Đăng bởi

Chữ viết Ai Cập

  Từ khi xã hội có giai cấp bắt đầu hình thành, chữ viết ở Ai Cập đã ra đời. Chữ viết của Ai Cập lúc đầu là chữ tượng hình, tức là muốn viết chữ để biểu thị một vật gì thì vẽ hình thù của vật ấy. Vì vậy, nhìn vào các bản chữ viết Ai Cập cổ đại, ta thấy các hình vẽ như người, các loại động vật (chim, gia súc, dã thú, côn trùng), cây cối, mặt trời, mặt trăng, sao nước, núi non…

 
 Đối với các khái niệm trừu tượng hoặc phức tạp thì phải dùng phương pháp mượn ý. Ví dụ muốn viết chữ khát thì vẽ hình con bò đứng bên cạnh chữ nước, chữ chính nghĩa thì vẽ lông đà điểu, vì lông đà điểu hầu như dài bằng nhau. Tuy nhiên, hai phương pháp ấy chưa đủ để ghi mọi khái niệm, vì vậy dần dần xuất hiện những hình vẽ biểu thị âm tiết. Những hình vẽ biểu thị âm tiết này vốn là những chữ biểu thị một từ nhưng đồng âm với âm tiết mà người ta muốn sử dụng. Ví dụ, con mắt trong tiếng Ai Cập là ar, do đó hình con mắt biểu thị âm tiết ar. Dần dần, những chữ chỉ âm tiết biến thành chữ cái, ví dụ “hòn núi nhỏ” đọc là “ca” được dung để biểu thị âm k. Tổng số chữ tượng hình của Ai Cập cổ đại có khoảng 1000 chữ, trong đó số chữ cái có 24 chữ.
Giấy papyrus viết văn tự cho người chết
 Chữ viết cổ của Ai Cập thường được viết trên đá, gỗ, đồ gốm, vải gai, da… nhưng chất liệu dùng để viết phổ biến nhất là giấy papyrus. Vốn là ở hai bên bờ sông Nil có loại cây tên papyrus, người Ai Cập lấy thân loại cây nè chẻ thành từng thanh mỏng, ghép các thanh ấy thành những tờ giấy, ép mỏng rồi phơi khô. Đó là loại giấy sớm nhất thế giới. Do vậy, về sau trong ngôn ngữ nhiều nước châu Âu, giấy được gọi là papier, paper… Để viết trên loại giấy đó, người Ai Cập cổ dùng bút làm bằng thân cây sậy, còn mực thì làm bằng bồ hóng. Loại chữ tượng hình này được dùng trong hơn 3000 năm, sau đó, không còn ai biết đọc loại chữ này nữa.
Giấy cói papyrus
 Năm 1798, Bônapác (tức Napoleon sau này) viễn chinh sang Ai Cập. Tại một địa điểm gần thành phố Rosetta, trong khi đào chiến hào, binh lính Pháp đã phát hiện được một tấm bia, đặt tên là tấm bia Rosetta, trên tấm bia này khắc hai thứ chữ: phần trên khắc chữ Ai Cập cổ, phần dưới khắc chữ Hy Lạp. Ngay sau đó, các học giả tìm cách giải mã thứ chữ đó nhưng kết quả vẫn chưa hơn gì những lần trước. Mãi đến năm 1822, Champollion, một nhà ngôn ngữ học người Pháp 32 tuổi mới tìm được cách đọc thứ chữ này. Chính từ đó, một môn khoa học mới ra đời, đó là môn Ai Cập học. Học giả nhiều nước như Pháp, Đức, Anh… đã nghiên cứu ngôn ngữ Ai Cập, biên soạn sách tiếng Ai Cập cổ, đặc biệt biên soạn cuốn Từ điển tượng hình Ai Cập. Nhờ đọc được chữ Ai Cập cổ, người ta mới biết được nhiều tư liệu quý giá thuộc các lĩnh vực như lịch sử, văn học, thiên văn, toán học…của Ai Cập cổ đại.
 
 
 

Tấm bia Rosetta
H thng ch viết
 Cùng một ký hiệu có thể, tuỳ theo ngữ cảnh, được dịch theo các cách khác nhau: như một tín hiệu ngữ âm (đọc Ngữ âm), như một dấu tốc ký, hay như một biểu tượng (semagram; “từ hạn định“) (đọc Ngữ nghĩa). Từ hạn định không được đọc như một thành phần ngữ âm, nhưng được làm cho dễ hiểu bằng cách phân biệt từ với các từ phát âm giống khác.
Đc ng âm
 
 Các chữ tượng hình được viết từ phải sang trái, từ trái sang phải, hay từ trên xuống dưới, hướng thông thường là từ trái sang phải. Người đọc cần phải xác định hướng của chữ tượng hình để biết thứ tự đọc chính xác. Ví dụ, khi các chữ tượng hình người và động vật quay mặt về phía trái (ví dụ họ nhìn về phía trái), họ phải đọc từ trái sang phải, và ngược lại, ý tưởng là chữ tượng hình quay mặt về nơi bắt đầu dòng chữ.
 Giống nhiều hệ thống chữ viết cổ khác, các từ không được chia tách bởi các khoảng trống hay bởi các dấu chấm câu. Tuy nhiên, một số chữ tượng hình rất thường xuất hiện ở cuối các từ nên có thể nó là các từ phân biệt.
 
Chữ tượng hình thời Graeco-Roman
 Chữ tượng hình Ai Cập gồm 24 dấu hiệu đơn (các biểu tượng thay cho các phụ âm đơn, giống các chữ tiếng Anh). Có thể viết toàn bộ các chữ Ai Cập bằng những dấu hiệu này, nhưng người Ai Cập không bao giờ làm như vậy và không bao giờ đơn giản hoá hệ thống chữ viết phức tạp của họ thành một bảng chữ cái thực sự.
Bảng chữ cái tượng hình

 

Đăng bởi

Hoa hậu Tiểu Vy với nghi thức hầu đồng tại Miss World

Trong phần thi đầu tiên tại Miss World 2018Hoa hậu Tiểu Vy đã lựa chọn thể hiện điệu múa chầu văn – một loại hình nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam.

 

 

  Miss World 2018 đã chính thức khởi động với phần thi đầu tiên “Top of the World” nhằm chọn ra những điệu múa đặc sắc từ các nước để biểu diễn chính tại đêm chung kết. Đến với phần thi này, Hoa hậu Tiểu Vy đã thể hiện điệu múa chầu văn – một loại hình nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam gắn liền với nghi thức hầu đồng – đến với Miss World.  Đây được xem là tiết mục đậm chất văn hoá và khá phức tạp. Tiểu Vy phải tập múa với đuốc nến trên 2 bàn tay, các động tác đòi hỏi sự mềm dẻo, tinh thần, ánh mắt phiêu lãng mang tính chất tâm linh của đạo Mẫu.  “Vy cảm thấy hơi tiếc vì phần đặc sắc nhất trong điệu múa chầu văn này là việc múa với lửa, nhưng để đảm bảo an toàn, ban tổ chức đã hạn chế phần này” – Hoa hậu Tiểu Vy chia sẻ.  Trang phục của Hoa hậu Tiểu Vy cho phần thi này cũng được đánh giá cao. Cô và êkíp trong chuyến công tác Hà Nội đã lặn lội đến các khu phố cổ, các nghệ nhân chuyên may thêu trang phục cho các nghi lễ hầu văn để nhờ tư vấn trang phục.  Sắc xanh của miền rừng núi được thể hiện trên nền gấm có hoa văn tinh xảo sang trọng. Các hoạ tiết cỏ cây, hoa lá và chim công đang múa được thêu bằng chỉ ngũ sắc, chỉ vàng kim tinh xảo để tạo nên sắc màu rực rỡ, bắt mắt cho bộ trang phục.  Năm nay Tiểu Vy được đích thân đạo diễn Hoàng Nhật Nam tư vấn cho tiết mục “Cô đôi thượng ngàn” trên nền ca của ca nương Kiều Anh và dàn nghệ sĩ hát văn cùng dàn nhạc cụ dân tộc độc đáo.  Tiết mục mang đến sự tươi vui, rộn ràng với giá Cô đôi dạo chơi miền rừng núi với muôn thú, cỏ hoa cây trái chốn tiên cảnh.

Đăng bởi

Chè bưởi thơm ngọt mát lành

Bát chè mát lạnh, với cùi bưởi ăn giòn giòn và ngọt mát của đỗ xanh, điểm thêm nước cốt dừa béo ngậy sẽ làm món chè ngon tuyệt cho gia đình bạn.

Nguyên liệu:

2 quả bưởi nhỏ (hoặc 1 quả bưởi to)
200g đỗ xanh đã xát vỏ (khoảng 1 bát)
1/2 bát con đường
1 bát con bột năng
Tinh dầu hoa bưởi
Muối hạt
1 lóng nhỏ phèn chua (bắt buộc dùng)
200ml nước cốt dừa đóng hộp  (khoảng 1 bát)
1 thìa nhỏ muối
2 thìa nhỏ đường
1 thìa nhỏ bột bắp

Cách làm:

1. Bưởi gọt bỏ vỏ xanh bên ngoài, giữ lại phần cùi trắng. Trong khi gọt, không nên gọt sát phần vỏ xanh bên ngoài để cùi bớt đắng.

2. Dùng tay tước bỏ bớt phần xơ bên trong của cùi bưởi, xắt cùi thành từng miếng ngắn.

3. Trộn vào cùi bưởi khoảng 6 thìa canh muối hạt, dùng tay bóp nhẹ, thêm vào khoảng hai bát con nước ấm vào ngâm cùng, dùng bát nhỏ đè lên mặt cùi bưởi để cùi bưởi ngập trong nước muối.

4. Ngâm khoảng 5 – 6 tiếng, sau đó đem xả lại nhiều lần nước cho thật sạch và không còn mặn.

5. Phèn chua tán nhuyễn, thêm khoảng hai bát con nước lọc, đun sôi đến khi phèn chua tan, cho cùi bưởi vào ngâm khoảng 20 phút, vớt ra, xả lại nhiều lần nước cho sạch. Ăn thử cùi bưởi không còn đắng là được.

6. Lấy cùi bưởi ra bạn dùng tay vắt ráo, thái hạt lựu lớn.

7. Trộn vào bát cùi bưởi một nửa phần đường, để từ 5 đến 7 tiếng.

8. Sau đó lăn cùi bưởi qua một nửa bát bột năng để bột năng áo đều khắp miếng cùi bưởi. Đun nồi nước thật sôi thả cùi bưởi vào, đến khi cùi bưởi nổi lên mặt nước thì lấy thìa khấy nhẹ tay.

9. Khi cùi bưởi chuyển sang màu trắng trong thì vớt ra, đổ vào một âu nước lạnh có để sẵn đá lạnh. Vớt ra rổ để riêng cho ráo nước.

10. Trộn lẫn phần nước cốt dừa vào nồi, đun lửa nhỏ, vừa đun vừa khuấy đến khi đặc lại. Nếu không có nước cốt dừa bán sẵn, bạn có thể dùng dừa tươi nạo vắt lấy nước cốt.

11. Đỗ xanh đãi sạch, ngâm đỗ trong nước trước 1 tiếng rồi cho ra rổ, để ráo.

12. Cho đỗ xanh vào nồi hấp, hấp vừa chín tới, không hấp đỗ quá chín nát.

13. Nửa bát con bột năng còn lại, khuấy tan với một phần tư bát con nước lọc.
Đun khoảng hai bát con nước lọc, đun cùng phần đường còn lại. Đun đến khi sôi thì cho cùi bưởi vào đun cùng. Tiếp theo cho bát con bột năng vào, vừa đổ vừa khấy đều cho đến khi thấy nước chè bắt đầu sánh lại đặc.

14. Cho tiếp đỗ xanh vào, khuấy đều ở mức lửa nhỏ, nêm nếm lại tùy theo khẩu vị của bạn. Tắt bếp, thêm tinh dầu hoa bưởi.

15. Múc ra bát, thêm đá bào và chan một ít nước cốt dừa lên bề mặt, dùng lạnh.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Trang trí nội thất để nhà bạn đạt chuẩn phong thủy.

Góc phong thủy: Kết hợp các yếu tố Mộc – Kim – Thổ trong trang trí nội thất

Trong 5 yếu tố của ngũ hành, ngoài Thủy và Hỏa khó định lượng định tính ở dạng vật chất cụ thể, 3 yếu tố còn lại đều là những vật liệu phổ biến dùng trong trang trí nội thất.

Yếu tố Mộc
Mộc thể hiện sức mạnh sáng tạo và sự phát triển, sự sinh sôi, tăng trưởng, linh hoạt và nhạy cảm. Khi nói đến một căn phòng “Mộc” là nói đến những bó hoa tươi tắn, cây cối, hoa cỏ, những vật liệu có nguồn gốc tự nhiên mây tre đan, vải bông và tất nhiên là các đồ đạc bằng gỗ. Khi thiết kế nội thất làm nổi bật yếu tố”Mộc”, cần tận dụng những hình trụ dọc, những đường thẳng, hình lá cây, hoa khô và tươi. Màu của “Mộc” là những màu xanh lá và xanh dương.
Điều cần chú ý là quá nhiều yếu tố “Mộc” sẽ dễ khiến gia chủ cảm thấy ngột ngạt, thậm chí mang đến sự thụ động, thiếu sáng tạo và cứng nhắc quá mức. Ngược lại, nếu không gian sống thiếu yếu tố Mộc sẽ khiến bạn luôn cảm thấy thất vọng, trì trệ và mâu thuẫn trong tư tưởng.
phong thủy, ngũ hành, trang trí nội thất
Thổ
Thổ thể hiện sự mạnh mẽ, bền bỉ và tính ổn định, tác động tích cực đến sức khỏe và tạo cảm giác yên ổn, cân bằng. Yếu tố “Thổ” hiện thân trên mặt đất, phiến đá, đồ sứ, với những gam màu như nâu, xanh hay vàng cát, những hình khối vuông và chữ nhật, bề mặt mỏng và phẳng cùng với những bức tranh phong cảnh.
Nếu dùng quá nhiều yếu tố Thổ trong không gian sống, con người sẽ rơi vào tình trạng nặng nề, buồn tẻ, uể oải, không gian sống trở nên bừa bộn, giao tiếp quen thuộc, bức bối. Còn ngược lại, thiếu yếu tố này sẽ gây nên cảm giác bối rối, hỗn loạn và không tập trung.
Kim
Kim thể hiện sự sự minh bạch, tính logic, vẻ sạch sẽ và cá tính sắc sảo. Hành “Kim” thể hiện ở hình tròn hay ovan và các vật liệu kim loại như sắt, thép, vàng, bạc hay aluminum, những viên đá, màu trắng, ghi, bạc hoặc các gam màu tông vàng nắng, vàng chanh.
phong thủy, ngũ hành, trang trí nội thất
Sự hiện diện của vật liệu bằng kim loại trong một không gian sống sẽ cho ta cảm giác gọn gàng, ngăn nắp. Nhưng khi quá nhiều, sẽ tạo nên cảm giác căng thẳng thái quá, đẩy gia chủ vào tình trạng không có khả năng kiểm soát bản thân. Nếu thiếu sự hiện diện của hành kim sẽ mang đến cảm giác trống trải, thiếu tập trung, mâu thuẫn tình cảm.
Sự kết hợp các yếu tố
Những yếu tố tưởng xung khắc nhau nếu có cách kết hợp hợp lý thì quan hệ tương khắc sẽ trở thành tương hỗ. Mộc khắc Thổ nhưng chậu hoa cây cảnh chính là sự kết hợp kinh điển để mang đến thiên nhiên trong không gian nội thất. Kim khắc Mộc nhưng bàn ghế có khung thép hay chuông gió làm từ thanh trúc và ống kim loại là những đồ dùng tiện ích hiệu quả.
Trong phong thủy, sự hài hòa chính là kết hợp vừa và đủ các yếu tố trong không gian sống sẽ mang lại cảm hứng công việc, sức khỏe, tiền tài và sự hài hòa tình yêu trong đời sống gia chủ.

