuyền dạo chơi Tây Hồ, gặp mưa to, bèn vào chùa Trấn Quốc thỉnh chuông niệm Phật. Tiếng chuông ngân lên thì từ Hồ Tây có con trâu vàng hiện lên năn nỉ xin theo hầu. Bà Khúc Thị Ngọc, xuống thuyền theo dòng Kim ngưu, con trâu vàng rẽ nước băng lên phía trước dẫn lối. Kỳ lạ thay, thuyền bà lướt tới đâu, thì lạch nước thành sông, bãi lầy thành đồng ruộng. Các làng xóm, chợ búa mọc lên theo. Đến khi gặp một làn nước trong mát, bà xuống tắm. Xong rồi bà đi lên gò cao, trút bỏ xiêm y rồi biến. Dải yếm đào bà để lại, đã hóa thành một dải ruộng dài hàng cây số từ thôn Vĩnh Mộ qua thôn Cổ Chất đến thôn Phượng Cù ngày nay.
Sắc phong của Chầu Bà Đệ Nhất Thượng Thiên Thánh Mẫu Quỳnh Hoa Công Chúa tại Lăng Mộ
Unesco chụp cùng con cháu họ Khúc và cộng đồng Căn Đồng Số Lính Việt Nam
Đền thờ bà Chúa dựng trên gò đất cao tại đầu làng Vĩnh Mộ, gần sông Nhuệ, thuộc xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (cũ). Ban đầu, đền chỉ là túp lều tranh, dựng sơ sài, xung quanh là đồng chiêm trũng. Đến khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi, dời đô từ Hoa Lư về La Thành, đổi tên là Thăng Long, vua bèn ban sắc chỉ cho dân chúng trong vùng tôn tạo xây đình chùa. Nhân đó, ba làng Vĩnh Mộ, Cổ Chất và Phương Cù đã xây ngôi miếu lộ thiên hình ngai để thờ Bà. Sang triều Lê, miếu Thánh Mẫu lần đầu tiên được tôn tạo. Nhưng phải đến nhà hậu Lê mới xét công lao và ban sắc phong thần cho Bà, nhưng sắc chỉ đã thất truyền. Trong đền hiện chỉ còn tấm biển sơn son thiếp vàng đề bốn chữ “Lịch triều phong tặng” là dấu tích của lần phong tặng ấy. Nhưng thật may mắn là đền thờ Thánh Mẫu – công chúa Quỳnh Hoa Khúc Thị Ngọc – còn lưu giữ được ba đạo sắc phong của các vua triều Nguyễn. Trong vòng 35 năm, ba vị vua nhà Nguyễn đều sắc phong cho Công chúa Khúc Thị Ngọc là bậc thần và bậc thần tôn kính, càng về sau càng trân trọng. Vua Thành Thái chỉ phong là “Khúc Thị Ngọc công phu nhân chi thần”, nhưng tới vua Duy Tân đã tăng thêm mỹ tự là “Dực bảo trung hưng linh phù Khúc Thị Ngọc công phu nhân tôn thần” (Vị thần đáng tôn kính). Lại đến đời vua Khải Định, sắc phong thêm mỹ tự “Dực bảo trung hưng linh phù Khúc Thị Ngọc công phu nhân tôn thần, hộ quốc tý dân” (nghĩa là Bà chúa linh thiêng đã có công giúp nước che chở bảo vệ dân), đồng thời vua Khải Định còn ra thêm mỹ tự “Trinh uyển tôn thần”, nghĩa là Bà chúa tiết hạnh, thuần hậu, vị thần đáng tôn kính.
Năm 1938, để ghi công đức, sự nghiệp của bà, dân chúng quanh vùng đã cùng trùng tu lớn ngôi đền Thánh mẫu, đồng thời Hội tư văn toàn khu đã làm bài ký, khắc sơn son thiếp vàng và viết bài thơ chữ Hán, khắc lên cuốn thư thật tinh xảo. Bản dịch bài thơ như sau:
Lê triều truyền Thánh tích:
Công chúa tối hiển linh
Sắc đẹp trùm thiên hạ
Duy nhất lòng trung trinh
Muôn năm lừng thắng địa
Ba xã nổi danh thiêng
Xa gần trọng công đức
Phúc tinh sáng một miền.
Đền thờ Chầu Bà Đệ Nhất Thượng Thiên Thánh Mẫu Quỳnh Hoa Công Chúa được tôn tạo gần đây nhất là năm 1995, với ngôi nhà ba gian lợp ngói, có một hậu cung. Trên bệ thờ có khán cổ. Trong khán có tượng Thánh Mẫu, tĩnh tọa trên tòa sen. Ngày 4 tháng 2 năm 2003, tại quyết định số 158/QĐ-UB, UBND Hà Tây đã công nhận đền thờ Công chúa Khúc Thị Ngọc (tức Quỳnh Hoa Thánh Mẫu) là di tích lịch sử văn hóa.
Lưu ý khi về bái yết Chầu Bà Đệ Nhất vì Chầu đã tu theo Phật cho nên:
– Cúng đồ chay không cúng đồ mặn
– Khi hành lễ chỉ được tín chứ không được mê
Đăng bởi

Cô Bé Suối Ngang

   Cô bé Suối Ngang được thờ ở Đền Suối Ngang, xã Phố Vị, Hữu Lũng, Lạng Sơn. Đền Suối Ngang còn gọi là Đền Cô Bé Suối Ngang nằm gần khu tâm linh Bắc Lệ. Đường đến Đền Cô Bé Suối Ngang rất dễ đi, hoàn toàn đi bằng xe ô tô đến tận sân đền. Nếu có dịp đi lễ đền Bắc Lệ, chúng ta nên ghé vào thắp hương đền cô để xin cầu, tài, cầu lộc. 

 

 Đền Cô bé Suối Ngang đã có từ rất lâu, không rõ từ thời nào. Đền Cô đã nhiều lần trùng tu nên đã tố hảo hơn rất nhiều. Tuy nhiên, vẫn giữ được nhiều nét cổ. Đây được coi là một ngôi đền đẹp và linh thiêng.

 Cô Bé Suối Ngang cũng như các cô bé khác trên ngàn đều là Cô bé Thượng Ngàn – chính là cô út trong Tứ Phủ Thánh Cô và đều hầu Mẫu Thượng Ngàn. Các cô bé Thượng Ngàn đều là các bộ nàng trong Cung Sơn Trang.

 Nơi đây là nơi hầu lý tưởng với các thanh đồng sắt căn của Cô bé Thượng Ngàn.

Đăng bởi

Chầu Năm Suối Lân

 Chầu Năm Suối Lân được thờ ở Đền Suối Lân ở Song Hóa, Hữu Lũng, Lạng Sơn. Đây là đền thờ chính của Chầu Năm. Tại đền Suối Lân còn là nơi thờ chính của của Cô Năm Suối Lân

  Thần tích về Chầu Năm Suối Lân

 
 Có tài liệu cho rằng: ” Chầu Năm vốn là người Nùng, dưới thời Lê Trung Hưng theo lệnh vua, chầu trấn giữ cửa rừng Suối Lân bên dòng sông Hóa, coi sóc khắp vùng sông Hóa. Ở đó chầu không chỉ trấn giữ nơi sơn lâm mà còn giúp dân làm ăn, dạy dân đi rừng, làm nương. Sau này, chầu hóa tại đó và hiển linh giúp dân thuần phục mọi loài ác thú, trừ diệt sơn tinh, ma quái. Tương truyền vào những đêm thanh, chầu hiện hình cùng 12 cô hầu cận bẻ lái giữa dòng sông Hóa”.
 