Đăng bởi

Mẹo trị trẻ khóc đêm

Mình vì có tật…: “LÀM BIẾNG BẨM SINH” nên làm cái gì cũng luôn luôn tìm con đường ngắn nhất. Nhận thấy, thay vì phải làm Bùa, thắt Chỉ , hơi mất công, mình biết cách này rất dễ: KHÔNG CẦN DÙNG BÙA, AI AI CŨNG LÀM ĐƯỢC, VÀ KẾT QUẢ 100%, xin viết ra trình với các bạn:






CÁCH TRỊ TRẺ KHÓC ĐÊM
1/- Mua Hương,Hoa, Trà, Quả cúng Phật, trường hợp không có bàn Thờ Phật, thì sắp lễ vật trên 1 cái bàn, Nghĩ đến bất cứ 1 Vị Phật nào cũng được.
2/-Đặc biệt Hoa phải có đủ 5 loại Hoa, hoặc 5 màu khác nhau. Không dùng Hoa có gai.
3/-Sau khi dâng lễ vật Cúng Phật xong, khi Nhang gần cháy hết, thì lại bàn Thờ Phật thầm Khấn:
-“Cho con xin Hoa của Phật trị trẻ khóc đêm”
Rút ra 5 nhánh Hoa, cầm cành, nhúng Hoa vào ca nước lạnh, xong vỗ 5 đóa Hoa đó trên trán của Trẻ, rồi nói:
-“Ngoan nhé, tối nay ngủ ngon nhé, không được khóc đêm nữa nhé”
Vỗ nhẹ 3 lần vào trán và nói như thế là xong.
Ngay đêm đó trẻ sẽ hết khóc liền.
Cách này tôi đã chỉ cho rất nhiều người tự làm, đều đạt kết quả. Hôm nay xin post lên để chia xẻ với các bạn bốn phương.


Trân Trọng



Đăng bởi

BÀI THUỐC LOẠI TRỪ CHẤT ĐỘC TRONG CƠ THỂ

Bài thuốc này có tác dụng loại bỏ những chất độc trong cơ thể , giúp chúng ta không bị nhiễm độc và phòng chống rất tốt những căn bệnh hiểm nghèo . Ai cũng có chất độc trong cơ thể , đây là bài thuốc loại trừ chất độc đơn giản nhất và hiệu quả nhất mà dienbatn đã gặp và sử dụng . Đặc đểm của bài thuốc này rất rẻ tiền và đơn giản , chừng vài chục ngàn là đã thấy có hiệu quả rõ rệt .

Bài thuốc chỉ gồm có 2 vị : Bách Hoa Xà và Bán Liên chi .


Khi sử dụng , tính theo khối lượng : Bách Hoa Xà 2 phần và bán Liên Chi 1 phần .
Cách dùng : Trong tuần đầu sắc tương đối đặc , uống 3- 4 lần / ngày .
Các tuần sau có thể nấu uống thay nước .
Đặc điểm : Vị thơm , mát rất dễ uống .
Hiệu quả : Thấy rõ rệt , nhất là với những chứng bệnh về gan , ung thư dạ dày , vàng da .
Kiệng cữ : Không cần kiêng cữ gì cả .


Thảo dược chữa ung thư


Không chỉ chữa được viêm da, sỏi mật, viêm gan…, cỏ lưỡi rắn trắng còn giúp phòng trị nhiều loại ung thư. Dân gian từng truyền tụng một bài thuốc chữa ung thư gan hiệu nghiệm được cho là của một tử tù, với 2 cây thuốc là cỏ lưỡi rắn trắng và bán biên liên.


Trong Đông y, cỏ lưỡi rắn trắng có tên là bạch hoa xà thiệt thảo, còn có tên là bồi ngòi bò, xà thiệt thảo, xà châm thảo, long thiệt thảo. Tên khoa học là Hedyotis diffusa Willd, thuộc họ cà phê. Đây là loại cỏ mọc bò, sống hàng năm, có thể cao tới 30-40 cm. Lá mọc đối, hơi thuôn dài, không có cuống lá, có khía răng ở đỉnh. Hoa mọc đơn độc hoặc thành đôi ở kẽ lá, có màu trắng. Quả nang khô dẹt ở đầu, có nhiều hạt màu nâu nhạt. Cây thường mọc hoang nơi đất ẩm ướt. Ngay tại Hà Nội cũng thấy cây này. Nó được dùng toàn cây làm thuốc.


Trong y học cổ truyền, bạch hoa xà thiệt thảo được dùng chữa các bệnh viêm họng, viêm đường tiết niệu, viêm gan, sỏi mật, lỵ trực trùng, mụn nhọt, rôm sảy, rắn cắn; dùng ngoài chữa vết thương, côn trùng đốt, đau lưng, đau khớp… Thời xưa, Tuệ Tĩnh thường dùng nó chữa rắn cắn, sởi…


Theo y học hiện đại, do tăng cường khả năng của đại thực bào trong hệ thống lưới- nội mô và bạch cầu nên bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng chống viêm. Cây này cũng ức chế tế bào ung thư lymphô, bạch cầu hạt và bạch cầu đơn nhân, tế bào carcinom; ức chế hiện tượng gây đột biến do aflatoxin B1 tạo ra. Nó hỗ trợ điều trị bệnh ung thư nhờ tác dụng ức chế miễn dịch. Trung Quốc dùng bạch hoa xà thiệt thảo chữa bệnh ung thư dạ dày, thực quản, cổ tử cung, bàng quang, trực tràng, đại tràng, thực quản, hạch…


Tại Ấn Độ, bạch hoa xà thiệt thảo còn được dùng chữa các bệnh viêm gan virus, sốt, lậu… Tương đồng với y học Ấn Độ, một số nước cũng dùng bạch hoa xà thiệt thảo chữa bệnh viêm gan. Trung Quốc đã bào chế một loại thuốc từ thảo dược với tên Ất can ninh, thành phần có bạch hoa xà thiệt thảo, hoàng kỳ, nhân trần, đảng sâm, hà thủ ô?… Theo các nhà khoa học, Ất can ninh có tác dụng ức chế miễn dịch, ngăn ngừa sự phát triển của virus và phục hồi chức năng gan, có tác dụng tốt trong điều trị bệnh viêm gan virus B. Thảo dược này cũng có mặt trong Lợi đởm thang bên cạnh các thành phần nhân trần, kim tiền thảo, dùng chữa sỏi mật, viêm đường mật ở Trung Quốc.


Trong dân gian, cây chủ yếu được dùng dưới dạng thuốc sắc, có thể dùng tươi hoặc phơi khô. Liều dùng có thể tới 60 g thuốc khô, tương đương với khoảng 250 g dược liệu tươi. Dùng ngoài không kể liều lượng. Ở nước ngoài, bạch hoa xà thiệt thảo còn được bào chế thành dạng thuốc tiêm để chữa các bệnh ung thư và viêm nhiễm như viêm phế quản, viêm phổi, viêm họng, viêm ruột thừa…


Một số bài thuốc Nam đơn giản 


Chữa ung thư gan: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, chó đẻ răng cưa 30 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa ung thư dạ dày: Bạch hoa xà thiệt thảo 60 g, bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 60 g, hạt bo bo 40 g, đường đỏ 40 g. Sắc uống ngày một thang.


Chữa viêm họng: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, bồ công anh 20 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa phù thũng: Bạch hoa xà thiệt thảo 40 g, rễ cỏ tranh 30 g, râu ngô 20 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa viêm gan vàng da: Bạch hoa xà thiệt thảo 60 g, chó đẻ răng cưa 30 g, nhân trần 20 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa sỏi mật: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, kim tiền thảo 20 g, màng trong mề gà sao cách cát cho vàng 16 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Hoặc: Bạch hoa xà thiệt thảo 40 g, nhân trần 40 g, kim tiền thảo 40 g. Sắc uống ngày một thang (lợi đởm hợp tễ). Bài thuốc này đã được Trung Quốc áp dụng trên lâm sàng, có tác dụng lợi mật, tăng bài tiết mật. Thường được áp dụng cho bệnh sỏi mật, bệnh đường mật…


Chữa lỵ trực trùng: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, rau sam 20 g, lá mơ tam thể 20 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa lỵ, viêm phần phụ: Bạch hoa xà thiệt thảo 40 g. Sắc uống ngày một thang. (Phúc kiến trung thảo dược).


Chữa nhọt lở: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, kim ngân hoa 20 g, bồ công anh 20 g, bèo cái 20 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa rôm sảy: Bạch hoa xà thiệt thảo, cúc liên chi dại. Hai vị lượng bằng nhau. Dùng để nấu nước tắm.


Chữa vết thương sưng đau: Bạch hoa xà thiệt thảo 200 g. Sắc uống ngày một thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa mụn nhọt: Bạch hoa xà thiệt thảo 60 g, bồ công anh 20 g, bèo cái 20 g. Sắc uống ngày một thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa rắn cắn: Bạch hoa xà thiệt thảo 100 g, giã nát, cho thêm nước, bã đắp vào chỗ rắn cắn, còn nước uống.

Đăng bởi

Màu sắc là phương tiện mạnh mẽ để truyền tải thông điệp trong các tôn giáo.

Màu sắc đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống chúng ta, chúng là phương tiện mạnh mẽ để truyền tải những thông điệp và ý nghĩa. Khi bạn nhìn thấy màu đen, bạn nghĩ đến điều gì? Cái chết? Tang lễ?
Thật ra câu trả lời phụ thuộc rất nhiều vào nơi bạn đang sinh sống vì có những nơi màu đen không chỉ tượng trưng cho sự mất mát mà chúng còn là đại diện của sự giàu có, sức khỏe và những điều huyền bí. Điều đó có nghĩa là ở những nền văn hóa khác nhau, mỗi màu sắc sẽ được quy định những ý nghĩa khác nhau.
Để tìm hiểu rõ hơn, mời các bạn theo dõi infographic sau đây!
 

 
Đăng bởi

Chữ viết Lưỡng Hà

Chữ viết ở Lưỡng Hà đầu tiên do người Xume sáng lập vào cuối thế kỷ IV TCN. Trong thời kỳ đầu, chữ viết của Lưỡng Hà cũng là chữ tượng hình. Ví dụ, muốn viết các chữ “chim, cá, lúa, nước” thì vẽ hình con chim, con cá, bông lúa, làn sóng. Dần dần, các hình vẽ được đơn giản hóa, tức là không phải vẽ toàn bộ sự vật mà chỉ vẽ một bộ phận tiêu biểu mà thôi. Ví dụ: chữ “trời” chỉ vẽ một ngôi sao, chữ “bò mộng” chỉ vẽ một cái đầu bò với hai cái sừng dài.

Trên cơ sở chữ tượng hình, để biểu thị các khái niệm, động tác… người ta phải dùng phương pháp biểu ý. Ví dụ: muốn viết chữ “khóc” thì vẽ con mắt và nước, “đẻ” thì vẽ chim và trứng, “bò rừng” thì vẽ bò và núi. Lúc đầu, hình cái cày vừa có nghĩa là cái cày, lại có nghĩa là người cày. Để phân biệt, bên cạnh hình cái cầy có thêm hình gỗ thì có nghĩa là cái cày, bên cạnh hình cái cày có thêm hình người thì tức là người cày.

Người ta còn dùng hình vẽ để mượn âm thanh. Ví dụ: muốn viết âm “xum” thì vẽ bó hành, vì bó hành có âm là “xum”. Các hình vẽ chỉ âm tiết còn kết hợp với một số hình khác để phân biệt các khái niệm. Ví dụ: hình bàn chân kết hợp với âm tiết NA là “đi”, hình bàn chân kết hợp BA là “đứng”. Chữ hài thanh còn dùng để biểu đạt nhiều loại từ khác như giới từ, phó từ… Nhờ có chữ hài thanh, số chữ tượng hình càng ngày càng ít đi. Lúc đầu có khoảng 2000 chữ, nhưng đến thời Lagat (thế kỷ XXIX TCN) chỉ còn lại khoảng 600 chữ.

Chất liệu dùng để viết là các tấm đất sét còn ướt và những cái que vót nhọn. Viết trên đất sét chỉ thích hợp với những nét thẳng và ngắn; vì vậy, những nét dài được thay thế bằng những nét ngắn và nét cong thì thay bằng nét thẳng. Ví dụ: Cái đầu bò được thay bằng một hình tam giác đỉnh chúc xuống dưới, phía trên có hai đoạn thẳng biểu thị hai cái sừng. Đồng thời, do dùng que viết trên đất sét nên chỗ mới ấn vào thì nét to, chỗ rút bút ra thì nét nhỏ, do đó các nét đều giống hình cái nêm. Do sự bố trí khác nhau của các nét ấy mà tạo thành các chữ khác nhau. Loại chữ này được gọi là chữ tiết hình tức là chữ hình nêm.

Tổng số chữ tiết hình không đến 600 chữ, trong đó dùng chỉ có 300 chữ, nhưng mỗi chữ thường có vài nghĩa.

Chữ tiết hình cũng do người Xume phát minh, về sau, người Accat, người Babilon, người Atxiri và các tộc khác ở Tây Á cũng dùng chữ tiết hình để viết ngôn ngữ của mình. Đến khoảng năm 1500 TCN, chữ tiết hình thành văn tự ngoại giao quốc tế, ngay Ai Cập khi ký điều ước hoặc các văn kiện ngoại giao cũng dùng loại chữ này. Về sau người Phêxini và người Ba Tư đã cải tiến chữ tiết hình thành vần chữ cái. Tuy nhiên, ở Lưỡng Hà, các tăng lữ, quan tòa và nhà chiêm tinh vẫn dùng chữ tiết hình đến trước, sau công nguyên mới bị chữ phiên âm hoàn toàn thay thế.

Lúc đầu, chữ tiết hình được viết từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Về sau, vì viết như thế có một điều bất tiện là khi viết đến dòng thứ hai thì tay xóa mất dòng thứ nhất vừa viết, vì vậy người ta đổi thành cách viết từ trái sang phải và theo hàng ngang, đồng thời mỗi chữ cũng quay 90 độ. Sau khi viết xong quay tấm đất sét lại thì vẫn thành viết từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Nếu sách gồm nhiều trang thì mỗi tấm phải có tên sách và số trang, đồng thời đầu trang sau phải nhắc lại dòng cuối cùng của trang trước. Sau khi viết xong, muốn bảo tồn lâu dài thì cho vào lửa nung. Loại “giấy” này có ưu điểm là không bị mục nát, mối mọt, không bị cháy, nhưng lại có khuyết điểm là dễ vỡ và quá nặng. Một quyển sách 50 trang thì phải nặng đến 50 kg. Ngày nay, ở Ninnivơ – kinh đô của Atxiri ngày xưa đã phát hiện được trên 20.000 tấm đất sét như vậy, kể cả ở các nơi khác đã phát hiện được mấy trăm ngàn tấm.

Từ cuối thế kỷ XVIII, một học giả Đan Mạch tên là Cacxten Nibua bắt đầu nghiên cứu cách đọc chữ tiết hình trên một minh văn do thương nhân Ý đưa từ Ba Tư về châu Âu nhưng chưa thành công. Năm 1802, một giáo viên trung học người Đức tên là Grotefend đã đọc được hai đoạn minh văn. Grotefend đã đọc được 12 chữ trong bảng vần chữ cái của Ba Tư, về sau được chứng minh là 9 chữ cái trong số đó hoàn toàn chính xác. Như vậy, Grotefend đã đặt cơ sở cho việc đọc chữ tiết hình.

Năm 1835, nhà du lịch người Anh Rawlinson phát hiện được một bản minh văn khắc trên vách đá, cao 4m, dài 20m, gồm 400 hàng. Ông đã bỏ ra mấy năm để chép bản minh văn ấy. Việc đọc chữ tiết hình được tiến triển thêm một bước.

Năm 1857, bốn độc giả đã độc lập nghiên cứu nhưng đã cùng đọc được một đoạn minh văn chữ tiết hình Atxiri. Vì vậy, năm này được coi là năm khai sinh môn Atxiri học. Từ đó, cả kho tàng tư liệu của khu vực Lưỡng Hà thuộc các lĩnh vực văn học, lịch sử, pháp luật, kinh tế, khoa học… được dịch ra ngôn ngữ hiện đại.

Đăng bởi

Dụng Mộc Thuật Phong thủy điều tiết luồng khí cho nhà

Trong Phong thủy, hành Mộc tượng trưng cho mùa xuân, mùa của sự sinh sôi nảy nở, cho phương vị Đông và Đông Nam.

Mộc chủ về Nhân nên rất phù hợp với con người. Hành Mộc thường được sử dụng để điều tiết luồng khí ồ ạt vào nhà, giúp điều hòa khí lan tỏa khắp mơi. Hành Mộc cũng làm giảm bớt tác động của hành Kim và hành Thổ tạo sự cân bằng cho ngôi nhà. Vì vậy, đối với mỗi ngôi nhà, hành Mộc luôn hiện hữu và là biện pháp có tính khả thi nhất để tạo nên Phong thủy tốt cho ngôi nhà.

Hình dạng

Hình dạng đặc trưng cho hành Mộc là hình chữ nhật và những hình đa điện thuôn dài. Nhà đất ở đô thị hiện nay phần lớn đều là hành Mộc. Đối với những căn nhà hình Mộc, chúng ta có thể sử dụng hình thức mái nhọn mang hành Hỏa tạo hình thế Hỏa, Mộc tương sinh. Tuy thế cũng lưu ý không nên thiết kế những mái nhà quá nhọn theo kiểu châu Âu dễ làm tăng khí Hỏa khiến cho tâm lý của người trong nhà không ổn định, hiền hòa. Về kỹ thuật mái nên có độ dốc khoảng 30 độ là vừa phải.

Trong Phong thủy, người ta thường kiêng đặt cầu thang ở giữa nhà. Cầu thang có xu hướng vươn lên cao nên về Ngũ hành thuộc Mộc. Khu vực giữa nhà (trung cung) thuộc Thổ. Vì vậy không nên đặt cầu thang giữa nhà sẽ khiến cho Mộc khắc Thổ không có lợi.

Chất liệu

Một xu hướng đang được ưu chuộng hiện nay là sử dụng những vật liệu gần gũi với thiên nhiên, trong đó những vật liệu thuộc hành Mộc như gỗ, tranh, tre, nứa, lá luôn được ưu tiên. Dùng những vật liệu Mộc không những giúp môi trường sống thân thiện, mộc mạc hơn mà còn tạo nên được các không gian mang phong cách truyền thống.

Tuy vậy, việc sử dụng quá nhiều vật liệu gỗ có thể làm xâm hại môi trường và dễ sinh hỏa hoạn. Phong thủy khuyên nên sử dụng vật liệu Mộc cho những khu vực tiếp xúc với con người hằng ngày và mang tính đối nội. Còn những vật liệu tạo nên bộ khung cơ bản cho ngôi nhà và tiếp xúc với môi trường bên ngoài chúng ta có thể thay thế bằng những vật liệu khác như bê tông, kính, kim loại.

Việc sử dụng những đồ nội thất bằng gỗ sẽ là điểm nhấn dung hòa về kiến trúc và Phong thủy. Bất cứ không gian nào trong nhà chúng ta cũng có thể sử dụng chất liệu gỗ nhằm đem lại cảm giác ấm cúng, gần gũi hơn đối với các thành viên trong gia đình. Từ bếp, phòng ăn, phòng ngủ đến không gian làm việc, khu vực ban thờ đều thích hợp với những vật liệu thuộc Mộc. Đặc biệt đối với những không gian thiên về tư duy sáng tạo thì rất cần bổ sung thêm hành Mộc trong sử dụng vật liệu. Chẳng hạn những tủ sách, bàn đọc sách trong thư phòng nên dùng chất liệu gỗ, sàn có thể lát gỗ để cách âm và tạo sự ấm áp.

Màu sắc

Màu sắc tiêu biểu cho hành Mộc là các màu xanh lá cây, xanh lam, xanh rêu. Dù màu xanh lá cây không phải là màu nguyên thủy nhưng sự hiện diện của nó trong thế giới tự nhiên đã tạo nên một ý nghĩa đặc biệt, dễ làm lan tỏa cảm giác hài hòa, tươi mát và dễ chịu. Trong Phong thủy, màu xanh lá cây còn chỉ cung gia đình và tri thức.

Theo quan niệm Phong thủy hiện đại, Mộc không chỉ bó hẹp bởi những màu xanh mà ngày nay người ta còn dễ dàng nhận ra một không gian của Mộc với những gam màu nồng ấm của chất liệu gỗ, song, mây đã qua xử lý và các chất liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên là chủ yếu. Nhóm màu Mộc này tượng trưng cho sự hòa hợp văn hóa. Sự phối màu một cách tự nhiên, không theo một trật tự nhất định nào của các chất liệu Mộc tạo nên yếu tố hấp dẫn về thị giác và cả xúc giác thông qua việc tiếp xúc với nó trong quá trình sử dụng.

Những mảng xanh trong nhà

Cây xanh tượng trưng cho hành Mộc mang đến sự sinh sôi nảy nở. Việc đưa cây xanh vào nhà vừa tạo điểm nhấn vừa cải thiện môi trường và điều chỉnh các nguồn năng lượng.

Màu xanh của cây lá xuất hiện trong nhà không chỉ mang lại vẻ tươi mát mà còn giúp phục hồi sinh khí cho nơi ở. Vì vậy, cây xanh cho nội thất nên là những loại cây xanh tốt, có nhiều mầm lộc phù hợp với môi trường sống, ít ánh sáng trực tiếp và chịu bóng râm.

21 19 Dụng Mộc theo Thuật Phong thủy để đều tiết luồng khí cho nhà ở

Trong ngôi nhà nên ưu tiên những cây lá to khỏe, nhiều sức sống. Thông thường, các chuyên gia Phong thủy khuyên nên tránh dùng những loại cây thô nhám, xù xì, gai góc. Tuy nhiên, những cây “xấu xí” này thực tế là có khả năng chống lại những năng lượng bất lợi, cho nên chúng lại có thể đặt tại khu vực xấu đối với bản mệnh chủ nhà.

Việc mang cây xanh vào nhà cần quan tâm đến ý nghĩa của nó. Đối với không gian mang tính đối ngoại như phòng khách nên chọn những cân đối, bề thế. Các không gian riêng tư như phòng ngủ, phòng làm việc thiên về tĩnh thì cây xanh chỉ mang tính điểm xuyết nhẹ nhàng và chỉ nên dùng những cây nhỏ nhất là trong không gian phần nhiều mang yếu tố tĩnh như phòng ngủ vì nếu không chúng sẽ hút hết oxy dành cho người.

Cây cối cũng là thước đo trường khí từng không gian nhà ở. Chọn cây phù hợp và chú ý chăm sóc, theo dõi nếu cây bị héo úa hay kém phát triển tức là môi trường sống không tốt nên thay đổi chủng loại cây hoặc kiểm tra lại môi trường xung quanh để điều chỉnh cho phù hợp.

Có thể nói, không gian sống mang tính Mộc luôn có nhiều ưu điểm bởi sự sang trọng và cảm giác rất riêng do màu sắc sơn, chất liệu, đồ vật trang trí mang lại. Sống trong không gian Mộc, con người dường như dễ trải lòng mình hơn, dễ tìm thấy sự thư thái trong tâm hồn, trút hết mọi mệt mỏi, bực dọc, căng thẳng của một ngày bận rộn với những bon chen, lo toan. Tuy nhiên, việc sử dụng quá nhiều hành Mộc dẫn đến sự thiết vắng của các hành khác trong nhà. Phong thủy khuyên chúng ta nên phối hợp một cách hài hòa. Gia chủ cần hiểu rõ nguyên tắc hài hòa trong Ngũ hành, biết cách phối hợp, tương tác giữa Mộc và các hành khác trong quan hệ tổng thể.

Nguồn: Sưu tầm

Đăng bởi

Toán Ai Cập cổ đại

 Do yêu cầu phải đo đạc lại ruộng đất bị nước sông Nile làm ngập và do cần phải tính toán vật liệu trong các công trình xây dựng nên từ sớm, người Ai Cập đã có khá nhiều hiểu biết đáng chú ý về toán học. 
Chữ số tượng hình
 
 Toán học Ai Cập cổ đại được đánh dấu bởi nhân vật truyền thuyết Thoth, người được coi là đã đặt ra mẫu tự Ai Cập, hệ thống chữ số, toán học và thiên văn học, là vị thần của thời gian.




 Từ thời kỳ Hy Lạp hóa, tiếng Hy Lạp  đã thay thế tiếng Ai Cập trong ngôn ngữ viết của các nhà học giả Ai Cập, và từ thời điểm này, toán học Ai Cập hợp nhất với toán học Hy Lạp và Babylon để phát triển toán học Hy Lạp. Nghiên cứu toán học ở Ai Cập sau đó được tiếp tục dưới Đế chế Arab như là một phần của toán học Hồi giáo, khi tiếng Ả Rập trở thành ngôn ngữ viết của các nhà học giả Ai Cập.

Vấn đề đầu tiên của toán học là phép đếm. Người Ai Cập cổ đại ngay từ đầu đã biết dùng phép đếm lấy 10 làm cơ sở (thập tiến vị). Các chữ số cũng được dùng chữ tượng hình để biểu thị nhưng vì không có cơ số 0 nên cách viết chữ số của họ tương đối phức tạp.
Ví dụ: đơn vị: hình nhiều cái que,
 chục: hình một đoạn dây thừng,
 trăm: hình một vòng đoạn dây thừng,
 ngàn: hình cây sậy,
 10 ngàn: hình ngón tay,
 100 ngàn: hình con nòng nọc,
 triệu: hình người giơ hai tay biểu thị kinh ngạc.
Về các phép tính cơ bản, người Ai Cập chỉ mới biết phép cộng và phép trừ. Còn nhân và chia, vì chưa biết bảng nhân nên phải dùng phương pháp cộng và trừ liên tiếp.
 
Giấy cói Moskva
 Văn tự toán học cổ nhất tìm được cho tới nay là giấy cói Moskva, một văn tự bằng giấy cói của Vương quốc giữa Ai Cập vào khoảng 2000—1800 mà ngày nay ta gọi là “bài toán chữ”, rõ ràng là chỉ để giải trí. Một bài toán được coi là quan trọng ở mức nói riêng bởi nó đưa ra phương pháp tìm thể tích của một hình cụt: “Nếu bạn biết: một hình chóp cụt có chiều cao 6, diện tích đáy lớn 4, diện tích đáy nhỏ 2. Bạn sẽ bình phương số 4 này, được 16. Bạn sẽ nhân đôi 4, được 8. Bạn sẽ bình phương 2, được 4. Bạn sẽ cộng 16, 8, và 4 được 28. Bạn sẽ lấy một phần ba của 6, được 2. Bạn nhân 28 với 2 được 56. Và 56 là số bạn cần tìm.”
 Đến thời Trung vương quốc, mầm mống của đại số học đã xuất hiện. Ẩn số x được gọi là “aha” nghĩa là “một đống”, ví dụ một số ngũ cốc chưa biết được số lượng thì gọi là “một đống ngũ cốc”. Người Ai Cập đã biết được cấp số cộng và có lẽ cũng đã biết được cấp số nhân.
 Về hình học, người Ai Cập đã biết cách tính diện tích hình tam giác, diện tích hình cầu, biết được số pi là 3,16, biết tính thể tích hình tháp đáy vuông. Khi giải những bài tóan hình học không gian phục vụ cho việc xây dựng Kim Tự Tháp, họ đã biết vận dụng mầm mống của lượng giác học.
 