 Nhưng cũng có tài liệu cho rằng: Chầu Năm Suối Lân vốn là công chúa thời Lê Trung Hưng, vốn yêu thiên nhiên nên có xin vua cha lên sơn lâm để hưởng vui thú thanh nhàn. Đến vùng Suối lân cô thấy cảnh đẹp, địa linh nên đã dựng am để tu hành. Sau này, khi cô hóa thì Mẫu đã ban cho cô là Chầu Năm Suối Lân để cai quản vùng đất sơn lâm này. 
 
   Chầu Năm rất ít về ngự đồng.

 
Đăng bởi

Khoa cúng thánh mẫu: Tiêu tai giải ách lợi nhân thiên tích phúc thọ thiên niên.

Hương phụng hiến cúng dàng thập phương, chư phật quan âm Bồ tát, tứ phủ Vạn linh chư vị thánh mẫu công chúa, vị tiền đệ tử kiền tương hương phụng hiến, ngưỡng kỳ uy đức giáng hương duyên, tiêu tai giải ách lợi nhân thiên tích phúc thọ thiên niên.

 
Nam mô hương vân cái Bồ tát ma ha tát (7 lần)
 
Thiết dĩ pháp duyên dĩ biện dụng bằng tinh khiết dĩ trang nghiêm, thành ý tinh kiền dục đại thập phương nhi giám cách. Bằng tư pháp thủy quán sái điện đường, tu trừ phiền não chuyển thanh lương, tảo đăng yêu phân nghiêm tĩnh điện. Tịnh vế chân ngôn cẩn đương trì tụng.
 
– Bích ngọc uyển trung hàm tố nguyệt.
– Lục dương chi thượng tán chân châu
– Kim tương nhất chích sái điện đường
– Cấu uế đàn Tất Thanh Tịnh
 
Án bắc đế tra thiên thần la la địa tra sa hạ (3 lần)
Nam mô li cấu địa Bồ tát ma ha tát (3 lần)
+ Thiết dĩ sắc thân cụ túc bản cư dục giới chi chung, chân tính thường tồn tích tại diệm phù chi Nội. Cung thỉnh, tinh linh đệ nhất thần đức vô song, thiên phủ thiên tiên địa phủ địa tiên, Thủy phủ thủy tiên, tam tòa thánh mẫu chư vị công chúa, Liệt vị anh Linh thị tòng các bộ, chư vị Linh quan, tả hữu phân ban tiền hậu hoàn liệt, trượng thử bảo hương, phổ đồng cúng dàng.
Cẩn tấu vì Việt nam… tỉnh… huyện… xã… thôn…(tên tín chủ đẳng) Kim nguyệt cát nhật, kính thiết lễ đảo, vạn linh, bảo mệnh duyên sinh kỳ an, gia nội, pháp đàn. Nhất duyên, chu viên nhi tán. Nguyện phù bảo ấu dĩ Bình an thử sứ gia môn nhi cát khánh, phục nguyện thiên y sứ giả hộ trì, khí dĩ trường tồn, an lạc tạng vương tỏa tà phong nhi viễn tống, giáo hữu phụng thỉnh chân ngôn cẩn đương trì tụng.
 
– Song bạc vân chu phù liễn hạc
– Phục ngư hải thượng giá tiên lai
– Ngư chuyển động đạt biểu tinh kiên
– Giáng phó pháp duyên an pháp thọ
 
Nam mô bộ bộ đế lý giá lỵ đá lỵ đát đá nga (7 lần)
 
Thượng lai triệu thỉnh chân ngôn tuyên dương dĩ kính túng đẳng kiền thành cẩn đương nghinh thỉnh.
* Nhất tâm phụng thỉnh. Thủ trì đương liễu, tương hiển tên hoa, biểu biểu từ dung càn khôn bất khả, sứ đương lỳ tại, tiêm chiêm tuệ giác, nhật Nguyệt vô dĩ thử kỳ quan tử trúc ơn trung. Ngọc bội kim hoàn nhi tồi xá, Liên hoa tòa tượng, y quan tố phục dĩ trang nghiêm. Cung thỉnh Nam Hải trương sơn Bạch y Quán thế Âm bồ tát. Tịnh cập tả thiện tài âu long lữ Bồ tát.
 
Duy nguyện từ tâm tế khổ giáng phó Điện đường chứng minh công đức.
 
· Nhất tâm phụng thỉnh. Di la hóa cảnh đản giáng ư cực tịnh bang tống ngự huyền đô thủy cung, ư ngọc kinh sơn lượng thí nhân bá đức đại đạo hiếu sinh.
Cung thỉnh thiên phủ chí tôn, hiệu thiên kim quyết Ngọc hoàng Huyền Cung cao thượng đế ngọc bệ hạ, thái thượng tam nguyện tam quan đại đế nhật Nguyệt nhị cung, vi đại đế. Nam tòa bắc đẩu nhị đế thiên, lục thập nhũ chiều tinh quân, chính diệu đại tướng tinh, đai tiên thủy phủ phù cam lâm đại đế tam đầu cửu vĩ bát hải long vương phả tam tứ phủ công đồng, thị tòng bộ chúng.
 
Duy nguyện quang bất xả cảm cách hữu tình quang giáng lên đường chứng minh công đức. Nhang hoa thỉnh.
* Nhất tâm phụng thỉnh hoàng thiên diễn phái ngọc diệp quang, cư thượng giới chí tiên cung, tác nhân gian chi chúa tể. Cung thỉnh đệ nhất thiên tiên cửu trùng thiên thanh công chúa. Lục cung vương mẫu công chúa Ngọc bệ hạ.
Duy nguyện long xa dĩ giá bảo cái khai trương quang sáng điện đường chứng minh công đức.
Nhất tâm phụng thỉnh. Càn khôn vận tạo ly khảm giao tinh nhân lập nghĩa hưng thiên bản. Giáng sinh lê thị ấp cư thái địa linh, đĩnh xuất trần gia trụ thế hưởng tam thập tuế dư, giá phu định phu, thập ngũ kết hôn, giao quang quán nguyệt, diện đối, diện tiếp tiếp trúc tiếp mai, đăn ước bách niên, nhởn cách, nhỡn hề, hề loan hề phượng như cầm, nam nữ giao hoan, nghi gia nghi thất, tựa nan tựa huệ, dị kỳ tường thuy, túc túc mục đoan trang, nãi trí nãi phương, công tắc yêu kiều thần nữ, viết duệ viết trí xưng vi chúa tể Việt Nam, cung thỉnh. Đệ nhị địa tiên thánh mẫu! Quỳnh hoa dung liễu hạnh công chúa, tặng phong chế thắng hòa diện đại vương, tái cấp gia ban mã vàng Bồ tát, tịnh cập địa tiên tùy tòng bộ chúng.
Duy nguyện thừa loan dư chi tập chí, đằng hạc giá dĩ lai lâm thỉnh giáng điện đường chứng minh công đức. Nhang hoa thỉnh.
Nhất tâm phụng thỉnh động đinh thủy nữ đệ nhất long cung hiển hiện hoàng ân, khôi khôi đại đức, biến hình biến tướng, phàm trần nhỡn nhục hạn chi, vi nữ vi nam, ngụ hạ dương gian vãng hiện. Cầu chi tất ứng, cảm dĩ toại thông, cải họa vi tướng, biến tai, tác phúc, đức chi hải ngoại bất ba bất lăng. Thử độ chung viết yết viết thanh tích phúc vinh linh, bảo gia môn hưng vượng. Cung thỉnh! đệ tam thủy tiên, đòng chung bạch ngọc thủy tỉnh xích lân nữ công chúa tịnh cập tùy tùng bộ chúng.
Duy nguyện anh linh tuấn tú, hiển hiện chung linh thu ba đào thấu niệm lôi oanh ly dũng thủy tức gian văn tập thỉnh giáng điện đường chứng minh công đức! Nhang hoa phụng thỉnh!
* Nhất tâm phụng thỉnh anh minh mặc trắc thanh trược thú hề hiện đong hề tây hải chi mê, tận niệm cố quốc tha hương chi di lệ, thanh tân hữu sạ diễm gia vô cùng thanh kỳ trang sử các chi tiểu ban, bạch ngọc cẩm hồng hoa, chi đan kiểu, cảm dĩ toại thông cầu chi tất ứng.
 