 Giấy cọ Rhind (khoảng 1650 TCN) là một văn bản toán học Ai Cập quan trọng khác, một hướng dẫn trong số học và hình học. Cùng với việc đưa ra các công thức diện tích và phương pháp nhân, chia và làm việc với phân số đơn vị, nó cũng chứa các bằng chứng về các kiến thức toán học khác  bao gồm hợp sốsố nguyên tố; trung bình cộng, trung bình nhântrung bình điều hòa; và hiểu biết sơ bộ về sàng Eratosthenessố hoàn hảo. Nó cũng chỉ ra cách giải phương trình tuyến tính bậc một cũng như cấp số cộngcấp số nhân.
 Cũng vậy, ba thành phần hình học có trong giấy cọ Rhind nói đến những kiến thức đơn giản nhất của hình học giải tích: (1) Đầu tiên và quan trọng nhất, làm thế nào để xấp xỉ số π chính xác tới dưới một phần trăm; (2) thứ hai, một cố gắng cổ đại trong việc cầu phương hình tròn; (3) và thứ ba, sự sử dụng sớm nhất từng biết về lượng giác.
 Cuối cùng, giấy cọ Berlin cũng cho thấy người Ai Cập cổ đại có thể giải phương trình đại số bậc hai.

Giấy cọ Rhind


 










Đăng bởi

Sông Nin và Sự hình thành nền văn minh Ai Cập cổ đại

Ai Cập nằm ở Đông Bắc Châu Phi, hạ lưu sông Nin
 Ai Cập cổ đại, hay nền văn minh sông Nin, gắn liền với cư dân sống bên hai bờ sông Nin tại Ai Cập. Dòng sông Nin dài khoảng 6500 km, có bảy nhánh đổ ra Địa Trung Hải, đã tạo ra nơi sản sinh ra một trong các nền văn minh sớm nhất thế giới. Phần hạ lưu sông Nin rộng lớn, giống như hình tam giác dài 700 km, hai bên bờ sông rộng từ 10 km đến 50 km tạo thành một vùng sinh thái ngập nước và bán ngập nước – một đồng bằng phì nhiêu với động thực vật đa dạng và đông đúc.
Hàng năm từ tháng 6 đến tháng 9, nước lũ sông Nin dâng lên làm tràn ngập cả khu đồng bằng rộng lớn và bồi đắp một lượng phù sa khổng lồ, màu mỡ. Các loại thực vật chủ yếu như: đại mạch, tiểu mạch, chà là, sen,… sinh sôi nảy nở quanh năm. Ai Cập cũng có một quần thể động vật đa dạng và phong phú, mang đặc điểm đồng bằng-sa mạc như voi, hươu cao cổ, sư tử, trâu, bò, cá sấu, các loài cá, chim,…
Sông Nin chảy qua Aswan ( phía Nam Ai Cập)
 Tất cả các điều kiện thiên nhiên ưu đãi đã góp phần hình thành nền văn minh Ai Cập sớm nhất. Các ngành nghề như đánh bắt cá, nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp đều phát triển ngay từ 3.000 năm trước Công nguyên. Đặc biệt, các di sản kiến trúc đồ sộ và đạt đến một trình độ vươn lên tầm kỳ quan của thế giới như: các kim tự tháp, các kiệt tác về hội họa, điêu khắc và nghệ thuật ướp xác,…
Mộ cát trên s. Nin có ngôi đền vua Khan
 Tới cách ngày nay khoảng 6000 năm, con người ở đây đã biết sử dụng những công cụ, vũ khí bằng đồng. Công cụ bằng đồng giúp con người ở đây chuyển sang sống chủ yếu nhờ nghề nông, thoát khỏi cuộc sống săn bắn, hái lượm và sớm bước vào xã hội văn minh. Chính vì vậy mà cách đây hơn 2000 năm trước, một nhà sử học Hy Lạp là Hêrôđôt tới thăm Ai Cập đã có một nhận xét rất hay là “ Ai Cập là tặng phẩm của sông Nin”.
 Về mặt dân cư, những cư dân cổ nhất ở lưu vực sông Nin là những thổ dân Châu Phi hình thành trên cơ sở hỗn hợp nhiều bộ lạc. Sau này, một số bộ tộc Hamit (Hamites) từ Tây Á xâm nhập hạ lưu sông Nin. Trải qua một quá trình hỗn hợp lâu dài giữa người Hamit và thổ dân Châu Phi đã hình thành ra những tộc người Ai Cập cổ đại.
Đăng bởi

Tôn giáo Ai Cập cổ đại

Giống như cư dân các quốc gia cổ đại khác, người Ai Cập trong thời kỳ này thờ rất nhiều thứ: các thần tự nhiên, các thần động vật, linh hồn người chết, thần đá, thần lửa, thần cây. Các thần tự nhiên chủ yếu gồm có Thiên thần, Địa thần và Thủy thần.

Thiên thần gọi là thần Nut, là một nữ thần thường được thể hiện thành hình tượng một người đàn bà hoặc một con bò cái. Địa thần là một nam thần gọi là thần Ghép. Thủy thần, tức là thần sông Nil, gọi là thần Odirix. Chính nhờ có vị thần này mà ruộng đồng tươi tốt, bốn mùa thay đổi, cây chết rồi sống lại. Vì vậy, trong các bài thánh ca ngợi thần Odirix có những câu: “Ngài ban ngũ cốc và thực phẩm trên toàn trái đất cho loài người. Ngài làm cho con người no đủ, Ngài hiện hình thành nước”. Ngoài chức năng nói trên, thần Odirix còn được quan niệm  là thần Âm phủ, Diêm Vương.

Cũng như loài người, các thần cũng thường kết hợp với nhau và tạo thành những thần mới.Thần không khí Su chính là kết quả của sự kết hợp giữa Thiên thần Nut và Địa thần Ghép. Về sau, cùng với sự hình thành nhà nước tập quyền trung ương, thần Mặt Trời trở thành vị thần quan trọng nhất.Nơi thờ thần Mặt Trời đầu tiên là thành Iunu, người Hy Lạp gọi là Heliopolix. Thần Mặt Trời ở đây gọi là thần Ra.

Tượng Thần Mặt Trời Helios

“Theo truyền thuyết, thần Ra hiện hình thành một vầng mặt trời xuất hiện từ một đóa hoa sen, từ đó mặt đất mới có ánh sáng. Thần Ra sinh ra thần Nut và thần Ghép. Thần Ghép bị cây cối che phủ, trên mình thần Nut thì đầy tinh tú, những ngôi sao ấy đi thuyền trên thân thể thần Nut. Một hôm thần Ra khóc, từ trong nước mắt của thần Ra đã sinh ra loài người. Đến khi thần Ra già, xương của thần biến thành bạc, thịt của thần biến thành vàng, tóc biến thành đồng. Vì thần Ra đã già nên một số thần và loài người không phục tùng thần Ra nữa. Vì vậy thần Ra sai nữ thần Hato hủy diệt loài người. Khi Hato bắt đầu giết loài người, thần Ra đổi ý, muốn ngăn thần Hato lại. Thần Ra bèn đổ mấy thùng rượu ngon trước mặt Hato, Hato uống say rồi ngủ thiếp đi, do đó loài người được cứu khỏi bị hủy diệt. Sau đó thần Ra cưỡi trên lưng thần Bò bay lên trời”.

Đến thời trung vương quốc, Thebes trở thành kinh đô của cả nước.Vì vậy thần Mặt Trời Amon của Thebes trở thành vị thần cao nhất của Ai Cập. Thời kỳ này, thần Amon cũng được gọi là thần Amon-Ra. Người Ai Cập tin rằng, hằng ngày thần Amon-Ra ngự thuyền vàng đi trên bầu trời, ban đêm thì xuống thế giới dưới đất, sáng sớm lại lên vương quốc ban ngày và chiếu những tia sáng của mình lên mặt đất. Bài thánh ca ca ngợi thần Amon-Ra viết:

“Thần Amon-Ra nhân từ, xin ngài hãy tỉnh lại!

Kẻ thống trị cả hai thế giới, vị thần nhân từ và huy hoàng chói lọi. Khi ngài ngự trên vòm cao, các thần và mọi người đều phải lạy vầng thái dương, kẻ thù của ngày cũng phải quỳ gối trước mặt ngài. Trời đang vui mừng, đất đang hân hoan. Ngài đem lại cho các thần và mọi người niềm vui của ngày lễ hội”.

Đến thời Ichnaton (1424-1388 TCN) thuộc vương triều XVIII thời Tân Vương Quốc, do thế lực của tầng lớp tăng lực thờ thần Amon ở Thebes quá mạnh nên ông đã tiến hành một cuộc cải cách tôn giáo. Ông chủ trương thờ một vị thần Mặt Trời mới gọi là thần Atôn. Thần Atôn được coi là vị thần duy nhất, nên việc thờ cấm các vị thần khác đều bị cấm. Ngoài thần Mặt Trời, người Ai Cập còn thờ thần Mặt Trăng Thoth. Thần Thoth còn được quan niệm là thần văn tự, kế toán và trí tuệ. Thần Mặt Trăng được thể hiện dưới hình tượng một con người đầu chim hồng hạc hoặc đầu khỉ.


Người Ai Cập cổ đại cũng coi trọng việc thờ người chết. Họ quan niệm rằng trong mỗi con người đều có một hình bóng gọi là “can” (linh hồn) hoàn toàn giống người đó như cái bóng ở trong gương. Khi con người mới ra đời thì linh hồn chui vào trong thân thể, khi con người chết thì linh hồn rời khỏi thể xác. Từ đó, linh hồn tồn tại độc lập nhưng con người không thể nhìn thấy, chỉ có thể thấy được trong giấc mộng. Linh hồn tồn tại đến khi thi thể người chết hủy nát thì mới chết hẳn. Nhưng nếu thi thể được bảo tồn thì linh hồn một lúc nào đó sẽ nhập vào thể xác và con người sẽ sống lại. Chính vì quan niệm đó mà người Ai Cập mới có tục ướp xác. “Người Ai Cập cổ đại tin rằng thế giới âm phủ cũng giống như thế giới trần gian, ở đó cũng có sông Nil, thần Ra ngự thuyền đi trên dó. Chúa tể của Âm phủ là thần Odirix. Người mới chết phải chịu sự xét xử của vị thần này. Khi xét xử, thần Odirix ngồi trên ngai vàng, người chết được giải đến trước mặt thần. Thần Tốt và thần Arubix (thần dẫn linh hồn âm phủ) cân quả tim của người chết, đĩa cân bên kia là nữ thần chân lý và chính nghĩa. Nếu người chết có nhiều tội thì trái tim sẽ nặng, lập tức người chết bị một con yêu quái đến ăn thịt”.

Người Ai Cập cổ đại còn thờ nhiều loại động vật từ dã thú, gia súc, chim đến côn trùng như chó sói, cá sấu, rắn, sơn dương, cừu, mèo, hồng hạc, đặc biệt là bò mộng Apix. Ngoài các con vật có thực, người Ai Cập còn thờ các con vật tưởng tượng như phượng hoàng, nhân sư.

“Theo truyền thuyết, phượng hoàng sinh ra từ trong lửa đậu trên một ngọn cây ở Heliopolix (gần Memphix). Tiếng hót của nó hay đến nỗi mặt trời cũng phải lắng nghe. Sáng sớm chính là hiện thân của phượng hoàng được đem dâng cho thần Ra. Đến chiều, khi mặt trời lặn, phượng hoàng chết, sáng hôm sau lại sống lại, lại hót véo von để chào đón bình minh.

Còn nhân sư (Sphynx) là con vật đầu người mình thú. Người Ai Cập tin rằng loài vật này sống trong sa mạc gần đó. Con nhân sư được quan niệm là kẻ bảo vệ đắc lực chống lại mọi thế lực thù địch và hung hãn. Vì vậy, tượng nhân sư thường được đặt trước đền miếu”.

Đăng bởi

Minh chứng cho thời kỳ rực rỡ của văn hoá Đông Sơn. 

Vừa qua, Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam phối hợp với Hội cổ vật Thăng Long; Hà Nội tổ chức trưng bày chuyên đề “Cổ vật Việt Nam” gồm hơn 50 cổ vật tiêu biểu, đặc sắc, được chọn lựa kỹ lưỡng từ bộ sưu tập của các cá nhân và Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam. “Cổ vật Việt Nam” gồm nhiều hiện vật làm từ các chất liệu vàng, bạc, đồng, gốm… có niên đại từ văn hoá Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2.500 năm tới thời các chúa Nguyễn (1533 – 1777). Cổ vật phong phú, làm bằng đồng như trống đồng, ấm, chuông, thạp, chân đèn, bình, bát, muôi, chóe… Gốm có gốm men nâu, men trắng, hoa, màu, hoa lam, men lục… Trưng bày chuyên đề mở đầu bằng các cổ vật, trống đồng Đông Sơn, công cụ đồng, tượng người và thú, dao gắn đồng, muôi đồng, đèn đồng… minh chứng cho thời kỳ rực rỡ của văn hoá Đông Sơn.

Kendy gốm thế kỷ V-VII.

Kendy gốm thế kỷ VI – VIII.

Chân đèn hình người chất liệu đồng thế kỷ IV – VI.

Nắp đồ đựng, chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bình chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nắp đồ đựng, chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nồi chất liệu bằng gốm, niên đại trước Công nguyên.

Lọ chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bát bồng chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nắp đồ đựng chất liệu gốm, thế kỷ I – II.

Năm 1924, nhiều cổ vật bằng đồng được phát hiện ở làng Đông Sơn bên bờ sông Mã, tỉnh Thanh Hóa. Sự phong phú về các loại đồ đồng ở đây cho thấy kỹ thuật luyện đồng hàng nghìn năm trước, từ nghệ thuật trang trí trên trống đồng Đông Sơn đến công cụ bằng đồng gắn với tôn giáo, tín ngưỡng cổ truyền như thần mặt trời, thần núi, thần sông, thổ sinh, thực khí, ma thuật…; thiên nhiên chan hòa với con người, cỏ cây, hoa lá, muông thú.., Đồ gốm Đông Sơn sử dụng bàn xoay, hình dáng phong phú, bố cục đối xứng ngang dọc xen kẽ. Những chiếc đèn lồng có hình người, hình thú, tượng thú, phản ánh sự tồn tại của thần linh, quan niệm tín ngưỡng thời kỳ Đông Sơn và bản sắc văn hóa, nghệ thuật Lạc Việt không bị đồng hoá bởi ách đô hộ của các triều đình phương Bắc. Mỹ thuật ứng dụng Đông Sơn được các nhà nghiên cứu văn hoá đánh giá là huy hoàng nhất giai đoạn mỹ thuật thời tiền sơ sử Việt Nam và Đông Nam Á.

Tượng thần Brahama, niên đại thế kỷ XII – XIII.

Đồ gốm niên đại thế kỷ IV – VI.

Bát bồng chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bia đá thế kỷ XI.

Tượng Phật bằng gỗ, niên đại thế kỷ VI – VII.

Tượng Phật bằng gỗ, niên đại thế kỷ IV – VI.

Ngoài cổ vật văn hoá Đông Sơn, khách tham quan còn được khám phá nghệ thuật gốm cổ Việt qua nhiều thế kỷ, từ thời Lý (1010 – 1225), Trần (1225 – 1400), Lê Sơ (1428 – 1527), Mạc (1527 – 1592) tới Lê Trung Hưng (1533 – 1789). Vào thời Lý (1010 – 1225) thịnh hành các loại gốm men ngọc, gốm hoa nâu, gốm trắng, gốm men đen, sứ màu nâu sậm. Thời Trần (1225 – 1400) bên cạnh loại gốm men ngọc, hoa nâu còn xuất hiện gốm hoa lam. Gốm men ngọc thuộc hàng cổ vật tiêu biểu của gốm thời Lý, Trần với màu men xanh lá cây từ sẫm đến vàng nhạt, xương gốm trắng mịn, hoa văn trang trí chạm chìm hoặc đắp nổi. “ Thạp gốm hoa nâu” thời Lý, Trần kế tục nhau trở thành loại gốm nổi tiếng. Đặc biệt, có sự kết hợp giữa các thủ pháp nghệ thuật điêu khắc với nghệ thuật phối hợp kỹ thuật men và màu tạo nên vẻ đẹp gốm hoa nâu. Các cổ vật gốm hoa lam thế kỷ XV – XVII làm từ đất sét trắng mịn, nung gần chảy nên xương cứng. Nét vẽ tay bằng bút lông trên sản phẩm đồ thờ cúng tạo sự khoáng đạt, thông thoáng, không lệ thuộc vào các hình mẫu tả thực. Sự phát triển rực rỡ của gốm sứ giai đoạn này đưa sản phẩm gốm sứ Việt theo con đường tơ lụa xuất đi nhiều quốc gia trên thế giới. Đến thời nhà Nguyễn (1802 – 1945), pháp lam Huế, một loại hình trang trí, đã được dùng để gọi tên cho kỹ nghệ chế tác pháp lam ở Việt Nam, khẳng định dấu ấn sáng tạo của người Việt, của văn hoá Việt Nam, minh chứng cho nền kinh tế – chính trị những năm độc lập, tự chủ thời Nguyễn. Hiện vật cặp bình choé có nắp đồng pháp lam, hiệu “Minh Mạng niên chế” (1820 – 1840) trang trí đa dạng với các đồ án từ hoa lá, tứ linh, bát bửu, sơn thuỷ, màu sắc phong phú, phối màu hợp lý, tinh tế.

Nhẫn chất liệu vàng, niên đại thế lỷ III – VII.

Hạt chuỗi chất liệu vàng, niên đại trước Công nguyên.

Lá dập nổi hình mặt người, chất liệu vàng, niên đại trước Công nguyên.

Một góc trưng bày chuyên đề ‘Cổ vật Việt Nam’.

Nghề kim hoàn truyền thống Việt Namnổi tiếng với các kỹ thuật chạm, đậu, trơn, đạt đến độ tinh xảo. Kĩ thuật chạm thể hiện sự khéo léo, đạt đến tầm nghệ thuật qua phương pháp chạm trổ những hình vẽ hoa văn trên mặt đồ vàng, bạc. Kĩ thuật đậu là kéo vàng, bạc, rồi uốn ghép thành hình hoa lá, chim muông gắn lên đồ trang sức. Kĩ thuật trơn chuyên đánh vàng, bạc thành những đồ trang sức không cần chạm trổ. Bộ sưu tập đồ trang sức vàng, bạc thời các chúa Nguyễn trưng bày gồm: vòng tay, trâm cài, vòng cổ, nhẫn.., được sưu tập 5 năm trước và đây là lần đầu tiên trưng bày, giới thiệu tới công chúng Thủ đô. Các hiện vật quý giá được trưng bày trong chuyên đề ‘Cổ vật Việt Nam’ góp phần giới thiệu tới công chúng trong nước, bạn bè quốc tế những nét tinh hoa, giá trị lịch sử cũng như văn hóa đặc sắc của Việt Nam./.

Đăng bởi

Huyền thoại kho báu Hoàng cung Vua Hàm Nghi

Đó là kho báu mà theo truyền miệng là do vua Hàm Nghi chôn giấu ở một địa điểm bí mật sau ngày kinh đô Huế thất thủ vào 5.7.1885.

Tô men rạn “lưỡng long tranh châu” thời Gia Long ảnh tài liệu của nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn – Giao Hưởng chụp. Người ta trưng ra bằng chứng về một nhà truyền giáo người Pháp là Henri de Pirey, đã viết trên tạp chí B.A.V.H (Bulletin des amis du vieux Hué – 1914) rằng khi rút khỏi kinh thành Huế, vua Hàm Nghi đã chuyển kho báu của hoàng cung đến phía bắc. Kho báu này ước chừng 950 thùng, trong đó có 400 thùng đựng đầy vàng và 150 thùng đựng đầy bạc, số còn lại là các đồ quý giá nhất trong nước, nhưng vì chiến cuộc nên nhà vua chỉ mang theo được 100 thùng mà thôi. Không lâu sau, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt, đày sang đảo Réunion, số vàng của vua chôn giấu nơi đâu?

Điếu hút thuốc lào thời Gia Long, vẽ chim hạc và cành mai. Nhiều người đặt câu hỏi như thế và lên đường tìm kiếm. Nhưng họ quên rằng hoặc không biết, trong suốt 3 tuần lễ sau ngày vua Hàm Nghi ra đi, phần lớn kho báu trong hoàng thành đã lọt vào tay người Pháp. Điều đó được ghi nhận qua tài liệu lưu trữ ở Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp tại Paris, với lời kể của linh mục Pène-Siefert, cho biết người Pháp đã lấy trong trại Cấm Vệ quân 113 lạng vàng, 742 lạng bạc, 2.627 quan tiền. Lấy tại cung bà thái hậu Từ Dũ 228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương và hạt trai, hạt ngọc; 271 vật dụng bằng vàng, 1.258 nén bạc, 3.416 lạng vàng. Họ cũng lấy hết vật phẩm của các tiên đế nhà Nguyễn dùng lúc sinh thời từ mũ miện, đai áo, triều phục, long sàng, đến các đỉnh trầm, khay chén… Tính ra “kho tàng trong hoàng cung đã mất đi ước chừng 24 triệu quan vàng và bạc”. 

Tô có nắp (tiềm quy giáp) vẽ mai rùa và rồng thời Minh Mạng. Cuộc thất thoát kho báu của các vua triều Nguyễn kéo dài 2 tháng sau ngày kinh đô Huế bị thất thủ bởi người Pháp vào tháng 7.1885 đã gây tai tiếng hơn cả cuộc cướp phá lâu đài của hoàng đế nhà Thanh ở Bắc Kinh. Sau này vua Đồng Khánh nhiều lần đòi lại kho báu đã bị người Pháp lấy đi như biên bản ngày 21.3.1888 của Pháp đã ghi: “Trở lại chuyện đã bàn trước đây, hoàng thượng (vua Đồng Khánh) nhắc rằng các vật phẩm quý giá của hoàng gia bị thất thoát sau biến cố ngày 5.7 và chắc chắn hiện giờ đang nằm trên đất Pháp, giá trị nhất là chuỗi kim cương kết lại từ đời vua Gia Long cho tới đời vua Tự Đức, cùng một bảo kiếm nạm ngọc quý truyền lại từ đời vua Gia Long”.

Bình hoa lớn vẽ mai rùa và rồng giỡn ngọc (long hí châu) thời Minh Mạng. Một trong những vật ấn tượng trong kho báu hoàng cung là con voi bằng vàng đúc rất tinh xảo, đã bị hai người Pháp có trọng trách tranh giành về riêng mình. Để rồi cuối cùng con voi vàng (kim tượng) là báu vật truyền đời kia bị chặt ra làm hai để chia cho hai đại diện thực dân Pháp mỗi người một nửa! Đó không phải là lời đồn của binh lính người Pháp hoặc quan chức người Việt, mà được ghi trong một báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ Paul Rheinart gửi Toàn quyền Đông Dương Richaud ngày 28.2.1889 kèm theo lời phàn nàn: ‘Điều buồn lòng song vẫn phải nhắc lại là thiếu tướng Prudhomme đã chiếm đoạt những vật phẩm quý báu một cách không do dự (…), và điều đáng tiếc nữa là không có ai đem trả lại phần nào trong những của cải vô giá mà họ đã tước đoạt trắng trợn”.  Các chi tiết trên phần lớn nằm trong tài liệu lưu trữ ở Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp – Paris (chưa xuất bản) được sưu tầm, trích dẫn, dịch thuật bởi Nguyễn Xuân Thọ, Nguyễn Ngọc Cư và do nhà nghiên cứu Phan Thuận An giới thiệu qua tài liệu về các bảo vật ở hoàng cung, đăng trong Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn do Sở Khoa học – Công nghệ – Môi trường Thừa Thiên-Huế kết hợp với Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế ấn hành (tháng 7.2002).  Theo tài liệu trên, sau ngày vua Hàm Nghi đi đày, hoàng cung còn giữ lại nhiều bảo vật vô giá như những bửu tỷ bằng vàng khối có cái nặng đến 18 kg, ngọc điệp nhà Nguyễn, những chiếc độc bình lớn bằng men lam Huế (bluers de Hue), các tủ chạm cẩn xà cừ, các ché lớn thời Minh và các ché màu lục nhạt (céladon), các đĩa lớn đường kính 55 cm màu hồ thủy đẹp tuyệt vời./.

Bình vôi thế kỷ 19 

Ngay cả những nhà sưu tập và nghiên cứu ngôn ngữ học nước ngoài như Paul Boudet – là chứng nhân thời ấy – đã cho biết rằng, lúc bấy giờ ở điện Càn Thành (điện Trung Hòa) “vẫn còn 26 quyển kim sách đúc bằng vàng chứa đựng các chi tiết được ghi lại về lễ đăng quang của các vua Gia Long, Thiệu Trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, Đồng Khánh, Khải Định, những điều liên quan đến lễ tuyên phong cho các hoàng hậu và các hoàng thái tử” và 46 cái ấn bằng ngọc hoặc bằng vàng. Nay những bảo vật trên hầu như đã không còn và lưu lạc khỏi kinh thành Huế, thất tán khắp bốn phương trời…

Đĩa vẽ chim công và hoa mẫu đơn, ký kiểu tại Anh thế kỷ 19
Bức tranh của vị hoàng đế đi đày

Đồ sứ do Bảo Đại đặt làm tại Pháp có thơ và minh họa theo truyện Kiều: 

“Khi gió gác khi trăng sân
 Bầu tiên chuốc rượu
Càng thần nỗi thơ…”

Tháng 11.2010, một tác phẩm hội họa của vua Hàm Nghi, lần đầu tiên được đem ra bán đấu giá tại Paris (Pháp). Bức sơn dầu Déclin du jour (Chiều tà) này có kích thước 35 x 46 cm, ghi là vẽ năm 1915. Lúc đó cựu hoàng ở Alger (Algérie), sống và sáng tác tranh tượng tại biệt thự Gia Long, khu El Biar. Theo quy định pháp luật, bảo vật quốc gia phải thể hiện là vật chứng của một sự kiện lớn, hoặc gắn bó với các anh hùng danh nhân, từ đó có thể nói bức tranh Déclin du jour của vua Hàm Nghi là một bảo vật. Cuộc bán đấu giá bảo vật ấy được Mathilde Tuyết Trân – một người Việt sinh sống ở nước ngoài – kể lại giá khởi đầu ấn định từ 800 – 1.200 euro. Chỉ trong vài phút giá tăng liên tục đến 4.500. Đến khi những người Việt Namcó mặt trong phòng đấu giá trả tới 5.000 euro, thì “bắt đầu có người cho giá qua điện thoại, họ thêm ngay 1.000 euro, đẩy giá tấm tranh lên 6.000 euro. Từ đó cuộc đấu giá “tay đôi” giữa hai người phụ nữ trong phòng và người đẩy giá qua điện thoại diễn ra”. Theo Mathilde Tuyết Trân, con số đã đẩy đến mức 8.800 euro cộng thêm 26% phụ phí đấu giá, thành mức tiền phải trả cuối cùng là 11.088 euro – gấp 8 lần giá ban đầu. Điều đó đã “thể hiện tình cảm đối với một kỷ vật của vua Hàm Nghi (…) tình cảm những người có lòng với quê hương và quá khứ lịch sử”.

GIAO HƯỞNG


Theo n.news.yahoo.com

Đăng bởi

Niết Bàn là SỰ DIỆT KHỔ MÃI MẢI

Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của Sự Diệt Khổ (Dukkha-Nirodha) mà thường được hiểu là Niết bàn. Nghĩa theo từ nguyên của Nirvàna (Sanskrit) được giải thích là ni + vàna, thoát khỏi tham ái, dứt trừ tham ái, hoặc nir + và, ngừng thổi hay bị dập tắt.

Mặc dù những ý nghĩa theo từ nguyên của Pàli và Sanskrit này có thể giúp chúng ta hiểu được danh từ, nhưng nó không giúp chúng ta chứng nghiệm được hạnh phúc của Niết bàn. Sự chứng đắc, như chúng ta sẽ thấy trong phát xuất từ Giới (Sìla), Ðịnh (Samàdhi) và Tuệ (Pannà). Niết bàn là một Pháp (Dhamma), một kinh nghiệm rất khó có thể giải thích vì tính chất tế vi của nó. Niết bàn thường được hiểu là pháp siêu thế (Lokuttara), tuyệt đối, vô vi (Asamkhata). Niết bàn được bậc trí chứng đắc, tự mỗi người ngộ lấy cho chính mình.

Nói gì đến Niết bàn, một điều rất đơn giản như vị ngọt của đường còn không thể giải thích cho người chưa từng có kinh nghiệm trước đây hiểu được về nó, bằng cách khuyên họ đọc một cuốn sách phân tích thành phần hóa học của đường. Thế nhưng nếu họ chỉ cần bỏ một chút đường vào lưỡi, lập tức họ sẽ cảm nhận được vị ngọt và lúc ấy lý thuyết về đường đâu cần nữa.