Cung thỉnh! đệ tứ nhạc tiên thượng ngàn công chúa, lê mại đại vương diệu tín thiền sư cao sơn thần nữ, diệu nghĩa tàng hình sơn trang công chúa, bắc lệ tam kỳ tuyên quang ỷ la, bảo thắng chân hà liệt vị chúa tiên, sơn nữ sơn gia thánh chúng lai lâm các hạ! phả thịnh thượng thiên chư vị đình thần hoàng thái tử vương quan, địa phủ chư vị đình thần hoàng thái tử vương quan, địa phủ chư vị đình thần hoàn thái tử vương quan, thủy phủ chư vị thần hoàng thái tử vương quan, nhạc chủ chư chư vị đình thần, hoàng thái tử vương quan, nhất thiết đình thần liệt vị vương quan, tùy tòng bộ chúng. Tái thỉnh! thượng thiên chư vị khâm sai công chúa địa tiên, chư vị khâm sai công chúa thủy cung, chư vị chư vị khâm sai nhạc cung, chư vị khâm sai công chúa Quỳnh Hoa, Quế Hoa công chúa Dung hoa thụy hoa công chúa Hồng Hoa lý hoa công chúa, đào hoa bảo hoa công chúa, mai hoa bạch hoa công chúa, quận hoa tài lộc công chúa, cục hoa huệ hoa công chúa, sòng sơn cửu tỉnh công chúa đồi ngang phố cát công chúa, cô đọng đại minh công chúa, cô ân cô ái công chúa, thủ mệnh thủ diện công chúa, chiêu tài tiếp lộc công chúa phả cập tam thập lục bộ tiên làng bát bộ hoa làng, nàng ân, nàng ái nàng mại, nàng loan, nàng đào long liễu, nàng cựu nàng tần, nàng xuân nàng hiển, nàng hiện nàng duy.
Cung thỉnh đệ tam thánh cô! Cửu thỉnh thánh cô sơn trang tiên chúa bát bộ sơn trang, thập nhị tiên nàng đức hoàng quận chư vị các cô, các cậu tả hữu linh quang tùy tòng bộ chúng! Tái thỉnh! hạ ban ngũ dinh đại tướng bạch xà đại ngũ hổ đại tướng quân, đông phương quan thành hổ đại tướng nam phương quan xích hổ đại tướng Tây phương quan xích hổ tại tướng bắc phương quan hắc hổ đại tướng. Cung thỉnh! bản gia thổ công đong phù tào phủ thần quan. Kim niên đương cai (mỗ) thái tuế chí đức tôn thần đương cảnh thành hoàng bản thổ đại vương liệt vị bộ hạ đẳng chúng.Nhang hoa phụng thỉnh!
Duy nguyện bất sả uy quan giáng phó điện đường chứng minh công đức
Thượng lai nghênh thỉnh ký mộc quang lâm an tọa chân ngôn cẩn đương trì tụng.
 
Vân giá phiêu phiêu lai giáng hạ
Uy phong lâm lẫm phó đàn duyên
Nguyện thùy chiếu giám hiển thần công
Giáng phó đàn tràng an vị tọa
 
Nam mô lai vân tập bồ tát ma ha tát (3 lần)
 
Phù dĩ nhất tâm phụng thỉnh thiên quan, địa, quan, thủy quan, nhạc quan, thượng ba, trung ba, hạ ba, đẳng chư linh quan, đồng lai giáng hạ phân ban chỉnh túc khuyến khâm thực nhị tuần sơ khuyết ẩm thực, tam tuần sơ khuyển ẩm thực, sở chí chậm đa lễ vật cụ trần hy thiểu dục linh nghênh sung túc quyết mục già trì, biến thiểu thành đa hóa vô vi hữu, biến thực chân ngôn!
 
Nam mô tát phạ dát tha nga đá phạ rô chì đế an tam bạt tam bạt la hồng (7 lần)
 
Cam lộ thủy chân ngôn Nam – Mô tờ rô bà da, đát tha nga da đát điện tha, án tô rộ bát la tô rô bát la tô rô sa bà ha (7 lần)
 
Phả cúng dàng chân ngôn
Án, nga nga nẵng tam bà phiệt nhật la hộc (7 lần)
Nam mô phả cúng dàng bồ tát ma ha tát
 
* Cúng dàng công đức thù thắng hạnh, vô biên thắng, phúc giai hồi hướng phổ nguyện trầm lịch chư chúng sinh tốc vãng vô lượng quang phật sái, tam phủ công đồng tứ phủ vạn linh thiên đình thủy phủ tiên cô thánh cậu đẳng chúng, tứ sinh cửu hữu đồng đăng hoa tạng huyền môn bát nạn tam đồ cộng nhập tỳ lư tính hải
 
– Tự quy y phật đương nguyện chúng sinh thề giải đại đạo phát vô thượng tâm (1 lễ)
– Tự quy y pháp đương nguyện chúng sinh thâm nhập kinh tạng trí tuệ như hải (1 lễ)
– Tự quy y tăng đương nguyện chúng sinh thống lý đai chúng nhất thiết vô ngại (1 lễ)
 
Hòa nam thánh chúng nguyện dĩ thử công đức phả cập ư nhất thiết ngã đẳng dữ chúng sinh giai công thành phật đạo
Đăng bởi

Đền Kiếp Bạc hay còn có tên chữ là “Kiếp Bạc linh từ”

 Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang thuộc phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang. Đền Kiếp Bạc hay còn có tên chữ là “Kiếp Bạc linh từ” (đền thiêng Kiếp Bạc). Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang thờ Đại Vương Trần Hưng Đạo. Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang nằm sát bên Đền Hạ Tuyên Quang (Đền Mẫu Tam Cờ).
 