“Niết bàn là gì?” là một câu hỏi mà dù là Phật tử hay không phải Phật tử cũng thích hỏi ngay từ đầu. Ðây không phải là vấn đề của ngày hôm nay hay hôm qua. Có thể người ta đã đưa ra những câu trả lời rất thông minh và Niết bàn đã được giải thích bằng những từ ngữ hết sức tán tụng, thế nhưng lý thuyết nhiều bao nhiêu cũng không đưa chúng ta gần đến Niết bàn chút nào cả, vì nó vượt ngoài phạm trù của ngôn ngữ và lý luận (Atakkàvacara). Có lẽ an toàn hơn và dễ dàng hơn là nói về những gì Niết bàn không phải là, vì nó không thể dùng ngôn từ để diễn đạt. Niết bàn là pháp không thể mô tả cũng như không thể truyền đạt được. Trong sự cố gắng của chúng ta nhằm giải thích Niết bàn, chúng ta đã dùng những ngôn từ có ý nghĩa hạn chế, những từ liên quan đến thế gian, trong khi đó Niết bàn, chân lý tuyệt đối chỉ được chứng đắc qua việc tu tập tăng thượng tâm và tuệ, vượt qua bất kỳ kinh nghiệm thế gian nào và ngôn ngữ cũng không vươn đến được. Thế thì tại sao lại phải viết về Niết bàn? Sở dĩ phải viết là để ngăn ngừa những sự hiểu lầm về chân lý Niết bàn của đạo Phật mà thôi.

Ðức Phật nói: “Này các Tỳ kheo, Như Lai nghĩ rằng Pháp (Dhamma) mà Như Lai đã chứng ngộ này thật sâu xa, khó thấy, khó hiểu, an lạc và cao thượng, vượt ngoài lý luận, vi diệu và chỉ có bậc trí mới có thể hiểu được. Còn phàm nhân này thì thích thú, đam mê và hân hoan trong dục lạc, thật khó thấy được pháp duyên khởi, pháp tùy thuộc phát sanh này. Họ cũng khó thấy được sự an tịnh các pháp hữu vi này, khó từ bỏ mọi sanh y, ái diệt và ly dục, đoạn diệt, Niết bàn. Nếu nay Như Lai giảng pháp mà mọi người lại không hiểu Như Lai, thì thật là một điều khó cho Như Lai, một điều vô ích cho Như Lai”.

Từ lời tuyên bố trên của Ðức Phật đã cho thấy rõ là sự đoạn diệt tham ái (tức Niết bàn) là khó thấy và khó hiểu.

Khi giải thích về Thánh Ðế thứ ba trong bài pháp đầu tiên của mình, Ðức Phật nói: “Này các Tỳ kheo, đây là Thánh Ðế về sự diệt khổ: chính là sự đoạn tận (niro-dho), là xả ly (càgo), thoát ly (patinissaggo), giải thoát (mutti) và không chấp trước (anàlayo) khát ái ấy”[1].

Mặc dù trong định nghĩa này, từ Niết bàn không được đề cập đến, nhưng “sự đoạn tận ái” đã hàm ý Niết bàn. Ở một nơi khác điều này đã được Ðức Phật làm sáng tỏ “Quả thực, này Ràdha, sự đoạn tận ái (Tanhàkkhayo) là Niết bàn”[2]. Trả lời câu hỏi của một vị Chư Thiên, Ngài nói: “Ðoạn trừ tham ái (Tanhàya vippahà-nena) là Niết bàn”[3]. Còn Ngài Xá Lợi Phất thì nói: “Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham (Chandaràga) đối với năm thủ uẩn, chính là sự diệt khổ”[4].

Từ những trích dẫn trên cho thấy rằng Nirodha hay Nibbàna là sự đoạn diệt, sự tận diệt tham ái (Tanhà). Như chúng ta đã thấy trong chương trước, tham ái là nhân sanh khổ và khổ này chỉ dừng lại khi nhân của nó dừng. Với sự từ bỏ tham ái ta cũng từ bỏ khổ và tất cả những gì liên quan đến khổ. Do đó, Niết bàn được giải thích như là sự đoạn tận của khổ.

Có lẽ cũng cần ghi nhận ở đây là mặc dù những từ mang tính tiêu cực thường được dùng để định nghĩa Niết bàn. Chúng vẫn không hàm ý rằng Niết bàn chỉ là sự tiêu cực hay sự hủy diệt của một cái ngã. Xét cho cùng sự phủ định không có nghĩa là một sự rỗng không tuyệt đối, một sự trống rỗng, mà chỉ là sự vắng lặng của một cái gì đó. Một vị A-La-Hán đã chứng đắc Niết bàn và thoát khỏi mọi tham ái. Tham ái không còn hiện diện trong vị ấy, và điều này không đơn thuần là sự trống không, hay sự hủy diệt của Tự Ngã, bởi vì không có cái Ngã để bị hủy diệt.

Trong Kinh Ðiển hiển nhiên cũng có những từ rất tích cực như Khemam (sự an ổn), Suddhi (thanh tịnh), Panìtam (thắng diệu), Santi (tịnh lạc), Vimutti (giải thoát), đã được dùng để biểu thị vô vi Niết bàn. Tuy nhiên, ý nghĩa thực sự của những từ này đã bị hạn chế đối với kinh nghiệm hiểu biết của thế gian hữu tình. Tất cả những định nghĩa tích cực này đều phát xuất từ kinh nghiệm của chúng ta về thế giới hiện tượng. Một khái niệm của phàm nhân về các pháp là Samsaric (luân hồi). Ðó là, thuộc về sự hiện hữu hay sự trở thành. Chính vì vậy mọi khái niệm của họ liên quan đến Niết bàn cũng bằng những từ mang ý nghĩa trở thành, và do đó họ không thể có một bức tranh chân xác về Niết bàn được. Tất cả những tư duy, ý niệm và ngôn từ của họ đều giới hạn, hữu vi. Do đó, không thể được áp dụng cho Niết bàn, một pháp không tạo tác (vô tác), không điều kiện (vô vi) và không cấu hợp (vô tướng).

Theo quy ước chúng ta nói về những từ tích cực và tiêu cực; những từ này cũng như mọi thứ khác là tương đối; nhưng Niết bàn vượt qua hai phạm trù tích cực và tiêu cực, nó không liên hệ đến bất cứ điều gì do điều kiện tạo thành (hữu vi pháp). Ðức Phật đã phải dùng những từ ngữ của thế gian biết rằng nó có những hạn chế. Liên quan đến câu hỏi, thế nào là Niết bàn? Chúng ta hãy nghe những lời giải thích của Ðức Phật:

“Này các Tỳ kheo! có hai Niết bàn giới (Nibbàna dhàtuyo). Thế nào là hai? Niết bàn giới có dư y (Saupà-disesa)[5] và Niết bàn giới không dư y (Anupàdisesa). Này các Tỳ kheo, thế nào là Niết bàn giới có dư y? Ở đây, này các Tỳ kheo, vị Tỳ kheo là bậc A-La-Hán, các lậu hoặc (Àsava) đã đoạn tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, đã đặt gắng nặng xuống, đã đạt A-La-Hán quả theo tuần tự, đã đoạn diệt các hữu kiết sử, bậc đã giải thoát nhờ hiểu biết chân chánh. Chính các căn của vị ấy chưa bị hủy hoại nên vị ấy cảm thọ các điều khả ý và không khả ý, vị ấy cảm thọ lạc và khổ. Ngũ uẩn vẫn còn, chính sự tận diệt tham, sân, si của vị ấy, này các Tỳ kheo được gọi là Niết bàn giới hữu dư y (Saupàdisesa nibbana-dhàdu)”.

“Này các Tỳ kheo, thế nào là Niết bàn giới vô dư y (Anupàdisesa nibbànadhàtu)?”.

“Ở đây, này các Tỳ kheo, vị Tỳ kheo là bậc A-La-Hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt A-La-Hán quả theo tuần tự, hoàn toàn tận diệt các hữu kiết sử, bậc đã giải thoát nhờ hiểu biết chân chánh. Mọi cảm thọ của vị ấy không còn ưa thích, không còn thích thú (Anabhinanditàni), đã trở nên lắng dịu: Này các Tỳ kheo, chính điều này được gọi là Niết bàn giới vô dư y.

Này các Tỳ kheo, đây là hai Niết bàn giới”.

Sự kiện này Ðức Thế Tôn đã tuyên bố như sau:

“Niết bàn giới này

Ðược vị có pháp nhãn

Trình bày và thuyết giảng,

Không y tựa như vậy

Một loại Niết bàn giới,

Ở đây, thuộc hiện tại

Còn có các Dư Y,

Nuôi dưỡng hữu bị diệt

Không Dư Y Niết bàn

Lại thuộc về tương lai

Với vị đạt giới này,

Mọi hữu diệt hoàn toàn,

Những ai với chánh trí,

Biết con đường vô vi

Tâm tư được giải thoát,

Nuôi dưỡng hữu bị diệt,

Những ai chứng đạt được

Cốt lõi của các pháp[6]

Hoan hỉ trong diệt tận

Những vị ấy như vậy

Ðã từ bỏ hoàn toàn,

Tất cả mọi sanh hữu”[7].

Con người gồm có năm uẩn hay tâm và thân, chúng thay đổi không ngừng, do đó gọi là vô thường. Ngũ uẩn sanh rồi diệt, vì “phàm cái gì sanh khởi, tất cả đều chịu sự đoạn diệt[8]”.

Tham, Sân, Si trong con người khiến cho họ luân chuyển mãi, vì như kinh đã nói: “Không từ bỏ Tham, Sân, Si, con người không thoát khỏi tử sanh”[9].

Bậc đã đạt đến A-La-Hán quả, nghĩa là đã giải thoát ngay khi còn đang sống, do nhổ bật gốc Tham, Sân, Si. Như đã nói ở trên sự giải thoát này gọi là Niết bàn giới hữu dư y (Saupàdisesa nibbànadhàtu). Ngũ uẩn của một vị A-La-Hán hay sanh y của vị ấy là do tham, sân, si trong quá khứ vô định của vị ấy tạo thành. Vì vị ấy vẫn còn sống nên các uẩn của vị ấy phải vận hành. Vị ấy, do đó, vẫn cảm thọ những thọ lạc cũng như thọ khổ mà các căn của vị ấy lưu giữ do sự xúc chạm với các trần cảnh. Nhưng vì vị ấy đã thoát khỏi sự chấp thủ, phân biệt và ý niệm về ngã thể nên vị ấy không bị tác động bởi những cảm thọ này.

Giờ đây, khi vị A-La-Hán nhập diệt, các uẩn của vị ấy, hay sanh y của vị ấy cũng ngưng vận hành, chúng sẽ tiêu hoại vào lúc chết; các thọ của vị ấy không còn nữa, và do sự tẩy trừ Tham, Sân, Si mà vị ấy không còn tái sanh, đương nhiên lúc ấy sự ấp ủ các cảm thọ cũng không còn. Và do đó, như đã được nói “thọ của vị ấy sẽ trở nên nguội lạnh (sìtibhavissanti)”. Sự kiện này được diễn tả trong Udàna (Kinh Phật Tự Thuyết) như sau:

“Thân bị hoại, tưởng diệt,

Mọi thọ được nguội lạnh,

Các hành được lặng yên,

Thức đạt được mục đích”[10].

Sự kiện này gọi là Niết bàn giới vô dư y (Anupàdisesa nibbànadhàtu).

Từ những điều đã đề cập ở trên, vị trí của bậc A-La-Hán đã rõ ràng. Khi một người đã trừ diệt hoàn toàn tam độc Tham, Sân, Si đưa đến tái sanh, vị ấy giải thoát khỏi những trói buộc của vòng luân hồi (Samsàra), không còn phải tái sanh. Vị ấy được tự do đúng theo ý nghĩa của từ này. Không còn điều gì khiến vị ấy phải tái sanh lại làm người, vì vị ấy đã chứng đắc Niết bàn, sự tận diệt hoàn toàn của dòng tiến sinh và trở thành (bhava-nirodha: hữu diệt). Vị ấy đã vượt qua những hoạt động bình thường của thế gian mặc dù vẫn sống trong cuộc đời này, vị ấy đã tự nâng mình lên một trạng thái siêu thế; những hành động của vị ấy không còn tạo nghiệp, nghĩa là không còn cho quả trên phương diện nghiệp báo, vì chúng không bị tác động bởi tam độc, bởi những kiết sử (kilesa), vị ấy vô nhiễm với mọi điều ác, đối với các cấu uế của tâm. Trong vị ấy không còn các tùy miên phiền não hay những khuynh hướng ngủ ngầm (anusaya); “Vị ấy vượt qua cả thiện lẫn ác, từ bỏ cả tốt lẫn xấu”[11], quá khứ, vị lai và ngay cả hiện tại không còn làm cho vị ấy phải lo lắng. Vị ấy không chấp trước điều gì trong thế gian này, vì vậy không còn sầu lo. Những thăng trầm của cuộc sống không làm vị ấy xao xuyến lo sợ. Như trong hạnh phúc kinh (mangala sutta) có nói:

Khi xúc chạm việc đời

Tâm không động (Nakampati), không sầu (Asokam)

Tự tại (Khemam) và vô nhiễm (Virajam).

Là hạnh phúc tối thượng

Như vậy, Niết bàn là một trạng thái có thể chứng đắc ngay trong kiếp sống này (ditthadhammanibbàna). Người có suy tư, có đầu óc quan sát, hẳn sẽ không thấy khó hiểu trạng thái này, trạng thái mà chỉ có bậc A-La-Hán mới có thể mặc nhiên công nhận.

Mặc dù phàm nhân có thể cảm nhận được tính chất bất toại nguyện của cuộc sống, và trực nhận được thế nào là khổ, thế nào là những cấu uế và tham ái là thế nào, nhưng họ không hiểu được thế nào là sự đoạn trừ hoàn toàn của các cấu uế. Bởi vì họ chưa từng kinh nghiệm điều đó, nếu họ làm được, họ sẽ hiểu qua sự tự chứng, thế nào là trạng thái không còn các cấu uế, thế nào là Niết bàn hoặc thế nào là chân lý, hạnh phúc thực sự là thế nào. các bậc A-La-Hán nói về Niết bàn với kinh nghiệm thực sự chứ không phải dựa vào lý thuyết, nhưng các Ngài không thể bằng sự chứng ngộ của mình, làm cho người khác hiểu được Niết bàn. Người thỏa mãn cơn khát của mình sẽ hiểu được cảm giác giải thoát mà họ đạt được, nhưng họ không thể giải thích cảm giác này cho người khác. Dù cho họ có thể nói về cảm giác đó nhiều bao nhiêu, người khác cũng không cảm nhận được điều đó; vì đây là kinh nghiệm tự thân, sự tự chứng. Sự chứng ngộ là việc riêng của mỗi người. Mỗi người phải tự ăn và tự ngủ lấy, tự điều trị những chứng bịnh của mình; đây chỉ là những nhu cầu hàng ngày, huống nữa khi nói đến vấn đề phát triển nội tâm của con người, đến sự giải thoát tâm.

Ðiều khó nắm bắt là Niết bàn giới vô dư y hay nói một cách khác là Bát Niết bàn (parinibbàna) hoặc sự diệt độ của một vị A-La-Hán.

Một đoạn kinh thường hay được trích dẫn trong Udàna (Phật Tự Thuyết) như sau:

“Nầy các Tỳ kheo! có sự không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi. Nếu không có cái không sinh, không hiện hữu, không bị làm và không hữu vi thì ắt hẳn sẽ không có sự xuất ly khỏi sanh, khỏi hiện hữu, bị làm và hữu vi. Vì rằng có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm và không hữu vi, nên có sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi[12].

Ở đây không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió, không có hư không vô biên, không có thức vô biên, không có vô sở hữu xứ, không có phi tưởng phi phi tưởng xứ, không có đời này, không có đời sau, không có mặt trời và mặt trăng. Ở đây, này các Tỳ kheo, không có đến, không có đi, không có hiện hữu, không có diệt, không có sanh, không có an trú, không có chuyển vận, không có sở duyên. Ðây thật sự là sự đoạn tận khổ đau (Dukkha)[13]”.

Từ đoạn kinh trên chúng ta thấy rõ rằng Niết bàn tối hậu (Parinibbàna) này là một trạng thái ở đó năm uẩn: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức và tất cả những gì liên quan đến ngũ uẩn đều chấm dứt. Do đó, đây là trạng thái ở đó thuyết tương đối không có chỗ đứng. Nó vượt qua và nằm ngoài mọi thứ được xem là tương đối. Nó không phải là quả của một nhân nào, cũng không phải nhân làm phát sanh ra quả. Nó không phải đạo (Magga) cũng không phải quả (phala), nó là một pháp tuyệt đối, vô vi, không cấu hợp.

Khổ và nhân sanh khổ (tham ái) thuộc về pháp thế gian (lokiya), nhưng Niết bàn không thuộc về thế gian, nó nằm ngoài các pháp hữu vi do đó vượt qua nhân quả. Các pháp hiệp thế đều tương đối, nhưng Niết bàn là pháp không có tính chất tương đối, là Pháp Tuyệt Ðối.

Trong bài kinh vô cùng quan trọng khác (dvàyata-nupassanà)[14] ở đây Pháp Duyên Khởi và Tứ Thánh Ðế được nêu lên từng chi một, Ðức Phật gọi các Tỳ kheo và nói rằng:

“Này các Tỳ kheo! cái gì được thế giới với chư thiên, các ma, các phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-Môn và Bà-La-Môn, với chư thiên và loài người suy tưởng: ‘Ðây là sự thật’ (Idam saccamti upanijjhàyitam), cái ấy được các bậc Thánh (Ariya) khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là ‘cái này là hư vọng’, trong khi cái mà các bậc Thánh thấy là ‘chân thật’, thời thế gian cho rằng đó là ‘hư vọng’,

và Ngài nói thêm:

“Niết bàn không hư ngụy

Bậc Thánh chân thật biết

Họ thắng tri chân thật

Không ái dục tịch tịnh”[15].

Ðây không phải là trường hợp duy nhất Ðức Phật dùng chơn đế hay chân thật (saccam) như một từ thay thế cho Nibbàna (Niết bàn), vì chúng ta thấy ở sau:

“Chơn Ðế, này các Tỳ kheo, là một danh xưng cho Niết bàn”[16] (Yathàbhùtam vacanam ti kho bhikkhu nibbà-nassetam adhivacanam).

“Những vị ấy giải thoát

Ðối như thật hiện hữu,

Vì nhờ đoạn diệt được

Tham Ái đối sanh hữu”[17].

(Yathàbhùte vimuccanti bhavatanhà parikkhayà).

(Từ Yathàbhùte thường dịch là như thực, ở đây dùng từ Chơn Ðế cho phù hợp với văn cảnh).

Như đã được tuyên bố trong bài kinh Giới Phân Biệt[18] (dhàtu vibhaga sutta), một bài kinh quan trọng không kém, vị A-La-Hán đã an tịnh tuyệt đối bên trong (ba ngọn lửa tham, sân, si đã bị dập tắt hoàn toàn), thổi tắt từ bên trong “Paccatam yeva parinibbàyati” khi cảm thọ một lạc thọ, khổ thọ hay bất lạc bất khổ thọ, vị ấy biết rằng thọ này là vô thường, không đáng để đắm trước với ý niệm của tôi và là tôi, nghĩa là vị ấy không cảm thọ các thọ với dục tham.

Bất cứ thọ nào vị ấy cảm nhận, có thể đó là lạc thọ, khổ thọ hay bất lạc bất khổ thọ. Vị ấy cảm nhận các thọ ấy mà không bị đắm trước, không bị trói buộc vào đó (visam-yutto). Vị ấy tuệ tri rằng sau khi thân hoại mệnh chung (sau khi thọ mạng đã tận), mọi thọ và cảm thọ cũng sẽ trở nên nguội lạnh, cũng sẽ trở nên vắng lặng (sìtibhavissanti) cũng như ngọn đèn dầu được cháy đỏ nhờ vào dầu và tim đèn, khi dầu cạn và tim hết, nó sẽ tắt do hết nhiên liệu. Cũng vậy, khi một vị Tỳ kheo cảm giác một cảm thọ rằng thân đã tận vị ấy tuệ tri “ta cảm giác một cảm thọ rằng thân đã tận”, và khi cảm giác một cảm thọ rằng sinh mạng đã tận, vị ấy tuệ tri “ta cảm giác một cảm thọ rằng sinh mạng đã tận”, và vị ấy biết “sau khi thân hoại mạng chung, mọi cảm thọ không còn hoan hỉ ở nơi đây, sẽ trở nên nguội lạnh”. Do vậy, này các Tỳ kheo, một người thành tựu như vậy là thành tựu với trí tuệ tối thắng, bởi vì trí biết về sự đoạn tận khổ (Dukkha) là thánh tuệ tối thắng vậy.

Sự giải thoát của vị ấy, thiết lập trên chơn đế, không bị dao động. Cái gì không thực là hư vọng, cái gì là thực (không hư vọng), Niết bàn là chơn đế (tam saccam). Do vậy, này các Tỳ kheo, một người thành tựu như vậy là thành tựu với chơn đế tối thượng này, bởi vì thánh đế tối thượng (Paramam ariya saccam) là Niết bàn, là chân thực (không phải hư vọng).

Trong Ratana Sutta [19] có dạy:

‘Nghiệp cũ đã tiêu mòn,

Nghiệp mới không phát khởi

Nhàm chán kiếp lai sanh

Chủng tử dục đoạn tận

Bậc trí chứng Niết bàn,

Ví như ngọn nến tắt'[20].

Ðây là vị trí của bậc A-La-Hán đã nhập diệt (parinibbato). Con đường của vị ấy, giống như con đường của loài chim trên hư không, không thể tìm ra dấu vết. Do đó, thật là sai lầm khi nói rằng vị A-La-Hán hay Ðức Phật đi vào Niết bàn, bởi vì đó không phải là một nơi, một trú xứ hay một tầng trời mà ở đây các chúng sanh tiếp tục sống một cách vĩnh hằng. Niết bàn không có sự định vị (xác định vị trí), sự nhập diệt của một vị Phật hay A-La-Hán được diễn tả trong kinh như là Parinibbuto (Bát Niết bàn), Parinibbàya (Bát Niết bàn) hàm ý sự diệt tận hay diệt độ hoàn toàn, mà sự diệt độ này rõ ràng cho thấy đó chính là sự diệt của hữu (bhavanirodha) – chấm dứt cuộc hành trình. Vậy thì điều đó có ý nghĩa gì, điều gì sẽ xảy ra đối với một vị Phật hay một vị A-La-Hán sau khi vị ấy nhập diệt đó là điều không thể giải thích, không thể xác định. Hoàn toàn không có một giới hạn, không có một kích thước nào để đo lường (Niết bàn). Ðó là một câu hỏi “không thể trả lời”, “không thể xác định” (Àyakata), chơn đế tối hậu là điều không thể diễn tả và tuyên bố ra được (Anakkhàta).

Khi Upasìvà đặt câu hỏi một vị đã nhập diệt là ngưng hiện hữu, hay vĩnh viễn sống trong hạnh phúc, câu trả lời của Ðức Phật rất dứt khoát.

‘Người đã thực nhập diệt,

Không thể đo lường được,

Vị ấy không có gì,

Nhờ đó có thể nói,

Có còn gì hay không,

Khi tất cả các pháp

Ðã hoàn toàn đoạn tận,

Mọi cách để diễn đạt

Cũng đã bị đoạn tận[21]”.

Nếu đã Vô ngã (atta), nghĩa là vắng mặt một Linh Hồn hay cái Ta, cái gì sẽ đạt đến Niết bàn, hay ai chứng đắc Niết bàn là một câu hỏi rối mù khác. Trước tiên chúng ta cố gắng để hiểu xem cái gọi là người đây là cái gì hay là ai đã. Con người là một sự kết hợp của thân và tâm. Ðó là một tiến trình phải chịu sự biến đổi không bao giờ tồn tại giống nhau trong hai khoảnh khắc liên tiếp, và ở đây không có một cái gì thường hằng cả. Sự tận diệt của tiến trình này – dòng tâm – vật lý này – được gọi là Parinibbàna (diệt độ), không có cái “Ta”, Ngã, hay Linh Hồn nào đi vào Niết bàn cả.

Vấn đề cái gì đạt đến hay ai chứng đắc Niết bàn phát sanh do quan niệm cố chấp có “Ta”, Tôi và của Tôi (Ahamkàra, mamimkàra) trong con người, và tất cả mọi câu hỏi đều xoay quanh cái Ta này. Tuy nhiên không có Ta hay Ngã nằm sau mọi hành động thân, khẩu, ý. Có nghiệp nhưng không có người tác nghiệp, có tư duy nhưng không có người tư duy, có Niết bàn nhưng không có người chứng đắc Niết bàn. Chỉ có các hiện tượng diễn tiến. Trong ngôn ngữ quy ưước chúng ta nói về đàn ông, đàn bà, ta, tôi. . .v.v. . nhưng trong ý nghĩa cùng tột không có những cá nhân như vậy hiện hữu. Chỉ có một tiến trình đang hình thành và một tiến trình hoại diệt “bất cứ pháp nào có bản chất sanh, tất cả pháp ấy đều có bản chất hoại diệt”.

Năm thủ uẩn tạo thành con người. Tham ái là nhân của khổ phát sanh trong năm thủ uẩn nầy. Sự diệt tham cũng ở trong năm thủ uẩn này. Như vậy một tiến trình sanh và một tiến trình diệt, và hoàn toàn không có ngã thể thường hằng hay cái “Ta” nào tạo ra các uẩn này, và cuối cùng trừ diệt nó, lại càng không phải là một tác nhân ở bên ngoài. Ở đây chỉ có sự trở thành và một sự diệt của cái đang trở thành đó. Thấy như vậy là Chánh Kiến.

Niết bàn của đạo Phật được gọi là hạnh phúc tối thượng (Paranam sukham) và như chúng ta thấy ở trên, hạnh phúc này phát sanh do sự lắng dịu hoàn toàn, sự diệt hoàn toàn của mọi cảm thọ. Bây giờ chính lời tuyên bố này lại làm cho chúng ta hoàn toàn khó hiểu, vì chúng ta đã quen cảm thọ những lạc thọ này bằng các căn của chúng ta.

Tôn giả Udàyi, một vị đệ tử Phật, cũng đã đối diện với vấn đề này. Một lần nọ Tôn giả Xá Lợi Phất (Sàriputta) gọi các Tỳ kheo và nói:

“Niết bàn, này chư hiền, là lạc, Niết bàn chính là hạnh phúc”.

Khi ấy Tôn giả Udàyi bèn hỏi:

“Nhưng hiền giả Sàriputta! lạc thú ấy là thế nào, vì ở đây không còn thọ?”.

“Ngay đó chính là lạc, này hiền giả vì ở đây không còn thọ[22]”.

Lời giải thích này của Tôn giả Xá Lợi Phất đã được xác chứng bởi một trong những Phật ngôn sau: “Bất cứ cái gì được cảm thọ, được nhận thức, được cảm giác, tất cả những cái đó đều là khổ (yamkinci vedayitam dukkhasmim ti)[23]”.

Những bước cơ bản của đạo lộ diệt khổ – hướng đến Niết bàn – đã được Ðức Phật chỉ rõ. Ðó là con đường tu tập cẩn trọng nội tâm thế nào để tạo được sự an lạc thanh khiết và sự yên nghỉ tối thượng khỏi những xáo trộn của cuộc đời. Ðạo lộ này, quả thật rất khó, nhưng nếu chúng ta với sự chánh niệm và hoàn toàn tỉnh thức, bước lên trên đó thận trọng từng bước, chúng ta cũng có ngày đến đích. Một đứa bé học đi, học đứng cũng phải từ từ và với rất nhiều khó khăn, đối với các bậc đại nhân cũng vậy, đi trên con đường hoàn thiện, lần hồi từng bước, từng bước, trải qua những thất bại để cuối cùng đạt được thành công.

“Nhớ vị tu đời trước

Nhớ nếp sống của họ

Dầu nay thời hậu lai [24]

Vẫn có thể xác chứng

Con đường đạo bất tử [25].”

–ooOoo–

Đăng bởi

Nghĩ ngơi thân và tâm

Tôi đi từ cụm từ“thư xả” để bắt đầu cho buổi nói chuyện về thiền định và thiền tuệ hôm nay. Tôi sẽ nói đơn giản thôi. Đơn giản với ngôn ngữ đời thường cho ai cũng nghe được, hiểu được. Và ai cũng có thể thực hành được. Tôi sẽ tự giới hạn không sử dụng thuật ngữ Phật học hay thiền học vì nó phức tạp lắm, nhất là đối với những người không phải là Phật tử lâu năm, hoặc không phải là hành giả trong một lớp thiền nào đó.

Thư xả là nghỉ ngơi toàn bộ thân và tâm, nghĩa là thân phải thư giãn, tâm phải buông xả. Tại sao thân tâm phải thư giãn, buông xả?

Trước tiên, chúng ta phải hiểu thư giãn là gì, buông xả là gì?

Thư giãn thuộc về thân, các bạn nhớ cho như vậy.

Thư giãn, nói cho dễ hiểu là “duỗi cho giãn ra”. Cái thân của chúng ta làm việc nhiều quá, các cơ bắp đều đã đờ cứng, thần kinh (thuộc thân) căng thẳng nên sinh ra mệt mỏi, lừ đừ, đờ đẫn; ngoài ra nó còn làm cho ta trằn trọc, thao thức không ngủ được; và những biến chứng về tim mạch cũng từ đó mà phát sanh. Vậy, việc làm đầu tiên là chúng ta phải duỗi cho giãn ra tất cả mọi đờ cứng của cơ bắp làm cho nó trở về trạng thái cũ, là hình thức nghỉ ngơi của thân đó.