Không gian Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang


 Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang nằm trên trên một khu đất cao bên dòng sông Lô. Mặt trước đền nhìn ra dòng sông Lô trong xanh, lờ lững; lưng đền tựa ngọn núi La Sơn tạo thành thế “lưng tựa sơn, tiền hướng thủy”. Một thế vững chắc để trường tồn vĩnh cữu với thời gian.
 Đứng trước cửa đền chúng ta thưởng ngoạn dòng sông uốn khúc  lượn quanh dãy núi Dùm, tạo cho nơi đây một thế đất như “rồng cuộn hổ chầu”. Một thế đất địa linh “sơn kỳ thủy tú”, phong cảnh hữu tình đã làm tôn vẻ thanh tao thoát tục cho đền Kiếp Bạc. Người xưa đã từng nói về vẻ đẹp của ngôi đền qua đôi câu đối:
Thánh địa nguy nga thiên cổ miếu
Uy linh thánh tích vạn niên tồn.
 Tạm dịch: 
Miếu cổ nguy nga muôn đời nơi thánh địa
Thánh tích uy linh vạn năm còn mãi.
 Đền Kiếp Bạc xưa kia chỉ là một ngôi miếu có tên là “Kiếp Bạc linh từ”. Kiếp Bạc Linh Từ  được xây dựng mới gần đây vào thời Gia Long triều Nguyễn (1802 – 1819).
 Vào khoảng năm 1994,  Đền Đền Kiếp Bạc nhỏ như một nhà cấp bốn nằm trên một khu đất nhỏ. Qua hai đợt trùng tu nằm 2004, 2007 Đền Kiếp Bạc mới được tố hảo như ngày hôm nay.
 Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang hiện còn lưu giữ được nhiều đồ tế tự cổ có giá trị như: 2 quả chuông đồng, 13 pho tượng thờ, cùng với 2 bức hoành phi, 2 đôi chân đèn, câu đối, bộ đồ bát bửu.  Đặc biệt Đền Kiếp Bạc Tuyên Quang còn giữ được 4 đạo sắc phong của các triều vua Minh Mệnh thứ 2, Thiệu Trị thứ 4, Tự Đức thứ 3, Khải Định thứ 9
  
 
Đăng bởi

QUAN HOÀNG BẨY

   Quan Hoàng Bẩy được thờ tại đền Bảo Hà, Lao Cai. Quan Hoàng Bảy còn được gọi là Ông Bẩy, Ông Bẩy Bảo Hà, Thánh Ông Hoàng Bảy. Ổng Bảy đươc coi là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông là thứ bảy trong Tứ Phủ Thánh Hoàng nên gọi ông là Ông Bảy.




 Theo truyền thuyết về Quan Hoàng Bẩy

 Vào cuối thời Lê ( Niên hiệu Cảnh Hưng 1740 – 1786 ), ở khắp vùng Phủ Quy Hoá giặc cướp Trung quốc tràn sang cướp phá. Trước tình hình đó Triều đình cử danh tướng họ Nguyễn tức Nguyễn Hoàng Bẩy lên trấn thủ vùng biên ải, tiến dọc theo sông Hồng đánh đuổi quân giặc và củng cố xây dựng Bảo Hà thành một căn cứ quân sự lớn bảo vệ biên cương Tổ quốc.
 Tại đây Quan Hoàng Bẩy tổ chức thành các Thổ Ty, Tù trưởng, luyện tập cho quân sĩ. Ông làm Thống lĩnh cho cả quân Thủy, Quân Bộ tiến đánh Lào Cai, đuổi quân giặc chạy sang vùng Vân Nam.
 
 Sau khi giải phóng Phủ Quy Hoá, Quan Hoàng Bẩy chiêu dụ các Thổ hào địa phương, đón người Dao, người Thổ và đặc biệt là người Nùng áo xanh tới khẩn điền, khai mỏ xây dựng quê hương. Với công đức và chi khí dũng cảm chống giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi, nhiều truyền thuyết dân gian đã ca ngợi Ông. Nhân dân tạc dạ ghi công Ông cho ngàn đời sau. Trong một trận chiến đấu không cân sức với quân xâm lược phương Bắc, viên Tướng thứ Bảy của Triều đình đã anh dũng hy sinh. Xác của Ông trôi theo dòng nườc sông Hồng tới Bảo Hà (Nơi ngôi Đền hiện nay ) thì dạt vào bờ.
Nhân dân trong vùng ngậm ngùi thương nhớ, đưa xác Ông chôn cất tại đây và lập Đền thờ để tưởng nhớ công tích của một người anh hùng. Các Triều Vua Minh Mệnh, Thiệu Trị đã phong tặng Ông danh hiệu ” Trấn an Hiển Liệt “, các Triều nhà Nguyễn sắc phong cho Ông là: Thần Vệ Quốc ” .
Đăng bởi

Quan Hoàng Năm chính là quan thứ năm trong Tứ Phủ Quan Hoàng.

 Có ý kiến cho rằng Quan Hoàng Năm không giáng trần nên không có đền thờ chính. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng Quan Hoàng Năm giáng trần đó là thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Công Chất. Nếu như vậy, Đền Quan Hoàng Năm tức là đền thờ Hoàng Công Chất tại thành Bản Phủ – Thành Phố Điện Biên.



  Quan Hoàng Năm là ai
 
 Quan Hoàng Năm chính là quan thứ năm trong Tứ Phủ Quan Hoàng. Quan Hoàng Năm ngài rất ít giáng đồng nên rất ít người biết về ngài. Các đền phủ cũng ít nơi phối thờ Quan Hoàng Năm.
 Quan Hoàng Năm còn được coi là một viên tướng của Vĩnh Công (tức Vua Cha Bát Hải Động ĐÌnh), và sau này được coi là con của Vua Cha khi ngự trong Tứ Phủ.
 Tuy nhiên, từ bao giờ, từ thời nào coi Quan Hoàng Năm là Tướng Quân Hoàng Công Chất thì chưa thấy có tài liệu nào đề cập. Tướng Quân Hoàng Công Chất cùng thời với Thủ lĩnh nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu – Người được coi là Quan Hoàng Tư Thủy Phủ.

 Tướng Quân Hoàng Công Chất

 Người viết xin trích dẫn một số thông tin về Hoàng Công Chất – Người được coi là Quan Hoàng Năm giáng trần để các bạn tham khảo:
   “Ông là một lãnh tụ nông dân kiệt xuất, dựng cờ khởi nghĩa chống lại triều đình Lê Trịnh cứu dân nghèo vì nghĩa lớn “Bảo Quốc an dân” diệt cường hào ác bá, lấy của giàu chia cho dân nghèo, với hoài bão xoá bỏ bất công, lập lại kỷ cương, phục hưng đất nước thống nhất giang sơn, thái bình muôn thủa.
  Theo Minh đô sử, năm 1739, Hoàng Công Chất và Nguyễn Hữu Cầu đi theo Nguyễn Cừ và Nguyễn Tuyển hoạt động ở vùng Sơn Nam. Sau khi quân Nguyễn Cừ bị đánh bại, Công Chất tụ tập lực lượng riêng tiếp tục hoạt động ở Sơn Nam. Quân khởi nghĩa giỏi thuỷ chiến, thường ra vào nơi cỏ rậm bùn lầy không để lại dấu tích.

 Năm 1740, chúa Trịnh cử các tướng Hoàng Công Kỳ, Phạm Trần Tông mang quân đánh Công Chất ở Công An nhưng không nổi.
 Năm 1743, Công Chất lại chống cự thành công cuộc bao vây của thống lĩnh Trương Nhiêu. Quân triều đình lại buộc phải rút về. Cuối năm đó, chúa Trịnh Doanh sai sứ đi chiêu an, đòi Công Chất phải về yết kiến. Chất cự tuyệt, chiếm giữ phủ Khoái Châu (Hưng Yên). Trịnh Doanh bèn điều Đinh Văn Giai mang đại quân đi dẹp, quân khởi nghĩa thất bại nặng nề ở Đỗ Xá nhưng vẫn giữ được Khoái Châu.
 Năm 1745, quân khởi nghĩa tập kích bắt và giết chết trấn thủ Sơn Nam là Hoàng Công Kỳ. Công Chất mang quân đánh phá các huyện lân cận và phối hợp với quân khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu.

 Năm 1746 và 1748, quân Công Chất phối hợp với quân của Hữu Cầu đánh Sơn Nam và Thăng Long nhưng thất bại. Cuối năm 1748, Trịnh Doanh sai Hoàng Ngũ PhúcPhạm Đình Trọng tấn công vào Mã Não và Hương Nhi, quân khởi nghĩa thua to, Công Chất cùng con là Công Toản đến Mỹ Lương theo thủ lĩnh khởi nghĩa tên là Tương. Sau đó quân của Tương bị đánh tan, cha con Công Chất bỏ chạy vào Thanh Hoá. Triều đình ban thưởng ai bắt được ông thì được tước quận công, hàm tam phẩm. Tuy nhiên năm 1750 ông theo đường núi tiến ra vùng Hưng Hoá.
 Năm 1750, Hoàng Công Chất liên kết với một thủ lĩnh khởi nghĩa giáp biên giới Vân Nam (Trung Quốc) là Thành, quân triều đình do Đinh Văn Thản tới đánh không dẹp nổi. Năm1751, Thản chết, Lê Đình Châu được cử thay. Tháng 6 năm 1751, Lê Đình Châu đánh bại Công Chất và Thành. Thành bị bắt, Chất rút lên động Mãnh Thiên, châu Ninh Biên, tức là Mường Thanh (Điện Biên), xây dựng căn cứ kháng cự lâu dài.
 Tại đây quân khởi nghĩa đã lấy thành Tam Vạn do người Lự xây dựng trước đó (tiếng Thái gọi là Sam Mứn) làm đại bản doanh. Tương truyền tên gọi Tam Vạn là do trong thành có thể chứa 3 vạn quân, có thuyết nói rằng vì trong thành có 3 vạn cối giã gạo. Sau đó nhận thấy thành Tam Vạn ở địa thế bất lợi, Công Chất xây thành Bản Phủ làm căn cứ.

 Hoàng Công Chất rất được lòng dân bản địa. Ông đánh tan quân giặc cướp, phát triển lực lượng ra khắp miền Tây Bắc, chia ruộng cho dân nghèo, lôi kéo những người cầm đầu ở các châu mường.
 Quân khởi nghĩa của Công Chất ngoài người Kinh còn có cả người thiểu số. Người bản xứ gọi ông là “Then Chất” (tiếng Thái là “Thiên Chết”) với ý tôn kính. Trong “Quám tổ Mường” (sử người Thái ở Tây Bắc) gọi ông là “vua Hoàng”. Các tướng dưới quyền Công Chất nổi danh có: Bun Xao, Cầm Phẳn,.anh em Ngải, Khanh, cha con Cầm Tom, Cầm Phanh.
 Quân Công Chất có thời gian phối hợp với lực lượng khởi nghĩa của hoàng thân Lê Duy Mật. Từ Tuần Giáo, Điện Biên trở lên thuộc phạm vi Công Chất, phía nam từ Mộc Châu tới Văn Chấn thuộc Duy Mật.
 Từ động Mãnh Thiên, quân khởi nghĩa đánh ra xung quanh, làm chủ 10 châu Yên Tây, ngày nay thuộc địa bàn Lai Châu và một phần Vân Nam (Trung Quốc). Cuối năm 1767, Công Chất từ Yên Tây đánh xuống chiếm châu Mộc (Sơn La), châu Mai (Hoà Bình), lại chia quân tiến xuống thượng du Thanh Hóa. Các trấn thủ Thanh Hóa, Hưng Hoá cáo cấp, chúa Trịnh Sâm huy động các tướng Trịnh Phưởng, Đinh Văn Phục, Hoàng Đình Thể mang quân đi đánh. Quân Công Chất thua chạy vào Xa Hổ và Nậm Ban.

 Tháng 2 năm 1768Trịnh Sâm cử Nguyễn Đình Huấn và Phạm Ngô Cầu mang quân đánh Mường Thanh. Lê Duy Mật nghe tin bèn điều quân cứu ứng cho Công Chất. Đình Huấn sợ không dám tiến phải rút về.
 Trịnh Sâm bèn giao quân cho Đoàn Nguyễn Thục chia làm nhiều cánh đánh thẳng vào Mường Thanh. Trong lúc chiến sự căng thẳng thì Hoàng Công Chất lâm bệnh qua đời tại căn cứ.
 Con ông là Hoàng Công Toản tiếp tục cầm quân chống Trịnh. Đầu năm 1769, Toản đặt phục binh ở Nậm Cô đón đánh quân Trịnh nhưng thất bại. Nguyễn Phục một mặt đánh Nậm Cô, mặt khác điều quân đánh úp đốt căn cứ thành Bản Phủ. Công Toản chạy về thấy thành mất bèn bỏ trốn, không biết sau đó kết cục ra sao. Sách Đại Nam nhất thống chí chép Toản chạy sang Vân Nam, theo Minh đô sử thì Toản chạy vào Trấn Ninh. Cũng có nguồn cho rằng Hoàng Công Toản chạy sang Vân Nam, sau được an sáp ở Ô Lỗ Mộc Tề (Tân Cương).[1] Ngày nay ở Điện Biên, trong di tích thành Bản Phủ cũ còn miếu thờ Hoàng Công Chất và 6 viên tướng nổi tiếng của ông.

 Đôi điều về các Quan Hoàng ít giáng đồng và là các thủ lĩnh nghĩa quân.

 Chúng ta có thể thấy thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Công Chất được coi là Quan Hoàng Năm. Cùng thời với thời Hoàng Công Chất còn có thủ lĩnh nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu được coi là Quan Hoàng Tư. Còn Quan Hoàng Tám được gán vào Thủ lĩnh nghĩa quân Nùng Chí Cao. Bạn cùng thời với Nùng Chí Cao là An Biên Đại tướng Quân Hoàng Lục, có nơi coi ngài là Quan Hoàng Sáu. Nhưng có tài liệu nói rằng Hoàng Lục chính là họ tên thật của ngài chứ không phải quan Hoàng Sáu nào cả.
Đăng bởi

Đền Mẫu Sòng Sơn là nơi thờ Mẫu Đệ Tam hay còn gọi là Mẫu Thoải

 Đền Mẫu Sòng Sơn nằm ngay cạnh đường 1A thuộc địa phận thị trấn Sòng Sơn, Thanh Hóa. Đền Mẫu Sòng Sơn là nơi thờ Mẫu Đệ Tam hay còn gọi là Mẫu Thoải. Đền Mẫu Sòng Sơn nằm cách đền Cô Chín Sòng Sơn chừng 1 km.

Đền Mâu Sòng Sơn



Lịch sử và thần tích Đền Mẫu Sòng Sơn

 
 Đền Mẫu Sòng Sơn có từ thời Vua Lê Hiển Tông – Thế kỷ 18 với lịch sử gần 300 năm.  Đền Mẫu Sòng Sơn gắn liền với sự tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh hiển thánh.  Đây được coi là một trong các nôi đền linh thiêng nhất xứ Thanh. Thủa xưa, đây là một ngôi đền uy nghi. Tuy nhiên, do thời gian và chiến tranh ngôi đền bị xuống cấp nghiêm trọng. Năm 1998, ngôi đền được trùng tu tôn tại lại với dáng cổ ngày xưa.

Cung thờ Mẫu Thoải mới được xây dựng



 Chuyện rằng: Năm 1939, khi trùng tu đền. thợ xây đã đào được một cái tráp. Trong tráp có có một cuốn sách thời Vĩnh Tộ ( 1619- 1628) đời vua Lê Thần Tông chép lại lịch sử gia đình nữ thần Vân Hương. Ngày xưa, ngôi đền có tên Đền Sùng Sơn có một chiếc cầu đá do một Hoàng Hậu thời Lê Cảnh Hưng xây dựng.

Nơi thờ Đức Trần Hưng Đạo mới được xây dựng
 

 Thần tích về Đền Mẫu Sòng Sơn:  Có một ông lão người làng Cổ Đam, được nữ chúa Vân Hương nhập hồn và lấy một cái gậy cắm xuống đất và truyền cho bà con xây một ngôi đền ở đó. Chiếc gậy, đã bén rễ, đầm chồi. Trước sự linh ứng này, dân làng đã xây dựng ngôi đền theo chỉ dẫn của nữ chúa.

Dòng suối quanh đền luôn róc rách

 

 
  Các cung thờ tại Đền Mẫu Sòng Sơn
 
 Qua công Tam Quan của đền là một sân rộng có tượng Phật Bà Quan Âm. Trong đền có các cung thờ các quan Hoàng, các cô, Đức Thánh Trần Triều, Vua Cha Ngọc Hoàng.

Tượng Phật Bà Quán Âm

 Trong cung cầm thờ Tam Tòa Thánh Mẫu.

 Phía bên ngoài, gần dòng suối trong có cung thờ vọng Cô Chín Sòng Sơn.
 

 

 Sau khi đến thăm đền Mẫu Sòng Sơn , chúng ta có thể đên thăm đền Cô Chín Sòng Sơn cách đó khoảng gần 1 km. Đền Mẫu Sòng, Đền Cô Chín, đền Mẫu Sòng Sơn  tạo thành một quần thể tâm linh Sòng Sơn.

Lầu Cô Chín
 Sau khi thăm quần thể di tích tâm linh này chúng ta có thể tiếp tục vào thăm Khu du lịch tâm linh Hàn Sơn cách đó khoảng 18 km.

Đăng bởi

Quốc Mẫu Tây Thiên khi sinh thời là thiếu nữ tên là Lăng Thị Tiêu, người thôn Đông Lộ, xã Đại Đình ngày nay

 Quần thể du lịch tâm linh Tây Thiên được coi là cái nôi đầu tiên của Phật Giáo Việt Nam bởi Đạo Phật nơi đây đã có từ thời Vua Hùng của nước Văn Lang. Theo Ngọc phả 18 đời Vua Hùng thì  vào đời Vua Hùng thứ VII tức thế kỷ 17 trước công nguyên đã có Tây Thiên Cổ tự (Đền Thượng Tây Thiên ngày nay), còn tài liệu khác cho rằng vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên hai  nhà truyền giáo Ấn Độ là Sona và Uttara thấy vùng đất này linh thiêng nên đã tọa lại nơi đây để hoằng dương Phật Pháp. Như vậy, đạo Phật đã đến Tây Thiên ít nhất trên 2000 năm nay.



 Vào đời Trần thì cùng với Yên Tử, Tây Thiên trở thành một trong hai trung tâm Phật Giáo lớn nhất Việt Nam lúc đó. Hiện nay, di tích còn lại có 3 ngôi chùa cổ: Thiên Ân cổ tự – nằm dưới chân núi, Tây Thiên Thăng Long cổ tự (nay là chùa Phù Nghì) và Tây Thiên cổ tự (chùa Thượng Tây Thiên).

 Đến với khu thắng cảnh tâm linh Tây Thiên là đến với cội nguồn của Đạo Phật Việt Nam. Đây là nơi hội tụ khí thiêng sông núi, là nơi địa linh, linh khí đầy nên thơ và hùng vĩ. Ngày nay Tây Thiên đã trở thành một trung tâm thắng cảnh du lịch tâm linh với một quần thể thờ Phật – Thánh – Thần hết sức sơn thủy hữu tình, linh thiêng huyền ảo giữa rùng núi nguyên sinh bạt ngàn.

Cổng Tam Quan của Khu du lịch tâm linh Tây Thiên
 Ngay khi vừa đến quần thể du lịch tâm linh này chúng ta đã thẫn thờ với cổng Tam Quan rất hoàng tráng, vĩ đại sau đó là Đại Bảo Tháp Mandala được bài trí theo phong cách Ấn Độ. Hiện nay Đại Bảo Tháp tuy chưa hoàn thiện, hồ Hương Thủy tuy chưa hoàn thành nhưng cũng đã đủ sự huyền ảo, thơ mộng và linh thiêng của vùng đất, vùng núi này.
 
   Sau này, khi Đại Bảo Tháp Mandala hoàn thành, Đại bảo Tháp sẽ nằm giữa hồ Hương Thủy tạo thành một Tiểu Vũ trụ gồm mặt trời, mặt trăng, núi Tu Di và bốn châu thiên hạ. Đại Bảo tháp sẽ là trung tâm tích tụ thu hút năng lượng linh thiêng và màu nhiệm của đại vũ trụ. Ngôi bảo tháp sẽ là nguồn cảm hứng giác ngộ, có thể khai mở bồ đề tâm, từ bi trí tuệ đã đóng kín trong chúng ta từ lâu.
  
 


   Chưa hết, Quần thể du lịch văn hóa tâm linh Tây thiên còn đang chuẩn bị đại trùng tu Chùa Phù Nghì. Nếu chùa Phổi Nghì được xây dựng xong sẽ tạo thành một nơi đón nhận năng lượng linh thiêng từ vũ trụ và từ các Chư Phật Bồ Tát giúp cho chúng sinh sự bình an, chấm dứt mọi nỗi đau trong cuộc đời thế tục.
 Như vậy, cùng 3 ngọn núi Thạch Bàn, Phù Nghĩa, Thiên Thị đã tạo ra một nơi hội tụ khí thiêng sông núi, nay còn có thêm Đại Bảo Tháp Mandala, Chùa Phù Nghì hấp thụ năng lượng linh thiêng từ Vũ trụ và năng lượng mầu nhiệm của Chư Vị Bồ Tát, lại còn được phù trợ bởi hồn thiêng sông núi qua của các đền phủ của hệ thống Tứ Phủ và Thần Núi Sông thì nơi đây chắc chắn sẽ trở thành  một chốn tâm linh linh thiêng bậc nhất của nước Việt Nam ta – Một quần thể du lịch tâm linh đắc địa nhất mà không nơi nào sánh được
 
Phối cảnh toàn khu tâm linh Tây Thiên phần dưới chân núi sau khi hoàn thành
  
 Đến với khu danh thắng Tây Thiên chúng ta vừa có một cuộc du lịch với một danh lam, thắng cảnh tuyệt đẹp với núi rừng nguyên sinh mơ mộng, thanh bình; thác nước ào ạt, con suối róc rách, tiếng chim líu lo…chúng ta vừa có cơ hội chiêm ngưỡng những kiệt tác của Phật – Thánh – Thần hòa quyện tạo thành một cõi linh thiêng vô bờ, đầy huyền bí và chan chứa chất thơ.
    Tại khu vực Chùa Thượng ngày xưa, ngày nay đã trở thành một quần thể liên hoàn Phật- Thánh – Thần gồm: Đền Quốc Mẫu Tây Thiên, Đền Tam Tòa Thánh Mẫu, Đền Địa Mẫu, Đền Cô Chín, Miếu Sơn Thần, Đền Thần Núi Tam Đảo và Chùa Tây Thiên, Nhà Tổ chùa Tây Thiên.   
 
 Với thế chân vạc của Đại Bảo Tháp, Chùa Phù Nghì, Quần thể Phật – Thánh – Thần nơi chùa Thượng thì không chỉ thu hút mọi năng lượng linh thiêng và màu nhiệm của vũ trụ và chư vị bồ tát và còn giữ được vượng khí của sông núi Việt Nam tạo nên một dòng chảy năng lượng linh ứng từ bắc xuống nam suốt chiều dài đất nước. 
 Tại khu di tích danh thắng Tây Thiên, tín ngưỡng thờ Mẫu và Phật giáo hòa quyện vào nhau, tạo thành một bầu không khí thanh tịnh, linh thiêng ít nơi nào có được. Những người hành hương tới đây, vì vậy, luôn tin rằng những nguyện ước của mình sẽ được chứng tâm và thành hiện thực. 
  
 
  NÉT ĐẶC BIỆT CỦA CÁC NGÔI CHÙA TÂY THIÊN
 
 Trong khu du lịch tâm linh Tây Thiên có công trình Đại Bảo Tháp Mandala, Nhà tổ chùa Thượng Tây Thiên có một nét đặc biệt ít ngôi chùa nào ở Việt nam có được, đó là nhà chùa có gắn trên tường các bánh xe Kim Luân, hay còn gọi là bánh xe cầu nguyện theo truyền thống Kim Cương Thừa
 
  Chỉ cần quay hay ở gần bánh xe Kim Luân thì chúng ta đã nhận được năng lượng từ trường an lành cực mạnh. Nếu quay bánh xe Kim Luân với bồ đề tâm thì tịnh hóa được bất thiện nghiệp, thậm chí cả các ác nghiệp. Nếu đã đến được Tây Thiên chúng ta chớ bỏ lỡ cơ hội quay bánh xe Kim Luân để giải nghiệp cho bản thân. Khi quay bánh xe Kim Luân nên niệm câu niệm chú:  Úm ma ni bát minh hồng. Mỗi vòng quay một câu niệm.


   Đại Bảo Tháp được xây dựng với một kiến trúc độc đáo phong cách Ấn Độ do đức Pháp Vương GYALWANG DRUKPA gợi ý ý tưởng. Với kiến trúc vòng tròn cho phép chúng ta đi vòng quanh để vừa đi vừa niệm phật. Khi chúng ta đi vòng tròn như vậy chúng ta có thể đẽ dàng hấp thụ được năng lượng vô biên linh thiêng, màu nhiệm của các vũ trụ và các Chư vị Bồ Tát mà Đại bảo Tháp đã hấp thụ được. Đến Đại Bảo Tháp mà không vừa đi vừa trì niệm hay quay bánh xe Kim Luân được vài vòng thì thật là đáng tiếc cho một cơ hội cầu phúc, và bình an.
 
 
  HÀNH TRÌNH “ĐẾN VỚI PHẬT VỀ VỚI MẪU “
 
 Sau khi vượt qua Tam Quan của Khu du lịch thắng cảnh tâm tinh Tây Thiên chúng ta sẽ đến chiêm ngưỡng Đại Bảo tháp Mandala. Tại đây chúng ta sẽ được ngắm một kiệt tác của Đạo Phật. Nhung điều quan trọng là sau khi lễ phật chúng ta nên quay bánh xe Kim Luân để nạp năng lượng và giải nghiệp cho bản thân. Khi năng lượng vũ trũ được nạp đầy trong ta, chúng ta tiếp tục  hành trình  đến Đền Thỏng, chùa Thiên Ân để trình với Quốc Mẫu. Đèn Thỏng và chùa Thiên Ân có phong cảnh tuyệt vời với khuôn viên rộng rải, có ” Cây đa ngàn năm tuổi” sum xuê và uy nghi bên cảnh đền yên bình, thuần khiết.
 Sau khi đặt lễ và thư giãn với không khí nhộn nhịp của đoàn người hành hương về đất phật, đất mẫu chúng ta sẽ ra bến xe điện ngay sát của Thiên Ân để tiếp tục hành trình đến nhà ga Cáp Treo. Trên xe điện chúng ta được ngắm một con đường đầy hoa, ngắm sự hùng vĩ của dẫy Tam Đảo cao vời trong mây và con suối xanh róc rách dưới khe núi. Rời khỏi xe điện chúng ta có một hành trình ngắn đi bộ vừa lắng nghe tiếng nhạc không Phật Giáo du dương vừa thưởng thức những con gió nhẹ thơm hương núi rừng, những cánh chim bay và sắc xanh bạt ngàn của rừng nguyên sinh trùng điệp.
 Trước khi lên ga cáp treo chúng ta hãy đến với Đền Cậu để cầu phúc, cầu lộc. Nhưng nơi đây là nơi rất thiêng và linh ứng cho các bạn trẻ cầu duyên. Đèn Cậu tuy nhỏ nhưng đến với Đền cậu chúng ta được đi qua một dẫy hàng quán che kín tạo ra một không gian huyền bi.
 Sau khi ghé qua thăm Đền Cậu và đã thỏa lòng cầu xin cậu, chúng ta lên ga cấp treo. Từ cáp treo chúng ta có dịp ngắm con đường mòn quanh co, dòng suối lượn quang, thác nước trắng mờ, sắc xanh bạt ngàn, mầu hoa cây cỏ, dây leo chằng chịt…của khu rừng nguyên sinh.
 Xuống ga cáp treo là chúng ta đã đến với quần thể tâm linh tuyệt vời nằm sát nhau dưới tán là của bạt ngàn cây cổ thụ với làn gió mát với không khí trong lành. Bạn sẽ cảm thấy ngực mình căng ra, mọi mệt mỏi tan biến cả. Bạn đã có thể hòa mình vào sự linh thiêng, kỳ bí của vùng núi nguyên sinh đầy vẻ đẹp thơ mộng mà không thể nơi nào có được. 
 Chúng ta có thể lần lượt thăm chùa thượng Tây Thiên, đền Quốc Mẫu, đền Tam tòa Thánh Mẫu, Đền Địa mẫu, đền Cô Chín. Sau đó chúng ta có thể thư thái sang đền thần núi Thanh Sơn Đại Vương.
 Từ đây, sau khi thưởng ngoạn một không gian tâm linh đầy năng lượng vũ trụ chúng ta cảm thấy mình nhẹ bỗng và khỏe khoắn lạ thường. Chúng ta thả hồn vào gió và sự trong lành để xuống núi bằng đôi chân. Con đường nhỏ gập ghềnh và thơ mộng giữa bạt ngàn cây cỏ bên dòng suối róc rách nên thơ sẽ dẫn chúng ta đến chùa Phù Nghì và Đền Cô Bé Tây Thiên. Đó là chặng dừng chân cuối cùng của chuyến hành hương lên núi cao.
 Xuống chân núi, sau khi nghỉ ngơi để nạp lại năng lượng chúng ta tiếp tục hành trình đến với Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên. Một con đường bằng phẳng và quanh co sẽ đưa bạn lên lưng chừng ngọn núi nơi tọa lạc của Thiền Viện. Bạn sẽ thực sự kinh ngạc về một thiền viện cổ kính ẩn mình dưới rừng thông. Một không gian thoáng đãng đầy mơ mộng và huyền bí đem đến cho bạn một năng lượng vũ trụ vô bờ. Bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi tan biến hết. Từ nơi đây bạn có thể phóng tấm mắt ngắm thung lũng nơi có ngôi Đại bảo Tháp Mandala, cổng Tam quan, con đường và quảng trương trước đền Trình và những nhôi nhà nhỏ bé với khói lam chiều.
 Rời khỏi nơi đây, xuống chân núi bạn có thể nghỉ ngơi, ăn uống tại những nhà hàng san sát. Trước khi lên xe rời khỏi chốn linh thiêng này bạn hãy nhớ rằng đừng quên mua làm quà mấy mớ ngọn su su và khoai môn núi cao. Ngọn su su tươi và rất rẻ. Khoai môn ở đây nổi tiếng là thơm và dẻo. 
 Kết thúc hành trình này bạn sẽ có một năm tràn đầy khí thế, sức khỏe và tài lộc.
  
  
MỘT SỐ NGÔI ĐỀN VÀ CHÙA TRONG KHU 
THẮNG CẢNH TÂM LINH TÂY THIÊN
 
 Đền Thỏng

 

 Đền Thỏng có ít nhất từ triều Lê. Đền Thỏng thờ Quốc Mẫu Tây Thiên và đây cũng  là Đền Trình của Quốc Mẫu Tây Thiên. Ngôi đền được đại trùng tu vào năm 1998.
 Đền Thỏng nằm ngay dưới chân núi và là nơi diễn ra các sự kiện chính của Lễ hội Tây Thiên hàng năm với lễ dâng hương, lễ khai hội, lễ tế….  Dưới sân Đền Thỏng là cây đa cổ thụ có biệt danh” Cây Đa ngàn năm tuổi”, một biểu tượng rất đặc trưng của khu danh thắng Tây Thiên. Bên đền Thỏng còn có một ngôi chùa nhỏ rất khang trang, đó là chùa Thiên Ân. ( Xem thêm tại đây: Đền Thỏng Tây Thiên )
 

   Đền Cậu Trường Sinh


 Sau khi qua lễ tại đền Thỏng chúng ta có thể đi xe điện lên chân nhà ga cáp treo sẽ đến thăm đền Cậu. Đền cậu có tên Đền cậu Trường Sinh được trùng tu lớn vào năm 1993.

 Khi lên đền Cậu, ngoài cầu tài, cầu phúc, lộc, thọ thì đền còn là nơi mà các cặp bạn trẻ đến đây để cầu duyên.



   Đền Cô Bé Tây Thiên


 Từ đền Cậu đi thêm khoảng 2km nữa là đến đền Cô. Đền Cô được xây dựng từ rất lâu đời thờ Cô Bé Thượng Ngàn. Đền được trùng tu xây dựng trên nến cũ năm 2009. Hiện nay ngôi đền được thờ Cô Bé Thượng Ngàn (còn gọi là Đền Cô Bé Tây Thiên) đã được phối thờ thành thờ Tứ Phủ Thánh Cô. Cô Bé Tây Thiên là Cô bé bản đền.

Đền Cô Bé Tây Thiên

 Nằm trong khu vực rừng cấm quốc gia nên khung cảnh ở đây tuyệt đẹp, xung quanh đền là các thực vật phong phú và không khí trong lành tạo nên một cảnh sắc thanh nhã, thoáng đãng, yên bình. Bên cạnh đền Cô là suối Giải Oan và một chiếc giếng cổ, rất nhiều khách hành hương từng đến đây đã thừa nhận rằng suối này rất thiêng. Nếu ai lấy nước từ suối hoặc giếng dâng lên cúng rồi uống sẽ thấy trong lòng mình thư thái, thanh thản và tịnh tâm nên đền Cô Bé thu hút được rất nhiều du khách gần xa.


   Đền Thần Núi Tam Đảo


 Đền Thần Núi Tam Đảo thờ Thanh Sơn Đại Vương là thần núi Tam Đảo. Đền Thần núi Tam Đảo nằm trong Quần Thể chùa Thượng

 Thần tích tóm tắt của Thanh Sơn Đại Vương: Năm 1291, trời đại hạn, vua Trần Nhân Tông sai người đi cầu đảo khắp nơi mà trời vẫn không mưa. Đến Tam Đảo thì cầu mưa được ngay. Nhà Vua đã phong cho thần núi Tam Đảo là Thanh Sơn Đại Vương. Sau dó hàng năm nhiều triều đại đã tiếp tục đến đây cầu mưa.  

 Ngôi đền được xây dựng vào năm 2012 để nhớ ơn công ơn của Thanh Sơn Đại Vương.
 
   Đền Quốc Mẫu Tây Thiên


 Theo ngọc phả thời Hùng Vương, Quốc Mẫu Tây Thiên khi sinh thời là thiếu nữ tên là Lăng Thị Tiêu, người thôn Đông Lộ, xã Đại Đình ngày nay. Bà đã có nhân duyên được vua Hùng thứ VII là Chiêu Vương  được tuyển làm Hoàng phi khi nhà vua cầu “Tiên tử” ở núi Tam Đảo. Từ bà đã mở ra một triều đại mới với 7 đời vương kế tiếp nhau là thời kỳ thiên hạ thái bình, xã hội ổn định

 Trong Từ điển Bộ Lễ nhà Lê, bà được xếp thứ hai sau Tản Viên Sơn Thánh, được vinh phong là: “Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu Tối Linh Đại Vương”. Trên núi Thạch Bàn, đền thờ bà tọa lạc cùng với chùa Tây Thiên, nên cũng gọi là đền Thượng Tây Thiên.
 Tương truyền,  khi còn sống, trong nước có loạn giặc Thục, bà có công chiêu mộ binh sĩ, phò vua cứu nước, cứu dân. Khi mất, bà lại thường hiển linh, âm phù giúp các đời vua đánh giặc, giữ nước nên được sắc phong làm Quốc Mẫu.

 Đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên gồm có 4 cung: Hậu Cung thờ Quốc Mẫu Tây Thiên, 3 cung trước thờ Ngọc Nữ ( bên tay trái), Ban Công Đồng (giữa), Tiên Đồng (bên tay phải)