Nói thư giãn nhưng không phải là “cố ý” thư giãn. Khi cố ý thư giãn là chúng ta khởi một “chủ ý” bắt thân phải phục tùng. Đây là thói quen của bản ngã có từ vô lượng kiếp của con người, nhất là từ khi chúng ta tiếp thu văn hóa, tư tưởng, ngôn ngữ Tây Phương – bao giờ cũng có một cái tôi, cái ta, một cái ngã để giao lưu, đối thoại, làm việc, kể cả lúc ta muốn cho cái thân được nghỉ ngơi. Và khi khi ngơi, chúng ta cũng quen nói là sẽ có “phương pháp” làm cho nó nghỉ ngơi.

Không phải vậy, thưa các bạn. Cái “thân tôi” nghỉ ngơi đã trật, mà “phương pháp” nghỉ ngơi lại càng trật luôn. Ta lại muốn “tham dự” vào sự vận hành tự nhiên của pháp giới. Trong trường hợp này, muốn nghỉ ngơi thật sự ta hãy nằm xuống, như xác chết, và xác chết thì không có cái tôi nào, cái ý thức nào xen dự vào đấy cả. Nó tương tự như thế savasana (xác chết) trong hattha-yoga, là buông lỏng thân như một xác chết thì bạn có thể phục hồi rất nhanh tất cả những năng lực đã bị mất đi. Đây mới chính là “nguyên lý” trả thân lại cho thân, cách nói khác của “chánh niệm” rốt ráo. Chánh niệm rốt ráo chính là chánh niệm ở thế giới paramattha, đơn giản là thân chỉ “thả xuống”, để yên như nó là… chứ không phải niệm cái này, niệm cái kia!

Sau khi thư giãn về thân rồi, chúng ta mới quay sang buông xả.

Buông xả thuộc về tâm, các bạn nhớ cho như vậy.

Cũng tương tự như cái thân, cái tâm của chúng ta do suy nghĩ nhiều quá, lo âu nhiều quá… mà sinh ra căng thẳng như sợi dây đàn. Nếu căng thẳng đúng độ, âm thanh sẽ cao vút, nhưng căng quá độ nó sẽ đứt tung luôn! Và ta cũng bị đứt tung luôn như vậy! Hãy để cho cái tâm được nghỉ ngơi, được tịnh dưỡng, các bạn ạ. Nó đã làm việc quá nhiều, đã hết công suất: Chuyện công việc làm ăn ngày càng khó khăn. Chuyện con cái cứng đầu khó dạy, không chịu học, cứ mải ham chơi… Chuyện vật giá leo thang. Chuyện bệnh tật, ốm đau. Chuyện nhà, chuyện cửa, chuyện chợ búa, bếp núc… Chuyện bên nội, bên ngoại.

Chuyện thế gian, thế giới, chuyện chiến tranh, chuyện khủng bố, chuyện ô nhiễm môi trường, chuyện đạo đức băng hoại… Rồi đêm nằm ngủ nữa, có yên đâu. Ý tưởng, tâm niệm, lo nghĩ cứ lăng xăng trong đầu. Các bệnh về tâm lý, stress là triệu chứng bệnh lý phổ thông của thời đại. Thân bị căng mà tâm cũng bị căng. Tôi nhớ có vị thiền sư đã đưa ra ví dụ rất chính xác về một sợi dây thun căng thẳng, và chúng ta đều như thế đó! Sợi dây thun nếu căng trong chừng mực nào đó, trong một thời gian nào đó thì nó còn có khả năng trở lại trạng thái ban đầu. Nhưng nếu nó căng mãi, căng hoài, ngày này sang ngày nọ, thì sợi giây thun kia không thể trở lại trạng thái ban đầu được nữa. Nó liệt rồi. Coi chừng chúng ta cũng bị liệt như thế.

Sợi lò xo trên cái cân cũng vậy, cứ cân mãi, cân hoài, không cho nó nghỉ – thì nó cũng bị liệt luôn, không thể trở về số không được nữa! Tâm buông xả cũng tương tợ vậy. Suốt tháng, suốt năm, quý vị có cho nó nghỉ ngơi đâu? Ban đêm quý vị cũng không cho nó nghỉ, cứ mộng tưởng, vọng tưởng, hồi ức chuyện này, chuyện kia lung tung… Vậy, buông xả là để cho cái tâm được thật sự nghỉ ngơi. Phải để cho cái tâm được như phòng không, nhà trống, rỗng rang, vắng lặng. Nói đơn giản vậy chớ khó lắm đấy. Khi nói buông xả, chúng ta lại suy nghĩ, hãy buông xả nghe, hãy để cho tâm rỗng rang nghe… Đấy, đấy, mới đó mà quý vị lại suy nghĩ rồi, lại lầm thầm trong đầu rồi! Cái tôi, cái ta của chúng ta lại muốn xen dự vào đấy nữa. Tuy nhiên, vấn đề không đến nổi tệ lắm đâu. Hãy nương nơi hơi thở, cứ tập lắng nghe hơi thở một hồi, và đừng làm gì cả, rồi từ từ cái tâm sẽ yên, sẽ lặng, sẽ rỗng không ngay.

Vậy, để cho cái thân nghỉ ngơi, cái tâm nghỉ ngơi thì được gọi là thư giãn, buông xả. Là bài học thực tập đầu tiên cần thiết cho tất cả chúng ta, cho tất cả mọi người đang sống trong xã hội có quá nhiều vấn đề bức xúc, cạnh tranh khốc liệt như đang diễn ra mọi nơi, mọi chỗ khắp trên thế giới bởi nền văn minh vật chất thực dụng này.

Ngày nay nhân loại đã tiến bộ quá, văn minh quá, tiện nghi vật chất phong phú quá. Khoa học, kỹ thuật và những công nghệ thông tin càng tăng tốc thì trái đất càng ô nhiễm, càng phá vỡ sự cân bằng sinh thái – đem đến biết bao nhiêu tật bệnh, động đất, sóng thần, bão lụt, cháy rừng, vi trùng, vi khuẩn… đe dọa mạng sống con người và những đau khổ về tâm lý. Nền văn minh trục vật ấy, có cái lợi rất lớn mà cái hại cũng không kém gì! Và điều rõ ràng nhất – xã hội tăng tốc thì con người cũng tăng tốc. Tăng tốc để làm giàu, tăng tốc để hưởng thụ, tăng tốc mọi khả năng kèn cựa, áp đảo, giật giành, đấu đá… trong những cuộc chạy đua chưa có hồi chung cuộc. Chạy đua cho đến bạc tóc, chạy đua cho đến nấm mồ! Trong tình huống đó, dĩ nhiên mọi người, ai cũng bị lôi cuốn vào giữa dòng xoáy tất yếu, vào giữa cơn lốc chóng mặt, quay cuồng của hơn thua, thành bại, được lợi, mất lợi, được danh, mất danh, buồn vui, khổ lạc… huyễn hóa, bọt bèo; để rồi, không biết có ai bất chợt nhìn thấy, rằng là lúc này, sao mình làm việc gì cũng hấp tấp, vội vã, khẩn trương? Tính khí thì tại sao lại sớm nắng, chiều mưa, lúc nóng, lúc lạnh thất thường như thế? Tại sao, bây giờ mình hay nổi nóng, cay cú, giận giữ, căng thẳng “điên cái đầu” đến thế?

Nó đã đến rồi đấy! Chúng nó đã đến rồi đấy! Những bóng ma bất thực, ảo hóa chập chờn, nhưng nó có khả năng bóp méo hoặc chi phối toàn vẹn đời sống tâm-sinh-vật-lý của chúng ta. Đấy là những dấu hiệu rối loạn tâm lý nội tại, nếu không được trị liệu thì nó sẽ dẫn đến biến chứng của sự thác loạn thần kinh não bộ. Thât may mắn thay cho ai đã nhìn thấy nó, thấy để tu tập, để tu thiền định và thiền tuệ, để trở lại sự an bình cho cái thân, cái tâm đã quá nhiều bệnh tật và thống khổ này!

Thưa các bạn,

Chính khi nó đang xẩy ra, đang căng thẳng, đang bức xúc, bất an ấy – chúng ta đừng nôn nóng, vội vã tìm cách giải quyết nhé! Tuyệt đối không! Không làm gì cả! Hãy bình tĩnh thử nào! Hãy tịnh định và thở vài hơi thở thử xem! Lăng xăng tìm cách giải quyết thì vấn đề càng trầm trọng, căng thẳng thêm mà thôi. Là thêm dầu vào lửa đấy! Những lúc như vậy, hãy thở thôi, và hãy cứ thư giãn, buông xả như cách mà chúng ta đã biết. Đơn giản là chúng ta chỉ cần cho phép thân tâm mình được hoàn toàn nghỉ ngơi – nghỉ ngơi thật sự, nghỉ ngơi đúng nghĩa của “sự thực” nghỉ ngơi – dù chỉ một lát thôi; nghĩa là, đừng gắng gượng, đừng ức chế, đừng cố bắt nó đứng yên, đừng bắt nó phải như thế này hoặc như thế kia – mà phải để cho nó thật thoải mái, tự nhiên, như nhiên vậy.

Tại chỗ này, chúng ta sẽ quan sát một ly nước. Ta cầm ly nước trong hai tay, và thầm nói rằng: Tôi sẽ cố giữ cho ly nước đứng yên và mặt nước không dao động! Nhưng dù tôi cố gắng thế nào thì mặt nước vẫn vị chao nhẹ, gợn lăn tăn! Bây giờ, bạn hãy đặt ly nước xuống bàn, và quan sát nó, một hồi là mặt nước đứng yên, lặng ngay. Cái thân tâm ta cũng vậy, để cho nó yên, đừng làm gì cả, thì nó sẽ tự động yên như ly nước đặt trên bàn! Để cho thân thư giãn, buông lỏng toàn thể cái thân, như xác chết, không làm gì cả; để cho tâm bạn buông xả mọi bận rộn, phức tạp, đa đoan trong những lo âu, tính toán đời thường – cũng không làm gì cả! “Điềm đạm vô vi, chân khí tùng chi” là nguyên lý cao nhất của y đạo Đông phương đấy!

Nói tóm lại, thư giãn buông xả nghỉ ngơi hoàn toàn, nghỉ ngơi cả thân lẫn tâm – là điều kiện tất yếu không thể bỏ qua trong bất kỳ tâm thái thiền nào. Nó là cái gốc, cái nguồn cho thân tâm được phục hồi sức khỏe, lấy lại sinh lực đã bị tiêu hao – mà thiếu nó thì mọi nỗ lực đi sau đều như xây lâu đài trên cát. Rất nhiều người xem thường yếu tố cơ bản này, họ quyết tâm đi thẳng vào thiền định, thiền tuệ hay tham công án, tưởng sẽ có kết quả nhanh; nhưng hãy coi chừng: Càng mong kết quả nhanh chừng nào lại càng phản tác dụng ngay chừng đó! Thực ra, tự thân sự thư giãn, buông xả đã mang lại nhiều kết quả lớn lao giúp cho thân tâm ta được ổn định; và cũng từ đó, nó giải quyết vấn đề phiền não nội tâm hay phiền não từ thế giới xung quanh mang lại rất hiệu quả.

Vậy thì, sau khi thư giãn, buông xả rồi, các bạn sẽ dễ dàng đi vào các đề mục thiền nào tùy ý. Hãy không nói đến những đề mục phức tạp khác, chỉ nói đến hơi thở, cái hơi thở vốn là sự sống của chúng ta mà chúng ta ít có thì giờ xem, nghe nó thở ra sao! Bạn chỉ cần ngồi và nghe nó thở, nó thở ra sao, ngắn dài cứ kệ nó. Chỉ nghe và xem một cách khách quan, trung thực. Đừng triết luận, đừng giảng giải; nghĩa là đừng xen tâm trí vào đấy! Các bạn có làm được như vậy không? Cứ ghi nhận và an trú tâm vào đó. Chỉ cần chuyên nhất, lắng nghe không xao lãng. Thế rồi, chuyện gì xẩy ra? Sự an lạc nó sẽ đến với bạn! Nó đến như một định luật tự nhiên của tâm và pháp. Chẳng có huyền nhiệm và phép lạ nào ở đây. Thân yên lặng, ổn định thì tâm yên lặng, ổn định. Tâm yên lặng, ổn định thì an lạc, hạnh phúc nó sẽ đến cho thân tâm ấy. Nó xẩy ra tự nhiên như những định luật của trời đất. Đấy là cả một nghệ thuật. Thiền là cả một nghệ thuật, phải nắm chắc nghệ thuật ấy để mang đến sức khỏe cho tâm linh, để sống một cuộc đời có ý nghĩa và rỗng không phiền não. Ngoài ra, có người không muốn nghe hơi thở mà chỉ muốn nhìn ngắm xung quanh. Cũng được thôi. Xung quanh chúng ta có vô vàn đề mục, vô vàn đối tượng. Nó có thể là một bông hoa đỏ, một ô cửa trống, một làn mây bay… và còn nữa, một dòng sông lặng, một chậu cây, một ánh trăng bên hiên… Và khi ấy, bạn cứ nhìn vậy thôi, thanh thản và tự nhiên như đang đọc một quyển sách, đang thưởng ngoạn một tác phẩm nghệ thuật – đừng để tâm lang thang đi đâu cả, thì tham ưu và phiền não sẽ không tác duyên được. Các bạn hãy cố gắng thực tập thiền ấy trong đời sống thường nhật. Như khi lái xe, khi đọc sách, khi viết email, khi nấu ăn, khi rửa chén bát…Và những khi như vậy, cái gì đang xẩy ra, đang diễn ra, đang tác động đến thân, bạn cũng phải biết lắng nghe, quan sát một cách trung thực. Cụ thể là những đau, nhức, tê, ngứa, nóng, lạnh… Rồi còn những khó chịu, bực bội, nóng nảy, dễ chịu, thích thú… gì đó ở nơi tâm, cũng phải được lắng nghe, ghi nhận… Nghĩa là đừng bỏ quên bất cứ một cảm giác nào xẩy ra ở nơi thân và nơi tâm. Và đấy được gọi là thiền, có đầy đủ định tuệ ở trong, nó không hai. Và thiền này là của chúng ta, không ở bất kỳ một trường phái nào, nhưng nó là Tứ Niệm Xứ đó vậy.

Và cuối cùng, ai thực hành được thì mọi khổ ưu trên đời này chỉ là những giọt nước nó trượt trên lá sen, tâm trí ta không dính.

Rốt lại, chỉ có một từ “xả”, thưa các bạn!

Chỉ cần “xả” là “đáo bỉ ngạn” tức khắc, ngay tại đây và bây giờ!

Mong vậy thay,

MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH