Đăng bởi

Người xưa sản xuất hương sạch, hương hữu cơ như thế nào?

Hương sạch Tâm Linh xin trích một phần Quy trình  sản xuất hương sạch, hương hữu cơ từ thời xa xưa mà cha ông ta đã để lại cho thế hệ chúng ta hiện nay.

1.      Nước được sử dụng trong khi trộn bột phải là nước mưa.
2.      Khu vực sản xuất hương được quét dọn sạch sẽ,  cách ly tốt khỏi các nguồn ô nhiễm như các trục đường giao thông…
3.      Không sử dụng  các hóa chất tạo mùi, tạo màu.
4.      Không sử dụng chất dẫn cháy
5.      Không sử dụng máy móc trong suốt quá trình từ xay thuốc cho đến khi ra sản phẩm cuối cùng.
6.      Các thiết bị như máy sấy, lò sấy  được sử dụng trong sản xuất hương hóa chất hiện nay  không được người xưa sử dụng. Tất cả sản phẩm đều được phải phơi nắng tự nhiên.
7.      Các dụng cụ đã dùng trong sản xuất phải được làm sạch trước khi đưa vào sử dụng
8.      Người thợ  phải  ghi chép cẩn thận chi tiết từng loại thảo mộc để kiểm tra mùi khi ra sản phẩm cuối cùng.
9.      Người thợ phải vệ sinh thân thể, quần áo sạch sẽ trước khi bước vào khu sản xuất.
11.  Các loại thảo mộc phải tuân thủ đúng quy trình hái lượm theo mùa, vụ, thời tiết.
12.    Khi sản phẩm đã hoàn thiện thì người thợ phải đốt thử vào buổi sáng sớm tinh mơ hoặc đêm trong phòng kín để tự mình cảm nhận mùi thơm xem đã đạt hay chưa.
13.  Người thợ luôn phải giữ tâm hồn trong sáng, trạng thái tinh thần vui tươi, sảng khoái để cảm nhận tiết trời mới có thể pha chế tỷ lệ các loại thảo mộc có trong bài bài thuốc một cách phù hợp.
14.  Một người thợ lành nghề trước khi về già phải tìm ra được người trẻ kế cận để truyền thụ lại công thức mà đời trước đã truyền lại, người được truyền thụ lại công thức bí truyền đó bắt buộc phải là người có tấm lòng trung thực, cẩn thận.

Theo: CEO Hương Tâm Linh
Đăng bởi

Cách sắm lễ vật, hành lễ, khấn bái khi đi chùa

Đi chùa là một phong tục đẹp của người Việt Nam trong những ngày giằm , mùng một, ngày lễ Tết hay những lúc gia đình có việc quan trọng hoặc tâm trạng bế tắc người ta cũng cầu khấn đến chùa. Việc đi chùa thành tâm khấn Phật , chư đại Bồ Tát, Thánh Hiền làm tăng thêm phúc đức bản mệnh tai qua nạn khỏi , tiêu trừ điềm xấu mang lại tâm lý bình an cho người đi và gia đình. Khi lên chùa ngoài thành tâm bạn cũng cần sắm sửa lễ vật cho phải đạo.

Cách sắm lễ vật khi đi chùa

Việc sắm sửa lễ vật khi đi chùa, đi tế lễ cần biết những quy định cơ bản của nhà chùa mà bạn cần tuân thủ.
– Chùa là nơi thanh tịnh nên khi sắm sửa lễ vật bạn phải chọn những lễ chay như hương , hoa quả tươi, oản, xôi chè và cấm kị lễ vật mặn như một số người thường mang lên chùa. Nếu mang như vậy không khác gì phỉ báng thánh thần vì họ chỉ ăn chay, dâng đồ mặn thật khó coi.
– Dâng lễ mặn chỉ được áp dụng trong trường hợp đền chùa đó có các vị Thánh , Mẫu, Thành Hoàng,…Các vị này thường an tọa ở các khu ngoài chính điện. Lễ mặn có thể dâng gồm gà , giò , chả, rượu, trầu cau.
– Đi chùa có thể chuẩn bị tiền giấy âm phủ và hương nhưng chớ đặt tiền thật hoặc vàng mã lên hương án, chính điện kẻo bị cho là đút lót thánh thần, lợi bất cập hại. Tiền hãy để vào hòm công đức để cải tạo chùa chiền mang lại phúc đức lâu dài cho con cháu.
– Dâng hoa ở các đền chùa nên chọn các loại hoa thanh tao như hoa sen, hoa huệ, mẫu đơn, hoa cúc… Tránh dùng những loại hoa lạ, hoa dại

Cách hành lễ khi đi chùa

Hành lễ đi chùa cũng cần có phép tắc và thứ tự. Trước hết hãy đặt lễ vật lên và thắp hương ở chính điện trước. Sau khi đặt lễ và thắp hương ở chính điện xong hãy đi đến các bạn thờ khá, thường đều có 3-5 ban để thờ mẫu, tứ phủ, bạn cần đặt lễ và dâng hương tất cả tránh sót ban thờ nào. Nếu đình chùa có nhà thờ Tổ, nhà Hậu thì cũng cần phải ghé qua. Cuối buổi lễ sau khi lễ tạ để hạ lễ thì nên đến trai giới hay phòng khách để thăm hỏi và trò chuyện với các nhà sư và công đức nếu có.

Cách khấn bái khi lễ chùa.

1. Khấn ở ban Tam Bảo
Nam mô a di đà phật (3 lần 3 lạy)
Đệ tử con nay thành tâm kính lạy mười phương chư Phật
Hôm nay là ngày, tháng , năm. Tín chủ con là… ngụ tại… Con thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng lên mười phương thường trụ Tam Bảo. Kính xin chư vị rủ lòng từ bi , phù hộ độ trì cho con được …. (công danh, tài lộc, nhân duyên, sức khỏe)….
Chúng con người trần phàm tục còn nhiều lỗi lầm, cúi mong Phật Thánh từ bi đại xá để cho con và gia đình được tai qua nạn khỏi, mọi sự bình an, sở cầu như ý.
Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin phù hộ độ trì.
Nam mô a di đà Phật (3 lần 3 lạy)
2. Khấn bồ Tát, thánh hiền
Tương tự như khấn ở tam bảo chỉ cần thay ở đoạn “Đệ tử con nay thành tâm kính lạy mười phương chư Phật” thành ban bệ cần khấn. Ngoài ra bạn cũng có thể thành tâm khấn nôm theo ý hiểu của mình. Không nên mưu cầu quá nhiều về lợi lộc cá nhân.
Đăng bởi

Hướng dẫn cầu thi cử may mắn

I/ Chuẩn bị:

– Một gói bánh đậu xanh.
– 3 cái bóng đèn điện.
– Một quyển vở, một cái bút, hoa quả tùy tâm biện lễ.
– 05 lễ tiền vàng
– Ai có vật phẩm hỗ trợ khác, gói vào rồi đặt lên mâm lễ.

II/ Bài khấn:

Văn khấn ở đền Ngọc Sơn, để cầu may mắn, thi cử đỗ đạt như mong muốn.

Phúc lộc thọ khang ninh

Nãi nhân tâm chi kỳ nguyện;

Duy!

Việt nam quốc ; Hà nội thị ; Văn miếu Quốc Tử Giám.

Môn sinh : Nguyễn Minh Trí – Sinh Quý Dậu niên.

Kính cẩn tấu trình : Văn xương Thánh Đế.

Chư vị Thượng Trung Hạ bản từ.

Hôm nay là ngày:……tháng …. năm Tân Mão 2011.

Con xin kính cẩn biện cung trần bạc lễ (Chuẩn bị từ trước: Bánh đậu xanh, trầu cau tiền vàng, kèm theo một cái bút, một quyển vở, và một cái bóng đèn điện gói trong một tờ giấy đỏ).

Cúi xin chư vị Đại Đức Thánh Hiền học giả chứng giám cho con là :………….

Trú tại : số nhà……Hàng Đào phố – Hoàn Kiếm quận – Hà nội Tỉnh – Việt nam quốc. Nay đang học tại: THPT Chu Văn An – Tây Hồ quận – Hà nội Tỉnh – Việt nam quốc. Kim niên Nhâm Thìn 2012 ứng thí kỳ thi : Tốt nghiệp và kỳ thi liên thông.

Trước linh đài Văn xương Thánh Đế linh đài con xin tâm thành kính cẩn xin các ngài chứng giám tâm thành, phù độ gia trì cho con năm nay được bản mệnh khang an, tinh thần dong sảng, trí lực tinh anh, minh mẫn, gạt bỏ tạp phế, chú tâm đèn sách học tập để bước vào kỳ thi tới được gặp nhiều hanh thông cát tường, học giỏi đỗ cao, thày yêu bạn giúp, hoàn tất được bài thi đến nơi đến chốn, đạt điểm số tối đa của trường: Đại học Bách khoa Hà nội.

Con kính xin chư vị chấp lễ chấp cầu trợ lực cho con được kim bảng danh đề toại tâm như ý.

Con xin khấu đầu cảm tạ !

Môn sinh con: .…………. xin rập đầu cúi lạy đến bách bái.

Thiên vận:

Nhâm Thìn niên – Nhị nguyệt – Đại cát nhật

Lưu ý:

1. Sau khi lễ tạ hóa vàng, mang cái bút và quyển vở về nhà, khi nào đi thi mang đi để dùng làm bài.

2. Còn cái bóng điện, lắp vào đèn bàn học để ôn luyện hàng ngày.

3. Còn bánh đậu xanh ăn hàng ngày và trước lúc đi thi lấy may mắn.

Đăng bởi

Hương Tâm Linh – Kiệt tác tạo hóa đã ban tặng

Tuyệt phẩm quý hiếm nhất hành tinh. Vào khoảng 30.000 năm trước công nguyên, người Việt cổ đã biết sử dụng những cành, cây khô đốt lên để sưởi ấm và xua đuổi thú dữ. Thửa ban đầu, người Việt cổ đốt mọi cây củi khô mà họ thu lượm được, theo thời gian họ phát hiện ra rằng không phải cây nào đốt lên cũng giống nhau, như cây gỗ lim đốt lên than rất hồng, giữ nhiệt lâu nhưng tỏa ra mùi khét và khi hít phải khói đó thì cơ thể trở nên mệt mỏi. Ngược lại, đốt cây bầu gió thì có mùi thơm dễ chịu, thần kinh trở nên hưng phấn, cơ thể khỏe mạnh, đặc biệt là nhiều loại côn trùng đều không dám đến gần.

Ngày nay, cây bầu gió có Trầm gần như đã tuyệt chủng, để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng thì cây bầu gió được trồng và tạo Trầm nhân tạo khiến cho việc để mua được Trầm quá dễ dàng. Chính sự phổ biến ấy đã trở thành hạn chế của những nhà sản xuất hương/nhang vẫn sử dụng nguyên liệu Trầm cổ xưa – chất liệu từng được coi là đắt giá nhất lịch sử loài người, nhân loại vẫn luôn trân trọng những giá trị quý báu của Trầm và được coi là quà tặng quý hơn bạch kim mà tạo hóa ban tặng.

Chúng ta cùng làm phép so sánh để thấy Trầm quý hiếm như thế nào. Bạch kim mỗi năm con người khai thác được 130 tấn, chỉ có 4 khu vực trên trái đất sở hữu Bạch Kim đã cho thấy sự khan hiếm của loại khoáng sản này trên toàn thế giới. Điều ấn tượng mà Bạch Kim mang tới chính là một vẻ đẹp hút hồn với sắc trắng thuần khiết đầy chiều sâu. Vẻ đẹp ấy khác hẳn với màu trắng ánh kim của Vàng trắng, trắng lạnh của đồ mạ Crom và trắng nhạt của Bạc. Bạch Kim được người chơi “sùng bái” chính bởi giá trị của sự thuần khiết, nguyên chất và vẻ đẹp xóa nhòa dấu vết thời gian, nâng phong cách và đẳng cấp thụ hưởng cuộc sống của các tín đồ trang sức lên một tầm cao mới.

Cây bầu gió phân bố ở Iran, ấn độ và Đông Nam á. Trầm hương sinh ra từ cây dó, nhưng không phải loài dó nào cũng tạo ra trầm hương. Theo thống kê của ngành thực vật học, thế giới có khoảng 25 loài dó, nhưng chỉ 15 lòai có khả năng cho trầm hương gồm: Aquilaria crassna; A.baillonii; A.sinensis hoặc A.chinesis; A.borneensis ; A.malaccensis ; A.gollocha ; A.hirta; A.rostrata; A.beccariana; A.cummingiana; A.filaria; A.khasiana; A.microcarpa; A.grandiflora; A.bancana. Trong số những cây bầu gió đó chỉ có rất ít là có trầm, trong quá trình sinh trưởng, do những tác động nào đó, gây ra những “tổn thương/nhiễm bệnh”, lâu ngày cây tích tụ một chất dạng nhựa (dầu), rồi lan dần ra, làm biến đổi các phân tử gỗ, tạo nên nhiều màu sắc (đen, nâu, chàm, xám, … ), nhiều tính chất (cứng, mềm, dẻo, dòn …), nhiều mùi vị (đắng, cay, chua, ngọt, … ), nhiều hình dáng (tròn, xoắn, nhọn, dài, … ), ở nhiều vị trí (thân, cành, rễ) trong cây dó. Đó chính là trầm hương, có tên giao dịch thương mại Quốc tế Agarwood hay Eaglewood.

Đặc điểm nổi bật của trầm hương là tỏa mùi thơm đặc biệt lúc đốt hoặc chưa đốt. Khi hàm lượng dầu lớn hơn 25%, trầm hương có thể chìm trong nước. Lọai trầm hương cao cấp có thể đạt hàm lượng dầu 60-80%. Căn cứ mức độ nhiễm dầu, màu sắc, hương vị, hình dáng, trọng lượng, xuất xứ … mà trầm hương có các tên gọi khác nhau như: Trầm mắt tử, trầm mắt đảo, trầm bọ sánh, trầm bông, trầm da báo, trầm điệp lá, trầm điệp trai, trầm kiến xanh, trầm kiến lọn, trầm rục, trầm sanh …

Theo Đông y, trầm hương là vị thuốc quý hiếm, có vị cay, tính ôn, vào ba kinh: tì, vị, thận; có tác dụng dáng khí, nạp thận, bình can tráng nguyên dương, chữa các bệnh đau bụng, đau ngực, nôn mửa, hen suyển, lợi tiểu, giảm đau, trấn tĩnh, hạ sốt, cấm khẩu, thổ huyết, khó thở.

Theo Tây y, trầm hương có tính kháng sinh, tạo kháng thể mạnh (diệt khuẩn, làm lành vết thương), có tác dụng chữa một số bệnh như bệnh về tim mạch (suy tim, đau ngực), bệnh về hô hấp (hen suyễn), bệnh về thần kinh (an thần, mất ngủ, giảm đau, trấn tĩnh …), bệnh về tiêu hoá (đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy), bệnh về tiết niệu (bí tiểu tiện). Đặc biệt có thể dùng trầm hương để chữa trị ung thư tuyến giáp.

Theo công ước về buôn bán Quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) đã xếp loài dó có khả năng cho trầm hương (Aquilaria) vào lòai cây hoang dã bị đe dọa tuyệt chủng và nghiêm cấm khai thác buôn bán. Chính phủ VN ban hành Nghị định số 18/HĐBT, ngày 17/01/1992, quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng và chế độ quản lý đã xếp cây dó bầu vào nhóm thực vật IA, là những thực vật đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế, có số lượng, trữ lượng rất ít hoặc đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và nghiêm cấm khai thác, sử dụng.

Một thời gian không ngắn sau khi đọc lại những tài liệu cổ được lưu lại thì CEO Hương Tâm Linh phát hiện ra rằng không phải ngày nay Trầm mới khan hiếm mà cách đây cả chục nghìn năm trước Công nguyên, Trầm đã rất khó tìm kiếm. Mặt khác, Trầm có mùi thơm xa, nhẹ nhàng và thường những người có khứu giác tinh tế mới có thể cảm nhận được mùi thơm của Trầm, trong khi đó Người Việt Cổ lại mong muốn có một mùi thơm vừa xa và gần, vừa thơm ngọt nhưng mát, mùi thơm mà tất cả mọi người đều có thể cảm thụ được. Chính vì lẽ đó Người Việt Cổ đã biết chọn lựa nhiều loại thảo mộc để khi đốt lên đáp ứng được yêu cầu trên, hiện thân của phương pháp cổ xưa đó chính là nén Hương Tâm Linh mà ngày nay chúng ta đang sử dụng.

Hương Tâm Linh bắt đầu phát huy được sức hút không thể chối từ của mình, khởi đầu từ những bó nhỏ bé như cây thảo mộc nhỏ bé, đơn sơ cho tới cầu kỳ, tinh tế khi biến hóa thành hương nụ, hương vòng, hương nén, hương sào..vvv. Giới quý tộc thời công xã nguyên thủy và phong kiến sử dụng và tôn sùng Hương Tâm Linh như cách để thể hiện dấu ấn riêng biệt của mình…Sự thống trị của dòng sản phẩm cao cấp Hương Trầm Tâm Linh sau hàng chục nghìn năm có thể được coi là sự thật không tưởng. Khi biết được sự tồn tại của Hương Tâm Linh vắt qua suốt chiều dài lịch sử hình thành đất nước Việt Nam thì nhiều “kẻ ngáng đường” đến từ ngoại quốc đã lặng lẽ rút khỏi và không bao giờ dám xâm nhập thị trường Việt vì biết rằng ở đó đã có Hương Tâm Linh.

Tính tới thời điểm hiện tại, chưa có một sản phẩm nào nào “vượt mặt” được độ bền vững và khả năng sống mãi với thời gian, tuyệt vời như Hương Tâm Linh. Những sản phẩm được sản xuất từ Hương Tâm Linh luôn là những tuyệt phẩm được các thế hệ người V một lòng gìn giữ như kiệt tác tạo hóa đã ban tặng!

Tác giả: CEO Hương Tâm Linh

Đăng bởi

Con không hoàn hảo nhưng hãy luôn tạo ra sản phẩm Hương Tâm Linh theo cách hoàn hảo nhất

Lợi nhuận, chi phí, chất lượng là ba chỉ tiêu bất khả thi mà bất kỳ một hãng sản xuất nào cũng phải đối mặt trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt ở thời đại công nghệ 4.0.

Muốn tăng lợi nhuận phải cắt giảm chi phí nguyên vật liệu, cắt giảm nguyên vật liệu dẫn đến chất lượng sản phẩm suy giảm. Sự khắc nghiệt trong ngành sản xuất hương/nhang thảo mộc còn khó khăn gấp bội khi mà có những vị thuốc, loại thảo mộc không thể thay thế.


Không duy trì đà tăng trưởng lợi nhuận thì không thể thu hút được những người thợ giỏi, dù yêu nghề đến mấy thì người thợ làm nghề, lương của họ phải đủ ăn và nuôi sống được vợ con. 


Mỗi lần một người thợ xin nghỉ việc để chuyển sang những cơ sở sản xuất hương hóa chất là một lần  CEO Hương sạch Tâm Linh gạt lệ. CEO Hương Tâm Linh hoang mang với chính bản thân mình; Phải chăng mình chưa phát huy được hết công thức gia truyền mà thế hệ trước đã truyền lại? Phải chăng mình ngu dốt? Phải chăng mình không phù hợp với thời đại? Phải chăng mình không theo kịp xu thế thị trường?…….


Trong một lần “vi hành” xuống các đại lý doanh số bán hàng thấp tại các tỉnh miền núi phía bắc, CEO Hương Tâm Linh bị xúc động mạnh khi chứng kiến “NGƯỜI” – một vị khách hàng nghèo bán cả gùi rau chưa đủ tiền mua 1 ống Hương Tâm Linh để về thắp hương cho cha vào ngày giỗ, “NGƯỜI” đã cố gắng phân trần với chị bán hàng rằng tất cả trong túi chỉ có bằng đó tiền,  dù thiếu tiền nhưng mong muốn có một nắm Hương Thơm Tâm Linh để thắp hương giỗ cha. 


Tôi đã khóc, khóc vì tấm lòng thành kính, thơm thảo của “NGƯỜI” đối với cha mẹ; Khóc vì sự giản dị, vĩ đại của một nhân cách ẩn chứa trong bộ dạng một người nghèo khổ, khóc vì mình ngu dốt khi  tạo ra  sản phẩm vượt quá tầm tay một ước mơ bình dị, ước mơ ấy xứng đáng được trân trọng. Khóc không có nghĩa là yếu đuối, khóc chỉ là vì muốn giải thoát một điều gì đó. Đôi khi, giọt nước mắt rơi vì tìm được chân lý  là giọt nước mắt hạnh phúc vì thế không có gì mà xấu hổ. 


Sau đó, CEO Hương Tâm Linh ngày đêm nghiên cứu pha chế ra công thức sản xuất mới với giá thành hợp lý hơn mà vẫn giữ được bản sắc, mùi thơm truyền thống. Đồng thời cắt giảm tối đa nhân sự bộ phận kế toán, kho, hành chính, giao hàng để giành quỹ lương cho thợ trực tiếp sản xuất. 


Hàng ngày, người dân Hà Thành vẫn thấy thấp thoáng  CEO Hương Tâm Linh cần mẫn chở hàng như một người thợ lặng lẽ giữa chốn phồn hoa đô thị. 




Trích lược “Sử ký Hương Tâm Linh”

Đăng bởi

Đến với Phật là đến với niềm hy vọng, làm Thế Nào Để Đến Với Phật.

Kinh Phật không nói về chân lý, đúng-sai, yêu thương – hận thù hai mặt. Cho nên Phật không làm quan tòa để phán xử ai. Muốn biết đúng-sai, có tội hay không có tội xin tới tòa án, luật sư, đừng tới Chùa, đừng hỏi Phật.


Ngòai ra Đức Phât cũng không độc quyền về Chân Lý. Bởi vì Chân Lý từ sự vật đi lên. Khi mà “thị chư pháp không tướng” (1) tức thực tướng của muôn vật (vạn pháp) là Không thì Chân Lý cũng chỉ là hư ảo. Do đó, nếu bạn cứ nằng nặc cho rằng điều mà bạn đang tin là Chân Lý thì xin bạn đừng tìm đến Phật kẻo uổng công.

Phật không phải là một ông thần tạo ra trái đất rồi hủy diệt nó vì phẫn nộ. Trái đất và vũ trụ này tự vận hành bởi quy luật Thành-Trụ-Họai-Diệt mà không một quyền năng nào có thể ngăn cản nổi. Một tỷ năm nữa Ngày Tận Thế sẽ đến và đến một cách từ từ. Tất cả đều chết hết, chẳng ai cứu được ai. Chẳng ai có thể chết thế cho ai. Đó là sự thật rất “chân thật”. Cho nên đến với Phật là đến với lòng thành thật. Khi mình chưa thấy sự thành thật là cần thiết: Thành thật với mình và với người thì…cũng chưa nên vội đến với Phật.

Phật cũng không phải là một ông thần, bà thần giáng thế hoặc cha mẹ của thần để ban phúc giáng họa khi nhân loại thờ phượng ngài không đúng cách hoặc làm phật ý ngài vì thế mà nhân gian đã nói và sử sách đã ghi “Hiền như Bụt” cho nên không có gì phải sợ hãi Phật. Vì Phật “hiền như Bụt” cho nên hãy đến với Phật như tấm lòng của con đến với cha mẹ.

Vì Phật là ung dung tự tại do đó trong thế giới chứng đắc của thiền sư không có gì bí mật mà chỉ là những gì đơn sơ như hoa nở, suối reo, chim bay, cá lội, trẻ thơ nhớ mẹ, đói ăn khát uống… thật nhẹ nhàng và an lành.

Những cảm nghiệm đó không nảy nở từ những lâu đài tráng lệ, từ những bữa tiệc linh đình, từ nơi quyền thế, từ những trung tâm tài chánh của thế giới, từ những trung tâm quyền lực, từ kế họach, âm mưu bàn tính, từ kinh đô ánh sáng, từ những lễ nghi huyền bí hay những ngôn từ huyền hoặc, hoa mỹ, sấm truyền vu vơ.

Nó là những cảm nghiệm tinh khôi nhất thoát đi từ vũng lầy khổ đau của kiếp người. Đạo Phật vốn đi lên từ Khổ Đế (2) rồi thăng hoa lên từ Khổ để vượt thóat khỏi thân phận cay đắng, nghiệt ngã của kiếp người… từ đó nhìn thấy cuộc đời này có một chút ý nghĩa.

Do đó trong cuộc sống, người nào chưa từng nếm một chút mùi vị của khổ đau; chưa từng thấy ngoài thế giới vật chất; cuộc sống này còn bao hàm một niềm hoài vọng thiết tha về một cái gì đó vượt lên trên những tương tranh, đố kỵ, tỵ hiềm, những thành công hay thất bại, phú quý tựa như phù vân; những người như thế không thể hiểu Đạo Phật.

Ngoài ra, những ai tự trói buộc mình vào một tín điều, niềm tin, những cấm kỵ nào đó mà không thể thoát ra được – thì cũng không thể hiểu được Phật bởi vì Đạo Phật vượt lên trên mọi ràng buộc câu thúc – nhất là câu thúc về trí tuệ.

Khi bạn nghèo mà bạn không thấy tủi nhục, ray rứt vì nghèo – mà cần mẫn vươn lên trong đạo đức, tuân thủ luật pháp quốc gia và …lúc nào cũng hy vọng. Hiểu được như thế là bạn đã thấy Phật. Xưa kia Đức Phật còn nghèo hơn bạn rất nhiều. Tới bữa trưa ôm bình bát vào thành xin ăn, bữa đói bữa no. Thí chủ cho gì ăn nấy. Áo chỉ ba bộ và là loại áo tầm thường nhất của xã hội lúc bấy giờ, chân đi đất… mà Phật lại trở thành con người vĩ đại nhất hành tinh này. Do đó nghèo không phải là bước đường cùng của con người. Vậy thì đến với Phật là đến với niềm hy vọng.

Khi bạn là người trí thức mà bạn không coi thường người thất học hay người ít học mà tìm cách để giúp họ

Đăng bởi

Chúng ta phải thực hành Giáo Pháp như thế nào?

Phật Giáo được thực hành tại nhiều nước Á Ðông dưới nhiều hình thức, sự khác biệt là do bởi những tín đồ là con cháu của những người lập nghiệp ban đầu đến từ Trung Hoa, Thái Lan, Miến Ðiện, Sri Lanka, Ấn Ðộ, v.v… Cũng có nhiều người đơn giản tự gọi mình là “Phật tử” và thực hành một số nghi lễ mà họ học được từ cha ông dưới danh nghĩa của tôn giáo này.

Ngày nay chúng ta có các Phật tử theo truyền thống Nguyên thủy, Ðại thừa, Kim cang thừa, theo truyền thống Trung Hoa, Thái Lan, Miến Ðiện, Sri Lanka, Tây Tạng, Nhật Bản và Ấn Ðộ. Cũng có một số người chấp nhận theo “Phật giáo Tây phương”. Một số niềm tin và cách thực hành của họ được pha trộn gồm các niềm tin và sự thực hành của tôn giáo khác, rất xa lạ với tinh thần của Giáo pháp nguyên thủy. Tuy vậy, những niềm tin và phương pháp thực hành này vẫn được chấp thuận do sự khoan dung.

Hậu quả đưa đến là có nhiều Phật tử quan tâm đến tôn giáo này cảm thấy rối mù vì họ không biết đâu là phương pháp đúng đắn để thực hành theo. Một số cho rằng chỉ có những gì mình đang thuyết giảng là đúng và còn tất cả mọi người khác đều sai. Có thể thấy rằng Phật tử ngày nay đang đứng ở ngã ba đường và rất cần được sự hướng dẫn để có thể ” đi theo con đường của Đức Phật”. Thay đổi là một hiện tượng tự nhiên. Sự khoan dung trong Phật giáo đã tạo cơ hội cho việc thực hành theo truyền thống khác nhau và chúng ta phải chấp nhận thực tế đó.

Đức Phật trong thực tế đã không đưa ra các nghi thức và các nghi lễ mà chúng ta đang thực hiện ngày hôm nay, Ngài cũng không vì vấn đề nghi thức và nghi lễ mà khuyến khích dân chúng thực hành theo một số truyền thống của Ấn Độ lâu đời đang thịnh hành tại đất nước này vào thời đó. Ngài chỉ quan tâm đến việc giảng dạy Giáo Pháp – chân lý của cuộc sống hay lẽ thực của cuộc đời. Sau khi Ngài nhập diệt, các môn đệ của Ngài ở các nước khác nhau và tại những thời điểm khác nhau đã đưa các truyền thống và văn hóa địa phương của đất nước họ vào Phật giáo khi tôn giáo này đã trở nên phổ biến và phát triển tại các quốc gia đó. Đương nhiên, chúng ta không nên sử dụng tất cả các phương pháp thực hành truyền thống hay là Pháp (Dhamma) được Đức Phật giảng dạy lúc ban đầu. Thông qua nỗ lực không ngừng hoằng dương Chánh Pháp, chúng ta sẽ giúp loại bỏ hoặc chí ít là giảm bớt các nghi lễ sai lạc đang được thực hành hiện nay dưới danh nghĩa của Phật giáo. Để làm điều này, chúng ta phải nghiên cứu những lời dạy uyên nguyên của Đức Phật và tự chúng ta phải quyết định cái gì là đúng và cái gì là sai hay sai.

Ý nghĩa của Pháp

Pháp là một từ rất quan trọng được Đức Phật sử dụng trong những bài giảng mang tính tôn giáo của mình. Theo quan điểm của Phật giáo, “tôn giáo” có một ý nghĩa rất khác so với những khái niệm được định nghĩa bởi các nhóm tôn giáo khác. Pháp là con đường hay phương pháp giảng dạy của Đức Phật cho chúng ta, để chúng ta thực hành theo, nhằm giữ gìn nhân phẩm và trí tuệ của chúng ta, để qua đó có thể sống một cuộc sống cao thượng và chính đáng. Chúng ta được tự do giải thích Pháp theo sự hiểu biết của chính chúng ta; không có nghi lễ nào bắt buộc chúng ta phải thực hành theo mới có thể tự gọi mình là Phật tử. Tôn giáo, mặt khác, hàm ý sự dựa dẫm vào một nguồn lực bên ngoài để phát triển tinh thần, dựa vào sự cứu rỗi qua lời cầu nguyện, đòi hỏi phải thực hiện những nghi thức nghiêm ngặt theo quy định v.v…

Phật Giáo dạy chúng ta có các cõi bất hạnh (đường dữ) là kết quả của cách sống của chúng sanh từ những kiếp quá khứ của họ. Kẻ nào vi phạm giáo Pháp hay định luật vũ trụ sẽ bị tái sanh trong một của bốn cõi bất hạnh, cụ thể là: địa ngục, súc sanh, A-tu-la, và ngạ quỷ. Những cõi giới này không nằm trong một vùng địa dư đặc biệt nào đó trong vũ trụ nhưng tồn tại bất cứ ở đâu trong vũ trụ nơi chúng sanh có thể cư ngụ. Những người hộ trì Pháp không bao giờ bị tái sanh vào những cõi giới bất hạnh trên.

Khi chúng ta sống theo đúng những nguyên tắc của Pháp, chúng ta thực sự đang sống như là “những Phật Tử tốt, thực hành Phật pháp”. Vì vậy, điều quan trọng nhất mà chúng ta cần phải biết là hoàn cảnh riêng của mỗi cá nhân chúng ta và sống đúng theo Pháp dạy bởi Ðức Phật. Là Phật tử, chúng ta phải đặt trọn vẹn lòng tin của chúng ta vào Ðức Phật, Pháp và Tăng (Tam Bảo) và chúng ta cũng phải có một sự hiểu biết về ý nghĩa của Tam Bảo. Chỉ như vậy, chúng ta mới có được phước lành, sự bảo hộ và sự hướng dẫn. Không có những kiến thức và sự hiểu biết như vậy, ai đó làm bất cứ việc gì dưới danh nghĩa Phật Giáo cũng không đem lại kết quả mong muốn cho mình.

Chúng ta phải tái sanh mãi hoài theo nghiệp do chúng ta tạo ra. Có lẽ các bạn muốn biết nghiệp là gì? Theo cách nói đơn giản nhất , nghiệp có thể được giải thích là – hãy làm điều thiện và những điều tốt đẹp sẽ đến với các bạn ngay bây giờ và sau này; hãy làm những điều bất thiện và những điều xấu ác sẽ đến với các bạn ngay bây giờ và sau này, trong vòng sanh tử luân hồi.

Để sống chúng ta phải tranh đấu không ngừng, và đây là điều kiện của thế gian. Bởi vì chúng ta tin vào cái “ngã” hay cái “tôi” ảo tưởng, chúng ta có khuynh hướng nuôi dưỡng trong chúng ta những phẩm chất tiêu cực như nóng giận, ghen ghét, tham lam và sân hận. Chúng ta tin rằng sự sống còn của chúng ta chỉ được bảo đảm nếu chúng ta tiêu diệt bất cứ ai mà chúng ta cảm thấy họ là một nguồn nguy hiểm đối với chúng ta – và chúng ta tin đó là sự “sống còn thích đáng nhất”. Chúng ta lo lắng và khóc lóc không cần thiết về những điều mà chúng ta ham muốn nhưng không đạt được.

Chúng ta cũng có xu hướng sống để tận hưởng cuộc sống bằng cách nói dối, lừa đảo hoặc gạt gẫm đồng loại của chúng ta và quấy rối sự an ổn của những người khác. Vì vậy chúng ta làm nhiều điều ác hơn là điều thiện. Niềm tin của chúng ta vào một cái ngã thường hằng đưa chúng ta đến việc tìm kiếm sự tự bảo vệ mình, và sự tự bảo vệ này thường trả giá bằng chính sinh mạng của những chúng sanh khác. Đó là lý do tại sao chúng ta rất dễ làm những việc bất thiện. Điều này sẽ đưa đến sự hiện hữu của chúng ta trong những kiếp tương lai dưới các hình thức khác nhau, xấu hoặc tốt là do những việc làm thiện hoặc bất thiện tương ứng mà chúng ta đã làm quyết định. Pháp được giảng dạy bởi Đức Phật hướng dẫn chúng ta tránh những hành động bất thiện để có thể duy trì sự tồn tại đầy may mắn của chúng ta dưới dạng con người mà chúng ta đang có được. Điều này có nghĩa là sự tái sinh của chúng ta sẽ có thể xảy ra trong bất kỳ một cõi giới hạnh phúc nào như cõi người hoặc cõi trời. Bằng sự hiểu biết quy luật của Vũ trụ hay hiện tượng tự nhiên hoặc Pháp, chúng ta phải rèn luyện nhân phẩm và tự sống hòa hợp với các chúng sanh khác. Sống theo cách này, chúng ta sẽ trở thành những người có văn hóa và biết quan tâm đến các chúng sanh khác. Chúng ta cũng có thể yên tâm rằng sau khi chết, chúng ta sẽ có thể tránh không bị tái sinh vào bất kỳ một cõi giới bất hạnh nào.

Trong Phật giáo mục đích cuối cùng của chúng ta không chỉ đơn thuần là để được sinh ra ở một nơi mà chúng ta có thể tận hưởng những niềm vui thế tục. Chừng nào chúng ta còn tiếp tục làm những việc tốt đẹp, chúng ta sẽ được sinh ra trong những cõi giới hạnh phúc, tuy nhiên ngay cả những cõi giới này cũng không làm cho chúng ta thỏa mãn. Chúng chỉ được coi là tạm thời, vì khi kho tàng thiện nghiệp mà chúng ta tích lũy được bấy lâu trở nên cạn, chúng chúng ta sẽ chết và tái sinh theo bất cứ những gì còn sót lại của nghiệp còn lại. Vì vậy Phật tử tốt không chỉ đơn thuần thỏa mãn với cuộc sống trần tục, họ phấn đấu để tịnh hóa tâm thức và phát triển trí tuệ (panna). Chỉ bằng cách này chúng ta cuối cùng mới có thể đạt đến Níp-bàn – nơi có không còn tái sanh, không còn nghiệp và không còn sự bất toại nguyện.

Bằng cách tu dưỡng đời sống tinh thần, chúng ta sẽ có thể thấy sự chấm dứt mọi khổ đau về mặt thể xác và tinh thần của chúng ta. Đây phải là mục đích cuối cùng hoặc mục tiêu cuối cùng của cuộc sống của chúng ta. Hôm nay, chúng ta đang phấn đấu để thoát khổ. Vì chúng ta đang làm điều này không đúng cách, chẳng mấy ai có thể hiểu được rằng đó rồi chỉ là một sự chiến bại. Nếu chúng ta thực sự muốn thoát khỏi khổ vĩnh viễn, chúng ta sẽ phải tìm ra một phương pháp đúng đắn mà Đức Phật xác định rõ ràng trong Pháp.

Nền tảng của đạo Phật

(Giới, Ðịnh, Tuệ)

Pháp dạy bởi Đức Phật chỉ cho ta con đường chân thiện. Con đường hoặc phương pháp này được phân thành ba giai đoạn. Chúng là Sila (Giới), Ðịnh (Samadhi) và Tuệ (Panna). Chúng là ba nguyên tắc cơ bản hoặc ba trụ cột của Phật giáo, có thể được phát triển qua nhiều kiếp sống với sự tinh tấn, và đưa chúng ta đến sự an bình tối thượng.

Chúng ta hãy nói về Giới (Sila) hoặc sự phát triển đạo đức thông qua việc rèn luyện kỷ luật. Chúng ta phải học cách sống như những con người vô hại và nhu hòa. Nói một cách đơn giản, chúng ta phải biết làm thế nào để sống mà không làm ảnh hưởng đến hòa bình và thiện chí của người khác. Nếu chúng ta có thể làm được điều này, đây thực sự sẽ là một thành tích tuyệt vời. Kỷ luật, hạnh kiểm tốt, giới luật tốt và đạo đức tốt đều đồng nghĩa với từ “Sila” (Giới) này. Đây là nền tảng mà trên đó chúng ta khởi sự đời sống theo tôn giáo của chúng ta. Nếu một căn nhà được xây dựng mà không đặt một nền móng thích hợp, nó sẽ không vững bền.

Con người hiện đại học cách để sống theo Sila (giới) một cách khó khăn. Nó có nghĩa là tôn trọng quyền được tồn tại của người khác. Nếu chúng ta tin rằng thế giới được tạo ra chỉ vì lợi ích của riêng chúng ta, chúng ta lấy từ cuộc sống này bất cứ điều gì chúng ta muốn một cách bừa bãi, không cần quan tâm đến những gì sẽ xảy ra cho chúng sinh khác và môi trường như cây cối, sông ngòi, bầu khí quyển v.v… Cuối cùng, kết quả là sự mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng của thiên nhiên do chúng ta tự tạo ra bởi lối sống hiện đại của chúng ta, chúng ta sẽ tự tiêu diệt chính mình. Một Phật tử tốt phải có sự tôn trọng và quan tâm sâu sắc đến hạnh phúc của mỗi chúng sinh. Đây là Sila (giới). Nhưng chỉ một mình Sila thôi thì không đủ vì chúng ta cũng cần phát triển Ðịnh (Samadhi) và Tuệ (Panna) mà tôi sẽ giải thích rõ trong các đoạn tiếp theo.

1. Tâm

Sau khi trau dồi hạnh kiểm, chúng ta phải tập trung vào việc huấn luyện tâm. Chỉ có con người là một sinh vật trong vũ trụ có đủ khả năng rèn luyện tâm đến mức tối đa để đạt được giác ngộ hay trí tuệ tột bực. Thật vô cùng khó cho một sinh vật khác không phải là con người để có thể phát triển tâm đến mức độ đó. Đó là lý do tại sao ai đó muốn trở thành một vị Phật phải thuộc giống người. Ngay cả chư thiên muốn trở thành Phật phải truớc tiên được làm người đã. Lý do là vì chư thiên chỉ thụ động hưởng các nghiệp tốt mà mình tạo ra trong quá khứ – Chỉ có con người mới có thể tích cực tạo ra thiện nghiệp mới cũng như có thể nỗ lực qua thiền tập để hoàn toàn tịnh hóa tâm thức.

Là con người, trong tâm của chúng ta có một khả năng tiềm ẩn rất lớn, nhưng tiềm năng đó bị che khuất bởi sân hận, ảo tưởng, vô minh, tham ái, ích kỷ và nhiều phiền não khác của chúng ta. Chúng ta phải hiểu rõ rằng với việc để cho từng giây trôi qua, chúng ta đang lãng phí và lạm dụng nguồn năng lượng tâm của mình để theo đuổi các mục đích không cần thiết. Chúng ta không biết làm thế nào để khai thác nguồn năng lực tâm to lớn đó vào mục đích hữu ích và tốt đẹp. Ðức Phật chỉ cho chúng ta thấy cách để khai thác cái nguồn năng lượng tâm to lớn đó và sử dụng nó cho sự giải thoát khỏi khổ đau của chúng ta. Trong lần tái sanh cuối cùng, thái tử Sakyamuni đã hy sinh cả cuộc đời và vương quốc của mình; Ngài tu khổ hạnh cho đến khi cuối cùng giải thoát được tâm và đạt được giác ngộ tối thượng. Ngài bảo đảm với chúng ta rằng với việc phát triển và thanh tịnh tâm hóa tâm, chúng ta có thể theo gót chân Ngài và sẽ chứng nghiệm hạnh phúc tối thượng.

Bạn có biết lượng năng lượng tâm chúng ta sử dụng qua năm cửa giác quan và trí tưởng tượng là bao nhiêu không? Quá nhiều năng lượng tâm đã lãng phí qua những sự tưởng tượng vô ích, cám dỗ và thất vọng. Ðức Phật giới thiệu cho chúng ta một phương pháp đã được chứng nghiệm để khai thác nguồn năng lượng tâm rộng lớn và phương pháp đó được gọi là “Thiền “. Thiền có nghĩa là khai thác nguồn năng lượng tâm qua việc định tâm và từ đó chúng ta tiến đến việc huấn luyện và thuần phục tâm. Không thể trau dồi tâm trí chỉ đơn giản bằng sự chí thành cầu nguyện và sùng bái một vị thần linh nào đó, hay qua việc thực hiện một số các nghi thức và các nghi lễ khác nhau. Chúng ta không bao giờ có thể hy vọng đạt được minh, trí tuệ, sự thanh tịnh hay giác ngộ qua việc thực hành các nghi thức và cầu nguyện. Ðức Phật nói trong kinh Tứ Niệm Xứ (Sati-Patthana) là chỉ có thiền là con đường duy nhất hay là phương pháp duy nhất chúng ta sử dụng để có thể đạt được thanh tịnh và giác ngộ.

Ở đây chúng ta thường nhầm lẫn giữa Phật giáo và Thiền. Phật Giáo là việc thực hành tất cả lời của Ðức Phật được thể hiện qua các nền văn hóa phổ biến khác nhau, trong khi thiền là một phương pháp cụ thể được phát triển để thanh lọc tâm. Một khi một người đã giữ kỷ luật qua việc thực hành Giới và đã kiểm soát được thân, tâm trí sẽ sẵn sàng cho việc phát triển – qua thiền tập. Ðó là con đường duy nhất cho cuộc giải thoát chung cuộc của chúng ta khỏi cuộc hiện hữu này. Ở đây Ðức phật nói về thực hành thiền định cho việc huấn luyện tâm trí và thiền quán (thanh lọc tâm) để đạt đến giải thoát cuối cùng. Vì tâm của chúng ta bị ô nhiễm, phương pháp này giúp chúng ta tự loại trừ các lo lắng, khổ đau và rối loạn tâm thần.

Bạn có thể đi đây đó để sùng bái các vị thần và các nữ thần khác nhau với hy vọng được thoát khỏi những lo lắng và rối ren của các bạn. Nhưng trừ khi và cho đến khi nào bạn huấn luyện được tâm của chính mình để có một sự hiểu biết đúng về bản chất của sự hiện hữu, cũng như hiểu rõ bạn là ai, bạn có thể sẽ không bao giờ thực sự thoát khỏi các khổ đau và lo lắng đó.

Thiền là con đường qua đó chúng ta có thể đạt được bốn quả vị thánh là Tu- đà- hườn ( Sotapanna),Tư-đà-hàm (Sakadagami), A-na-hàm (Anagami ) và A-la-hán (Arahat) để chứng nghiệm hạnh phúc Niết Bàn. Chỉ khi nào chúng ta hiểu được Pháp do đức Phật dạy và hiểu rõ những gì chúng ta thực tế đang làm dưới danh nghĩa của Phật giáo, chúng ta mới có thể phân biệt được đâu là các hành động không đưa chúng ta đến hạnh phúc thật sự và đâu là những hành động mà chúng ta gọi là “thiện xảo” tích cực giúp chúng ta thoát khỏi khổ và vô minh.

2. Tư cách con người

Một điều quan trọng khác là việc phải hiểu rõ tính cách của chúng ta. Chúng ta phải biết rằng những tính cách mà chúng ta đã huân tập từ những kiếp trước sẽ ảnh hưởng đến việc hun đúc những thói quen của chúng ta trong đời sống hiện tại.

Đó là lý do tại sao tất cả chúng ta đều có những cá tính và thái độ khác nhau. Ngay cả đến những đứa con có cùng cha mẹ nhưng tâm tính, tính cách, khuynh hướng và tính tình của chúng cũng khác nhau. Đây được xem là những biểu hiện của thói quen tinh thần của từng người được phát triển qua nhiều kiếp sống khác nhau. Trong khi đứa trẻ thứ nhất có tư tưởng tạo tội, thì đứa thứ hai lại rất hiếu thảo và sùng đạo, đứa thứ ba lại rất thông minh, đứa thứ tư thì ngu đần, đứa thứ năm rất ngay thẳng thực thà, đứa thứ sáu thì hết sức xảo quyệt, vân vân… Đây là những biểu hiện của thói quen về mặt tinh thần của chính chúng.

Trong tàng thức của chúng ta, chúng ta cũng lưu giữ những thói quen tinh thần như vậy từ kiếp sống này qua kiếp sống khác. Thức là một khả năng rất năng động của tâm. Tất cả năm giác quan (thấy, nghe, ngửi, nếm và xúc chạm) đưa các đối tượng từ bên ngoài tác động lên tâm và tạo thành các đối tượng của tâm. Ba khả năng khác của tâm liên quan đến cảm xúc, ký ức, thói quen tốt hay xấu về mặt tinh thần cũng thuộc về thức. Khi chúng ta chết, thức của chúng ta lìa bỏ thân, hòa nhập bốn yếu tố và năng lượng của vũ trụ để tạo thành một cuộc sống khác. Bốn yếu tố đó là tứ đại gồm chất đặc (đất), chất lỏng (nước), nhiệt (lửa) và sự chuyển động (gió).

Đây là chính là cách chúng sanh xuất hiện và tái xuất hiện mãi hoài. Để bảo đảm chúng ta có được những thái độ tinh thần đáng có trong tương lai, chúng ta phải nỗ lực đúng đắn để phát triển các thái độ tinh thần tốt đẹp mà chúng ta đang có trong hiện tại, ngay trong kiếp sống này. Một khi tiến trình thanh lọc tâm được khởi sự và được trưởng dưỡng một cách cẩn trọng, chúng ta có thể đem nó sang những kiếp sống kế tiếp để tiếp tục phát triển thêm . Vì vậy việc huấn luyện tâm để đạt được được sự thanh tịnh trong tâm là giai đoạn thứ hai cần thiết để đưa đến Phật tử đến với một cuộc sống mang ý nghĩa tôn giáo thuần túy. Ðây được gọi là Samadhi (Thiền định).

3. Tính cách khác nhau

Phật Giáo giúp cho chúng ta hiểu được được tính cách riêng của chính chúng ta. Do đó, nếu chúng ta hiểu được tâm của chúng ta và thừa nhận các nhược điểm của chính chúng ta thì chúng ta có thể dễ dàng huấn luyện tâm mình. Ðó là con đường duy nhất để đạt được an vui và hạnh phúc. Ðức Phật dạy chúng ta cách để phân tích tâm mình nhằm hiểu được các phiền não nằm ở đâu trong tâm của chúng ta và bởi vì đâu mà những rối ren lại phát sinh làm ô nhiễm tâm trí.

Ðức Phật là một vị thầy hết sức thực tế nên Ngài vẫn chưa ngừng tại đây. Ngài tiến sang giai đoạn kế tiếp và chỉ cho chúng ta cách để thay đổi thái độ tinh thần mình. Nếu tâm của chúng ta huân tập những tập khí để chúng ta là người hay nóng giận, ích kỷ, tham lam, ganh ghét và độc ác, Ðức Phật dạy cho ta các phương pháp khác nhau để huấn luyện những cái tâm như vậy. Ngài nói “tâm” là kẻ dẫn đầu của các trạng thái tinh thần. Cho dẫu chúng ta làm điều gì, điều đó bắt đầu từ nơi tâm của chúng ta mà ra. Việc này nhắc chúng ta một nguyên tắc nổi tiếng được ghi trong lời tựa của Hiến Chương UNESCO về nhân quyền như sau: “ Vì chiến tranh khởi đầu trong tâm của con người, do đó cũng chính tâm của con người sẽ bảo vệ hòa bình kiến tạo được “. Cho nên khi chúng ta ngưng các tư tưởng tội lỗi sinh khởi trong tâm, chúng ta sẽ có khả năng chỉ làm những điều tốt đẹp mà thôi. Ðó là cách thực hành Phật pháp.

Nhưng nhiều người có khuynh hướng chung là lờ đi tất cả những khía cạnh quan trọng của những lời dạy của Ðức Phật và thay vào tập trung đến mặt nghi thức hơn, bằng cách ấy họ đang tìm một con đường dễ dàng để thoát khổ. Trong Phật giáo, chúng ta không thể đạt được sự cứu rỗi chỉ đơn giản bằng cách làm vừa lòng hay tán dương các vị thần mà không huấn luyện tâm trí.

Giai đoạn thứ ba và cũng là giai đoạn cuối cùng là Tuệ ( Panna) có nghĩa là Trí tuệ Tối thượng. Trí tuệ ở đây không đơn giản là kiến thức về mặt học thuật hay khoa học. Chúng ta có thể thâu góp kiến thức rộng rãi từ sách vở qua việc học hỏi nhưng kiến thức đó tự thân nó không mang lại trí tuệ. Trí tuệ không thể xuất hiện trong tâm chừng nào sự ích kỷ, sân hận và ảo giác còn chiếm ưu thế trong tâm. Chỉ khi nào những chướng ngại tinh thần trên được hoàn toàn loại trừ ra khỏi tâm và được thay thế bằng một sự phát triển tâm thì trí tuệ thực sự mới phát sanh. Trí tuệ như ánh sáng rạng ngời. Khi ánh sáng sáng xuất hiện, bóng tối biến mất; cái này thay thế cái kia. Đôi khi, sức mạnh của bất thiện pháp âm ỉ trong tâm chúng ta chợt bùng lên theo sức mạnh của sự cám dỗ hoặc do bị chọc tức tại một thời điểm nào đó. Khi sân hận bốc lên, chúng ta phô bày bộ mặt xấu xa của chúng ta. Sức mạnh ma vương trong tâm vì vậy có thể trồi lên để làm thay đổi và làm vẩn đục thái độ tinh thần của chúng ta. Ngay cả đến một người đeo đuổi một đời sống tôn giáo trong một thời gian dài vẫn có thể rơi vào trạng thái tinh thần kinh khủng đó, nếu tâm của người ấy chưa được huấn luyện một cách đúng đắn và những trạng thái bất tịnh chưa hoàn toàn được nhổ tận gốc rễ.

Ðây là những gì mà Ðức Phật dạy và đây cũng là những gì mà chúng ta phải thực hiện để sống một đời sống theo Phật giáo. Trước tiên chúng ta phải trau dồi nền tảng đạo đức của chúng ta, sau đó cố gắng để hiểu bản chất tự nhiên của tâm và rồi huấn luyện nó để chúng ta có thể khám phá ra phương thuốc giúp làm sạch những cấu uế trong tâm. Sau khi diệt trừ những phiền não trong tâm chúng ta, chúng ta sẽ có thể vun bồi một sự hiểu biết đúng đắn. Cuối cùng chúng ta đạt được Trí tuệ và thoát khỏi khổ về mặt vật chất lẫn tinh thần – mục đích tối hậu mà mọi Phật tử chân chính đều mong muốn đạt được.

Tôn giáo có thể chia thành hai nhóm

Chúng ta có thể phân loại những tôn giáo hiện có thành hai nhóm: Những tôn giáo hoàn toàn dựa vào đức tin, và những tôn giáo dựa vào sự thanh tịnh hóa tâm hơn là dựa vào niềm tin. Những người coi trọng đức tin hơn là sự thanh tịnh của tâm tin tưởng rằng họ có thể đạt được sự cứu rỗi tối hậu chỉ qua niềm tin mãnh liệt của họ. Với những người này, thanh tịnh hóa tâm không phải là một khía cạnh quan trọng. Đó là lý do tại sao họ nói rằng không ai có thể đạt được cứu rỗi chỉ bằng sự giữ gìn đạo đức và giới hạnh mà không đồng thời phát triển một niềm tin mạnh mẽ vào một vị thần (Thượng đế). Phật Giáo, trái lại, dạy rằng đức tin không phải là một khía cạnh quan trọng nhất, nhưng thanh tịnh hóa tâm mới là quan trọng nhất. Khi tâm thanh tịnh đi đôi với trí tuệ, chúng ta không bao giờ nắm giữ một ý tưởng sai lầm làm chân lý. Chỉ đơn thuần niềm tin không thôi không thể thanh tịnh hóa được tâm trí nhằm loại bỏ các hoài nghi nhằm giúp chúng ta hiểu được chân lý.

Người ta có thể duy trì một niềm tin sai lầm mà chẳng cần phân tích hoặc lý luận vì họ sợ rằng nếu họ làm như vậy họ có thể bị mất niềm tin, và như vậy họ cũng sẽ mất luôn cơ hội để đạt được cứu rỗi. Lời khuyên của Ðức Phật, trái lại, là trước khi chấp nhận bất cứ niềm tin nào như là chân lý, chúng ta phải nghiên cứu, tìm hiểu, thực hành và cuối cùng chính chúng ta phải nhìn thấy kết quả. Khi chúng ta đi đến kết luận sau khi đã thực hiện một cuộc điều tra, phân tích kỹ lưỡng, chúng ta sẽ có được sự tự tin vào chân lý, vì chúng ta đã xác minh nó một cách thỏa đáng cho chính mình. Qua việc tự bản thân mình nhận ra chân lý, chúng ta tự nhiên đạt được niềm tin. Đây là không chỉ là đức tin hay niềm tin thuần tuý mà là sự chứng nghiệm.

Lời khuyên của Ðức Phật là đừng tin mà cũng đừng bác bỏ ngay bất cứ điều gì. Vì chúng ta có trí óc của con người giúp cho chúng ta điềm tĩnh suy nghĩ, vì vậy chúng ta phải tạo cơ hội cho tâm trí suy nghĩ một cách độc lập và hiểu sự việc theo đúng triển vọng của chúng. Chúng ta đừng nên nghĩ là chúng ta không thể hiểu được. Một số người quá lười biếng không chịu hiểu sự vật đúng như bản chất của chúng, và vì vậy tìm con đường dễ dàng bằng cách tự nhượng bộ với những gì mà người khác nói vì họ không có sự tự tin nơi chính mình. Một Phật tử chân chính, trái lại, tự trọng, hiểu biết tường tận cái mà mình phải chịu trách nhiệm cho chính mình, cho hành động và sự cứu rỗi của chính mình. “Không ai có thể cứu chúng ta ngoài chính chúng ta”, Ðức Phật chỉ cho ta con đường đúng đắn.

Ba phương pháp đơn giản khác (Bố thí, trì giới và hành thiền)Cho đến nay, chúng ta đã tìm hiểu từ những đoạn trước rằng để tiến đến một cuộc sống thực hành theo Giáo pháp thực tiễn của Đức Phật, chúng ta cơ bản phải phát triển đạo đức, kỷ luật hay là Giới (Sila), Định (Samadhi) và Tuệ (Panna).

Có ba phương pháp đơn giản hơn để thực hành Phật pháp. Chúng là: Bố thí, trì Giới và hành thiền. Bố thí (Dana) có nghĩa là đóng góp hay hy sinh cái gì đó vì lợi ích của kẻ khác. Bố thí phải được thực hành mà không có bất kỳ động lực thầm kín hoặc sự vị kỷ. Vậy mục đích của việc bố thí là gì? Thái độ chân chính của người Phật tử khi bố thí là không phải cho đi để hy vọng sẽ được đền ơn đáp nghĩa, mà là để giảm bớt lòng vị kỷ. Chúng ta phạm nhiều lỗi lầm nghiêm trọng và quấy rầy người khác vì lòng ích kỷ của chính chúng ta. Vì vậy khi chúng ta đóng góp một cái gì đó cho lợi ích của người khác, chúng ta thực sự làm giảm những ham muốn ích kỷ của chúng ta và thay vào đó chúng ta phát triển tình thương, lòng tốt và sự hiểu biết. Ðó là cách thức để khởi đầu lối sống theo Phật giáo cho sự phát triển tinh thần của chúng ta.

1. Giới

Giai đoạn thứ hai là Giới (Sila). Như chúng ta đã biết Giới có nghĩa là phát triển hạnh kiểm, đạo đức như chúng ta đã nói trước đây. Có năm giới quan trọng mà người cư sĩ phải giữ. Đó là tránh không giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối và dùng các chất gây nghiện. Khi chúng ta tuân giữ những nguyên tắc cao thượng đó, chúng ta không chỉ vun bồi cách sống theo tôn giáo mà còn giúp ích hơn cho người khác qua việc để cho họ được sống an vui. Bằng cách sống một cuộc sống thanh tịnh theo Bát chánh đạo, tự thân chúng ta trở nên cao thượng và cuộc sống sẽ trở nên có nhiều ý nghĩa. Những ai có trình độ phát triển tinh thần cao, thấy việc sở hữu của cải vật chất và quyền lực thế gian là vô nghĩa, họ từ bỏ cuộc sống thế tục và giữ thêm nhiều giới hơn nữa, những người này sẽ có được thanh thản và hạnh phúc nhiều hơn.

Nhiều người tuân theo những điều răn hay những luật lệ trong tôn giáo với một niềm tin kiên định rằng nếu họ vi phạm bất cứ điều răn nào như vậy, đấng thiêng liêng sẽ trừng phạt họ. Sợ đấng thiêng liêng hay sợ bị trừng phạt vì vậy sẽ giống như một cái hàng rào (ngăn không cho họ không làm những điều bất thiện) và đó cũng là lý do chính khiến họ phải tuân theo các luật lệ của tôn giáo họ. Do vậy họ làm “việc tốt” không phải vì bản chất của họ tốt, xuất phát từ một cái tâm thanh tịnh, mà do họ muốn đè nén những suy nghĩ bất thiện vì sợ bị trừng phạt.

Không hiểu rõ nguyên nhân của chúng, những ý nghĩ bất thiện chỉ bị đè nén mà không hoàn toàn bị diệt tận, chúng vẫn ngủ ngầm trong tâm của chúng ta. Vì vậy những ý nghĩ này tự nó sẽ sinh khởi bất kỳ lúc nào nếu tâm của chúng ta không được phòng hộ. Nếu một người nào đó nói là họ không thích giết hại chỉ vì sợ đấng thiêng liêng trừng phạt, điều này cho thấy rằng người đó chưa hề tu tâm dưỡng tánh để làm giảm sự độc ác, sân hận và vì vậy chưa phát triển lòng từ bi đối với chúng sanh khác.

Các phẩm chất nhân đạo như vậy sẽ không có mặt nếu trong con người đó vẫn còn hiện hữu niềm sợ hãi không ngừng về sự trừng phạt từ một vị thần. Người ấy sợ vì sự an ninh của chính mình với một động lực vị kỷ. Khi người Phật tử giữ giới “không giết hại”, họ không bận tâm đến một sự trừng phạt nào nhưng họ nghĩ đến cái nguy hại của sự độc ác và khổ đau mà họ tạo ra cho chúng sanh khác. Bằng cách quan tâm đến sự nguy hại của hành động giết hại, người Phật tử, vì lẽ ấy, kiềm chế không giết hại. Như vậy họ còn tạo cho tâm cơ hội để trau dồi những đức tính tốt như tử tế, từ bi, đồng cảm và hiểu biết. Họ cũng giữ tất cả các nguyên tắc của Phật giáo với một tinh thần tương tự như vậy.

Về hành động giết hại Ðức Phật dạy: “Nếu ông không thể hiểu tại sao giết hại chúng sanh khác là bất thiện, ông hãy xem xét như thế này: Khi một người nào đó đến và cố gắng giết ông, hãy nghĩ xem ông sẽ cảm thấy thế nào ngay trong lúc đó. Ông sẽ cố gắng thế nào để tránh bị sát hại và tránh chịu những nỗi đau về thể xác nào mà ông phải chịu đựng?” Lời dạy của Đức Phật thật là quá đủ để cho bạn hiểu tại sao giết hại là bất thiện. Nếu bạn không hiểu tại sao trộm cắp là bất thiện, hãy nghĩ xem bạn sẽ cảm thấy như thế nào khi có người đến lấy đi của cải của bạn? Khái niệm đó được tóm tắt trong kinh Pháp Cú như sau:

Ai cũng run sợ trước gậy gộc

Ai cũng sợ chết

Cân nhắc việc này

Ta không nên đánh dập

Hoặc gây ra sự giết chóc.

Ðây là một phương pháp tu tập thực tiễn cho cuộc sống hàng ngày và không nên xem nó như là một học thuyết hay là một điều răn từ một người có thẩm quyền hay một chúng sanh tối thượng, kẻ vừa là người trừng phạt vừa là người ban thưởng. Bằng cách sử dụng kiến thức của loài người, chúng ta nên hiểu những quả xấu là kết quả của những hành động tội lỗi. Một số người có thể nói rằng họ bị cấm không được làm một số điều nào đó chỉ vì tôn giáo của họ nói như vậy. Nhưng đó không phải là cách (đúng đắn) để cho một người trưởng thành tuân theo cái gì phải làm và cái gì không nên làm. Khi chúng ta giữ giới, chúng ta không nên nghĩ rằng chúng ta đang giữ chúng vì lợi ích riêng tư của chúng ta. Khi bạn ngưng giết hại và làm phiền người khác, họ có thể kỳ vọng rằng mình sẽ được sống yên ổn bởi vì bạn không tạo niềm sợ hãi trong tâm của họ. Một sự đóng góp tuyệt vời đến nhường nào cho những người chung quanh bạn! Khi bạn không trộm cắp, không nói dối và lừa đảo người khác, họ có thể có sự an toàn, hạnh phúc và bình yên hơn. Nếu mọi người trong đất nước này có gắng giữ mình theo các nguyên tắc cao quí về hạnh kiểm và đạo đức này, (cuộc sống) sẽ hạnh phúc biết bao!

2. Tại sao cần có tôn giáo?

Con người tự bản chất đôi khi không đáng tin cậy và vì vậy họ vi phạm các nguyên tắc. Đó là lý do tại sao tôn giáo cần phải có để dạy dỗ con người. Trong quá khứ chúng ta sợ hãi những hiện tượng thiên nhiên như sấm chớp, dã thú, ma và quỷ. Sau này chúng ta nhận ra rằng nhiều niềm tin của chúng ta vào ma, quỷ là không có cơ sở và chỉ là do tưởng tượng. Ngày nay chúng ta không để ý đến chúng nữa.

Cái mà chúng ta cần phải sợ thật ra chính là những con người nhẫn tâm, họ đang sai lầm khi phá hoại hòa bình và hạnh phúc của chúng ta. Thật là khó khăn để cải tạo những con người như vậy để làm cho họ thành những người đáng tin cậy. Về một phương diện nào đó, động vật được coi là đáng ngưỡng mộ hơn con người. Mặc dù động vật không theo một tôn giáo nào, chúng sống theo thiên nhiên. Chúng chỉ được hướng dẫn bởi bản năng để sống còn và không bao giờ tấn công những con vật khác ngoại trừ trường hợp tự bảo vệ hay vì miếng ăn. Chúng không có sự lừa dối.

Chính tâm của con người cần phải có một tôn giáo để suy ngẫm và để hiểu biết. Con người cần các chuẩn mực đạo đức để giúp làm giảm sự ích kỷ và dối trá. Con người có thể nhào nặn tâm của mình vì mục đích riêng cũng như vì lợi ích cá nhân của mình. Ðể làm cho thẳng cái tính quanh co của tâm con người, tôn giáo rất cần thiết. Albert Einstein đã từng nói: “Năng lực nguyên tử đã làm rung động và thay đổi tất cả thế giới; nhưng ngay cả năng lực nguyên tử mạnh như vậy cũng không làm thay đổi được bản chất của con người”. Tâm của con người vẫn quanh co, không đáng tin cậy, và nguy hiểm như thưở con người mới hiện diện trên trái đất này. Nhưng tôn giáo có thể thay đổi cái tâm này cho một mục đích tốt đẹp hơn nếu con người thực sự tôn trọng các nguyên tắc tôn giáo.

Ở đây chúng ta phải định nghĩa tôn giáo có nghĩa là gì. Với người Phật Tử, “tôn giáo” có nghĩa là một cái gì đó rất khác với ý nghĩa của danh từ này được chấp nhận theo cách thông thường trên thế giới. Phật Giáo là một tôn giáo xây dựng con người trong tương lai thành những người có lòng tịnh tín với Giáo pháp của Ðức Phật, họ tu tập để đạt đến sự tự cứu rỗi bằng cách làm những việc lành thiện và thanh lọc tâm. Giáo pháp của Ðức Phật không đặt bất cứ một sự tin tưởng nào vào sự cầu nguyện, van xin cũng như các nghi lễ. Đó là lý do tại sao Ðức Phật nhiều lần khuyên chúng ta hãy nghiên cứu bản chất của tâm. Nhờ vậy chúng ta có thể hiểu được các nhược điểm của chúng ta nằm ở đâu và chỉ khi đó chúng ta mới có thể tìm thấy một giải pháp thích hợp để loại trừ các yếu điểm của chúng ta nhằm tự cứu lấy mình. Phật Giáo dạy chúng ta sự tin cậy vào chính mình.

3. Hành thiền

Giai đoạn cuối cùng hay giai đoạn thứ ba là Bhavana hay hành thiền để phát triển tâm. Không có thiền chúng ta không thể đạt được mục tiêu hay mục đích của đời ta. Mục đích của đời ta là nhìn thấy sự chấm dứt khổ của chúng ta. Vậy thì, thiền là gì? Khi chúng ta phát triển tâm bằng cách loại trừ những cấu uế trong tâm, chúng ta sẽ đạt được sự thanh tịnh. Chúng ta tinh tấn dũng mãnh để có thể đạt đến đỉnh cao của chân thiện mỹ. Con đường duy nhất để đạt được mục tiêu tối hậu này của chúng ta là thực hành thiền do Ðức Phật dạy.

Mặc dù chúng ta đã đạt được một số tiến bộ trong xã hội hiện đại và có có được thay đổi từ chỗ phấn đấu chỉ để sống còn đến việc hưởng thụ được các lạc thú và tiện nghi trong một mức độ nào đó; tuy nhiên về mặt tâm thì chúng ta chưa thực sự có sự phát triển tương ứng. Con người đã sử dụng kiến thức rộng lớn hơn về thế giới vật chất của mình chỉ để tạo thêm những sự cám dỗ và kích thích, và họ xem những “khám phá” đó là sự phát triển. Con người đã tổ chức các hoạt động khác nhau để phục vụ cho nhu cầu vật chất của mình và quảng cáo chúng để tạo ra sự cám dỗ.

Trong quá khứ, người ta không dựa vào sự thương mại hóa một cách dung tục để tác động vào tâm nhằm tạo sự ham muốn. Ngày nay, qua trung gian của truyền hình, rạp chiếu phim, múa khiêu dâm, tạp chí khiêu dâm và nhiều loại hình vui chơi giải trí khác như vậy, sự kích thích, hứng thú được tạo ra. Dục vọng của con người tăng lên đến mức các hành vi vô đạo đức trở nên lan tràn. Những thứ này chẳng có cách gì làm cho tâm an tịnh và không đưa đến sự yên bình. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta phải kết án mọi phương tiện làm vui các cửa giác quan. Chúng ta không thể chối bỏ rằng nghệ thuật và văn hóa cũng làm vui các cửa giác quan. Chúng làm vui các giác quan, về một phương diện nào đó, để nâng tinh thần của chúng ta, để chúng ta suy ngẫm và giúp chúng ta nghỉ ngơi giải khuây.

Mục đích của các hoạt động văn hóa dân gian như nhảy múa, ca hát, kịch và nhiều loại hình nghệ thuật khác là để làm cho con người ý thức hơn về sự hiện hữu của mình. Chúng làm thư giãn và lắng dịu tâm mà không khơi dậy những dục vọng thấp hèn. Chúng ta chấp nhận rằng con người phải có những cảm xúc. Chúng phải được giải khuây bằng cách được cung cấp các loại hình giải trí thích hợp và lành mạnh, không khơi dậy bản chất hoang dại tiềm ẩn trong tâm của con người.

Trong thực tế, nếu không có gì khiến cho tâm bận rộn, tâm trí có thể trở nên rất hung bạo và tàn nhẫn. Câu châm ngôn “Một đầu óc rảnh rang là xưởng làm việc của ma quỷ” thực sự rất đúng. Vì vậy, các hoạt động văn hóa đứng đắn nên được đưa vào đời sống để làm dịu tâm và giúp cho chúng ta có một sự hiểu biết về bản chất của sự tồn tại của chúng ta. Thật đáng tiếc khi nhận thấy xã hội tiêu thụ hiện đại đã làm ô nhiễm hoạt động văn hóa và lạm dụng cái đẹp của các tập tục văn hóa cổ xưa của chúng ta như thế nào!

Hậu quả của các hình thức giải trí hiện đại

Có bao nhiêu thủ đoạn vô luân trong cái gọi là giải trí hiện đại? Khi bạn đi vào một nơi trình diễn những loại hình giải trí như vậy, bạn có thể tự nhận thấy những người tổ chức các loại hình giải trí đó đã tìm cách tác động đến tâm của bạn như thế nào. Mục đích chính của họ, dĩ nhiên, là để kiếm được tiền một cách dễ dàng.

Họ chẳng màng bận tâm đến những hậu quả tai hại mà những màn trình diễn ấy đem lại cho nhân phẩm, tôn giáo và văn hóa. Đó là lý do tại sao một số người nói rằng thật khó để thực hành Phật pháp giữa xã hội hiện đại của chúng ta vì lẽ Phật Giáo không đồng tình và cũng không khuyến khích bất kỳ loại giải trí nào.

Như đã vạch ra trước đó, điều này hoàn toàn không đúng. Phật Giáo khuyến khích văn hóa và nghệ thuật, nhưng nó không khuyến khích bất cứ hoạt động nào làm mất phẩm giá của con người. Trong quá khứ xa xôi, khi chúng ta sống như những người tiền sử, chúng ta có rất ít vấn đề. Những vấn đề đó chỉ liên quan đến việc kiếm thực phẩm, nơi ẩn trú và sự sống còn của cộng đồng. Ngay cả đến quần áo chủ yếu chỉ là để che thân, không phải là tô điểm cho cơ thể. Ngày nay chúng ta có khuynh hướng xem những người nguyên thủy như là những kẻ không may mắn hoặc không văn minh khi chúng ta so sánh tiêu chuẩn sống của họ với chúng ta. Nhưng trong xã hội hiện đại, có bao nhiêu triệu triệu vấn đề? Hầu hết tất cả những vấn đề này đúng ra là do chính chúng ta tạo nên. Vì chúng do chính chúng ta tạo nên nên chúng ta không có được sự yên ổn, không ngủ được, ăn không ngon và chúng ta gặp khó khăn trong việc quản lý cuộc sống của chúng ta trong bối cảnh rối loạn toàn cầu xảy ra ở mọi nơi. Ðó là bản chất của xã hội hiện đại, nhưng trong thời cổ xưa, con người có một cuộc sống thanh bình. Họ được nghỉ ngơi và có đủ thời gian để ăn uống. Không có sự cạnh tranh khốc liệt.

Người ta có thể lập luận rằng nếu nói người nguyên thủy có hạnh phúc trong khi chúng ta thì không hạnh phúc thì đơn giản quá. Nhưng vấn đề mà chúng ta đang nêu ra là cái văn minh hiện đại không nhất thiết phải phức tạp, tạo ra những vấn đề không cần thiết chút nào nếu chúng ta có thể học để làm giảm thiểu những ham muốn của chúng ta và sống như tổ tiên của chúng ta với một số ít nhu cầu căn bản. Nhiều vĩ nhân như (Thánh) Gandhi và Albert Schweitzer đã chứng minh rằng ngay cả trong thời hiện đại, những người hạnh phúc nhất là những người có ít nhu cầu nhất.

Theo Ðức Phật, sự giàu có nhất của một người là sự mãn nguyện. Mặc dù người nguyên thủy phải đi ra ngoài săn thú để có thực phẩm, người ấy, tuy vậy, rất mãn nguyện và thoả mãn với cách sống của mình, mặc dù có thể là sơ khai. Ngày nay chúng ta xây những tòa nhà cao lớn để sống một cách tiện nghi nhưng bên trong không có an ninh. Có bao nhiêu cổng và cửa sắt tất cả đều được bảo vệ an toàn và được cài đặt hệ thống báo động chống trộm điện tử? Tại sao chúng ta phải cần có những món đồ điện tử thêm này? Có phải đây là sự phát triển hiện đại không?

Những người ở trong những tòa nhà cao sừng sững đó sống trong sự sợ hãi triền miên vì không có an ninh. Trong quá khứ, con người, tuy vậy, lại có thể ngủ yên dưới một gốc cây, trong các hang động hoặc bất cứ ở đâu mà không phải chịu sự sợ hãi và lo lắng như vậy. Chắc chắn họ cũng có các vấn đề- mọi sự tồn sinh của con người đều có những vấn đề của nó, nhưng con người hiện đại đã làm tăng và làm phức tạp hóa các vấn đề ấy lên gấp cả ngàn lần, tất cả đều không cần thiết và do chính con người tự tạo ra.

Đức Phật dạy theo kinh nghiệm của chính Ngài

Ðức Phật đã giới thiệu một con đường chân chính của cuộc đời cho chúng ta để đi theo, sau khi Ngài đã tự thân chứng nghiệm những điểm yếu, điểm mạnh về mặt tâm linh của con người. Trong giai đoạn đầu của cuộc đời, lúc còn là một thanh niên trai trẻ, Ngài đã trải nghiệm những thú vui trần tục giống như bao người khác. Ngài là một hoàng tử, một người chồng, một người cha và là con của vị vua trị vì vương quốc. Ngài có một người vợ đẹp và con ngoan. Ngài thương vợ con nhưng Ngài có lòng từ bi hơn đối với nhân loại đang khổ đau. Lòng từ bi của Ngài không chỉ giới hạn trong gia đình mình mà còn mở rộng đến từng mỗi chúng sanh. Ngài đủ can đảm tự giải thoát mình khỏi những luyến ái đối với gia đình để tìm ra giải pháp cho sự khổ đau của con người.

Ngài đã từ bỏ cuộc sống thế tục và đạt được sự giác ngộ. Sau khi đạt được trí tuệ tối thượng, Ngài trở về nhà và giảng dạy cho tất cả mọi người những gì mà Ngài đã chứng nghiệm được. Ngài nói với họ rằng nếu họ cũng muốn được chia sẻ niềm tin, sự giải thoát và sự cứu rỗi ấy cùng Ngài, Ngài sẽ dạy cho các họ phương pháp. Ngài cũng khuyên mọi người không nên tin tưởng vào những gì Ngài đã dạy chỉ vì Ngài là một con người vĩ đại. Ngài nói thêm rằng, nếu chỉ lễ bái và cầu nguyện Ngài không thôi thì không thể đạt được sự cứu rỗi.

Làm thế nào để thực hành theo lời dạy của Đức Phật

Ðức Phật khuyên con người thực hành theo lời dạy của Ngài và thực hành chúng một cách tinh tấn để đạt được sự giác ngộ. Trên thực tế, chúng ta không thể tự gọi chúng ta là những đệ tử của Ðức Phật nếu chúng ta thực hành theo những lời chỉ dạy của Ngài một cách mù quáng bằng cách xem Ngài như một vị thầy đầy quyền uy. Cái mà Ðức Phật kỳ vọng nơi chúng ta là sống đúng với Pháp. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể thực sự nói với mọi người rằng chúng ta thực hành theo lời dạy của Ðức Phật. Ðức Phật có lần nói: “Có thể có nhiều đệ tử sống với Ta, đi theo Ta bằng cách nắm tay Ta hoặc níu lấy chéo y của Ta và nghĩ rằng làm như thế là gần gũi Ta. Trái lại, có thể có nhiều đệ tử khác sống rất xa Ta hoặc chưa bao giờ thấy Ta, nhưng tâm của họ thanh tịnh. Mặc dù họ ở cách xa Ta, nhưng những người này thực sự vẫn rất gần với Ta. Những người gần Ta nhưng đầu óc bị ô nhiễm, thực ra chẳng gần Ta chút nào cả”. Đây là thái độ của Ðức Phật.

Có một nhà sư luôn luôn say mê chiêm ngưỡng vẻ thanh tịnh của Ðức Phật. Một hôm, Ðức Phật hỏi nhà sư này rằng ông nhìn cái gì vậy?Nhà sư trả lời là ông cảm thấy hạnh phúc vô vàn mỗi khi ngắm nhìn làn da và nét mặt của Ngài. Ðức Phật liền hỏi: “Ông hy vọng đạt được gì khi ngắm nhìn cái xác thân uế trược này? Như Lai không ở trong cái xác thân vật chất đó. Chỉ những ai hiểu được Pháp do Ta giảng dạy mới thấy nhìn thấy Như Lai. Như Lai chỉ có thể được nhìn thấy qua Pháp!”

Nhiều người ngồi trước hình ảnh của Ðức Phật và cầu nguyện, nghĩ rằng dù sao Ðức Phật cũng “sống” trong bức tượng. Nhưng hình ảnh Đức Phật mà các bạn thường nhìn thấy chỉ là biểu hiện bên ngoài của nghệ thuật nhằm thể hiện phẩm chất tuyệt vời của một con người thánh thiện. Những người mộ đạo đã làm một biểu tượng hữu hình để thờ phượng nhằm bày tỏ lòng tịnh tín cuả mình với vị Thầy vĩ đại của mình. Việc này dẫn đến sự phát triển của một thứ nghệ thuật, loại nghệ thuật đẻ non ra khái niệm về Đức Phật và những lời dạy của Ngài về định luật Vũ trụ, nhằm tạo ra một hình ảnh Đức Phật ngồi trầm tư với dáng vóc hình hài cụ thể từ một cảnh giới trừu tượng. Nhìn vào hình ảnh Ðức Phật như vậy, chúng ta chỉ có thể tưởng tượng rằng Ðức Phật chắc trông cũng giống như vậy.

Ðức Phật là hiện thân của trí tuệ, sự toàn hảo, sự thánh thiện, lòng từ bi và sự thanh tịnh. Hình ảnh của Ðức Phật chủ yếu chỉ là một biểu tượng, một thứ gì đó lấp đầy một nơi với sự thanh tịnh, giống như sự hiện diện của một người thánh thiện soi sáng một ngôi nhà về mặt tâm linh. Không nghi ngờ gì sự có mặt của hình ảnh thanh tịnh của Ðức Phật làm cho tâm của chúng ta thanh tịnh. Nhưng Ðức Phật mà bạn “nhìn” thấy qua sự hiểu biết về Pháp mới thật đúng là hình ảnh thực sự của Ðức Phật.

Khi bạn nghĩ đến Đức Phật giảng dạy như thế nào, giảng dạy những gì, nơi Ngài tỏa ra sự khoan dung, nhẹ nhàng, phẩm cách, lòng từ bi và sự ân cần như thế nào đối với mọi chúng sanh; và bạn cũng nghĩ đến bản chất của sự giác ngộ hay trí tuệ tối thượng của Ngài, chỉ lúc đó, rồi bạn mới có thể thấy Ðức Phật là hiện thân của tất cả các đức tính tuyệt vời và trí tuệ như vậy. Vì vậy không có kiến thức và sự thực hành Pháp, bạn không thể thực sự “thấy” Ðức Phật.

Phát triển dần lối sống theo Phật giáo

(Truyền thống, văn hóa, đạo đức, trí tuệ và tâm linh)

Có năm phương pháp để thực hành Phật Pháp. Những phương pháp đã được giới thiệu và thực hành bởi người dân tại nhiều đất nước khác nhau trên thế giới tùy vào cách sống, nhu cầu và giáo dục của riêng họ. Chúng có thể được phân loại thành năm nhóm như đã nói trên.

1. Truyền thống

Khía cạnh truyền thống trong tôn giáo được tổ tiên của chúng ta giới thiệu theo niềm tin của họ. Do vì sự thiếu hiểu biết, nhiều trong số niềm tin này dựa trên sợ hãi, tưởng tượng và hoài nghi; và quả thực, những niềm tin này được thực hành nhằm mục đích tự bảo vệ họ cũng như cầu để có được của cải sung túc. Tuy nhiên, chúng ta không nên gạt bỏ tất cả những truyền thống và phong tục vì một lý do đơn giản là chúng được xây dựng dựa trên sự mê tín dị đoan. Một số truyền thống và phong tục thực sự có ý nghĩa. Chúng phát triển để giúp các thành viên trong cộng đồng xua tan sợ hãi và bất an, đồng thời thực hiện các hoạt động một cách có tổ chức để duy trì chủ nghĩa nhân văn.

Từ thời xa xưa, một số các tập tục này đã được kết hợp với việc thực hành tôn giáo. Những ai không quen với những lời dạy thực sự của Ðức Phật có thể có một ấn tượng sai lầm là những tập tục theo truyền thống chính là cách sống theo Phật giáo. Truyền thống và tập quán thì dị biệt giữa các quốc gia, giữa những nhóm dân tộc thiểu số khác nhau từ thời điểm này sang thời điểm khác. Vì vậy, chúng ta không nên nghĩ rằng truyền thống riêng của chúng ta thì siêu việt hơn của người khác.

Chúng ta phải hiểu rằng Phật giáo không phải là một khái niệm bất biến hay một khái niệm tôn giáo được làm sẵn với các giáo điều, được truyền xuống bởi các người có thẩm quyền trong tôn giáo. Phật giáo là một cách sống được phát triển theo hoàn cảnh chung tại từng giai đoạn khác nhau. Nhưng Pháp hay Chân lý dạy bởi Ðức Phật chẳng bao giờ thay đổi. Chúng ta cũng phải học để phân biệt giữa Chân lý Tuyệt đối dạy bởi Ðức Phật và Chân lý Tương đối thay đổi theo hoàn cảnh.

Thái độ của Ðức Phật đối với truyền thống và tập quán là chúng ta không bao giờ nên chấp nhận hay loại bỏ chúng ngay mà không suy xét một cách thận trọng. Lời khuyên của Ngài là không nên theo các truyền thống và tập quán nếu thấy chúng vô ích, có hại cho chúng sanh cho dù chúng là những truyền thống, tập quán cổ truyền. Mặt khác, nếu chúng thực sự có ý nghĩa ý nghĩa và lợi lạc cho tất cả, bằng mọi cách chúng ta nên theo chúng. Một số trong những truyền thống đó rất cần thiết để truyền cảm hứng và lòng tịnh tín cho những ai thực hiện những nghi lễ tôn giáo, đặc biệt là trong một cộng đồng. Không có một số nghi lễ theo truyền thống nào đó, tôn giáo tự nó sẽ bị cô lập và lòng tịnh tín cá nhân sẽ bị yếu đi. Một số người thậm chí còn duy trì các hoạt động tôn giáo theo truyền thống và bảo tồn chúng như là “di sản” của họ để tìm cảm hứng cho tôn giáo của họ.

2. Văn hóa

Văn hóa và tôn giáo đan xen chặt chẽ với nhau trong mọi xã hội. Văn hóa là một phần thiết yếu của đời sống con người. Nhân phẩm, kỹ năng, trí thông minh và vẻ đẹp thẩm mỹ có thể nhìn thấy qua các các hoạt động văn hóa. Văn hóa là sự biểu hiện đẹp và tinh tế của các truyền thống. Nó được sửa đổi cho phù hợp hoặc với mục đích gây ảnh hưởng hoặc thúc đẩy nghệ thuật như một phương tiện để giải trí. Các hoạt động văn hóa truyền cảm hứng cho tâm trí của con người. Các hoạt động văn hóa làm dịu, thỏa mãn niềm đam mê của con người hoặc làm cho niềm đam mê trở nên cao thượng hơn. Vinh quang của Á Châu tùy thuộc rất nhiều vào nền văn hóa của nó và trong phương diện đó, văn hóa Phật giáo đóng một vai trò nổi bật. Văn hóa cũng có thể giúp bảo vệ và phát triển tôn giáo.

Khi chúng ta giới thiệu tôn giáo qua các hoạt động văn hóa của chúng ta, những hoạt động tôn giáo càng ngày sẽ hấp dẫn hơn và chúng ta có thể tác động đến người khác để họ theo tôn giáo của chúng ta vì họ thấy nó sống động. Chúng ta có thể nói rằng những hoạt động văn hóa mang tính tôn giáo về mặt bản chất chính là bàn đạp để giúp chúng ta hiểu đời sống đạo giáo. Những người lúc đầu có đầu óc phi tôn giáo, cuối cùng quen với việc tham dự và đánh giá cao các hoạt động tôn giáo. Bằng cách tham dự các hoạt động như vậy, người ta sẽ dần dần có cơ hội để nâng cao kiến thức và sự hiểu biết đúng đắn của họ về tôn giáo. Nếu không, họ sẽ có khuynh hướng tránh xa hẳn mọi tôn giáo. Nếu dân chúng được giáo dục tốt, đã được nâng cao trình độ hiểu biết và và có tư cách cao thượng thì việc họ tham gia các hoạt động truyền thống hay văn hóa mang tính tôn giáo không còn là một việc quan trọng

Tôn giáo có thể đóng góp rất nhiều cho việc làm giàu nền văn hóa. Sự thật khi nói rằng tại các nước châu Á nói chung, việc thực hành tôn giáo có sự liên kết rõ ràng với các hoạt động văn hóa. Những điệu múa, các bài hát, nghệ thuật và các vở kịch phần lớn đều lấy cảm hứng của những đề tài tôn giáo. Không văn hóa, các hoạt động tôn giáo có thể trở nên rất khô khan và kém thú vị. Ðồng thời, khi chúng ta thực hành Phật giáo mà không làm phiền các truyền thống hoặc những tín đồ của các tôn giáo khác, hình thức chung sống trong sự khoan dung và hòa bình cùng với cách cư xử đáng kính và thái độ lịch sự của chúng ta cũng có thể được coi như một khía cạnh văn hóa.

3. Lòng tịnh tín

Khía cạnh tịnh tín rất quan trọng trong một tôn giáo. Bất cứ điều gì chúng ta tin vào hay thực hành mà không có lòng tịnh tín, niềm tin đó chỉ được coi như là một loại lý thuyết suông. Vì lòng tịnh tín liên quan đến sự xúc cảm của con người nên chúng ta phải có kiến thức đúng đắn về tôn giáo là việc cần thiết phải có. Ngược lại, nếu chỉ dựa vào niềm tin không thôi thì có thể trở thành mê tín. Các hoạt động xuất phát từ lòng tịnh tín trong một tôn giáo làm dịu tâm trí và tạo nguồn cảm hứng cho con người một cách tự nhiên. Khi tâm được truyền cảm hứng như vậy, sợ hãi, căng thẳng, sân hận và những rối loạn tinh thần khác sẽ dịu xuống, hoặc thậm chí bị diệt trừ. Và lòng tịnh tín như vậy có thể được cũng cố thêm để nâng cao hơn nữa niềm tin của chúng ta; giúp chúng ta sống đời sống đạo với niềm tin. Các hoạt động xuất phát từ lòng tịnh tín được xếp vào nhóm Giới (Sila) mà chúng ta đã đề cấp đến trước đây. Việc giữ Giới nghiêm túc mở đường cho việc thanh tịnh hóa tâm, và trí tuệ là giai đoạn cao hơn trong việc phát triển tâm linh. Chỉ niềm tin và lòng tịnh tín không thôi mà không có sự hiểu biết có thể đưa một người đến sự cuồng tín trong tôn giáo.

Tôn kính Ðức Phật, dâng hoa, v.v… tụng kinh, thuật lại những câu chuyện đạo, nghi lễ, biểu diễn nghệ thuật liên quan đến tôn giáo, hát những bài đạo ca, và thực hành những việc tương tự sẽ truyền cảm hứng và làm dịu tâm. Những người có lòng tịnh tín có thể phát triển niềm tin của mình qua việc thực hành như vậy. Lòng tịnh tín sâu sắc sẽ làm mạnh thêm đức tính nhẫn nại hầu giúp cho chúng ta có khả năng chịu đựng được bất cứ hình thức đau khổ nào. Lòng tịnh tín giúp cho tâm thêm dũng mãnh để đương đầu với những khó khăn.

4. Trí tuệ

Trí tuệ lại là một phương pháp khác để hiểu và thực hành tôn giáo. Ðã trải qua các phương pháp thực hành về truyền thống, văn hóa và lòng tịnh tín, nhiều người “tốt nghiệp” về mặt trí tuệ. Điều này có nghĩa là qua sự tập trung nghiên cứu và thực hành siêng năng, họ có thể đạt nhiều kiến thức hơn và hiểu biết hơn để làm sáng tỏ những hoài nghi của họ về tầm quan trọng của niềm tin cũng như việc thực hành theo tôn giáo, về ý nghĩa chính xác và mục đích của đời sống, bản chất của những điều kiện và sự bất toại nguyện của thế gian, cũng như những hiện tượng và bản chất vô thường của vũ trụ.

Qua nghiên cứu, quan sát và sự định tâm, họ có thể đạt được một cái thấy biết rõ ràng về thực tại, một sự hiểu biết về hiện tượng phổ quát và lòng tin nơi tôn giáo. Lòng tin mà họ đạt được qua hiểu biết sẽ không bao giờ bị lay chuyển. Nhưng có nhiều người chẳng màng bận tâm đến việc thực hành nhằm đạt được một sự hiểu biết rõ ràng về những lời dạy của Ðức Phật. Trước nhất chúng ta phải học đã. Sau khi học xong, chúng ta phải thực hành những gì chúng ta đã học, và cuối cùng, chỉ sau khi thực hành chúng ta mới chứng nghiệm được những kết quả lợi lạc. Bất cứ ai cũng có thể thực hành phương pháp đó mà không cần phải tùy thuộc vào các lý thuyết, triết lý và niềm tin truyền thống. Chúng ta cũng không được lệ thuộc vào sự sùng bái cá nhân – nói một cách khác là dựa vào người khác để được cứu rỗi. Một số người chấp nhận thực hành đã đạt được sự hiểu biết tốt đẹp về Pháp.

Quả thực, nếu họ không thực hành theo những nguyên tắc đạo lý để trau dồi đạo đức của họ, họ cũng chỉ như là cái muỗng, múc canh hoài nhưng không biết mùi vị của canh. Kiến thức trong sách không thôi không đóng góp gì cho việc cải thiện đời sống của họ. Tâm không thanh tịnh, chỉ kiến thức không thôi thì cuối cùng có thể trở thành hoài nghi.

5. Tâm linh

Phương pháp cuối cùng liên quan đến khía cạnh tâm linh và đó là để đạt được sự thanh tịnh, trí tuệ, và hạnh phúc vĩnh viễn. Tóm lại, bất cứ kiến thức đạo lý nào chúng ta đạt được, bất cứ cái gì chúng ta thực hành dưới danh nghĩa của một tôn giáo nào, chúng ta không bao giờ có thể đạt được đến mức toàn hảo hay giải thoát mà không có sự thanh tịnh tâm. Đúng là không có sự loại trừ các ô nhiễm trong tâm thì cho dẫu chúng ta làm nhiều việc tốt, việc làm đó tự thân nó vẫn chưa đủ.

Chúng ta cũng phải cố gắng là người có đạo đức tốt, nếu không, vị kỷ, tham lam, ganh ghét, sân hận và ích kỷ làm xáo trộn tâm trí của chúng ta. Vì tâm trí không được huấn luyện là một công cụ rất tinh tế và luôn luôn ở trong trạng thái dễ bị tấn công, bất kỳ một sự cám dỗ hoặc sự khó chịu nào cũng dễ dàng tác động đến tâm, xui nó thực hiện các việc ác. Việc phát triển tâm linh chỉ có thể đạt được qua việc huấn luyện tâm một cách đúng đắn. Đó là lý do tại sao hành thiền là phương pháp duy nhất đã được chứng minh dùng để thanh lọc tâm.

Mục đích chính việc thực hành Phật pháp là:

– để đạt được sự an bình và hạnh phúc ngay trong cuộc sống này.

– để có một cuộc sống mãn nguyện và có phước báu trong kiếp sau và mãi mãi.

– để đạt được mục đích cuối cùng của cuộc sống: Hạnh phúc vĩnh cửu hay hạnh phúc tối thượng.

Một số phương pháp đã được nêu ra nơi đây để nói cho bạn biết làm thế nào để thực hành Phật pháp. Vì vậy, nếu bạn thực sự tmuốn thấy kết quả tốt đẹp và muốn biết Ðức Phật dạy những gì, hãy cố gắng nghiên cứu và thực hành theo những lời dạy căn bản dạy của Ðức Phật mà không cần lệ thuộc vào các lý thuyết hay tông phái khác nhau của Phật giáo.

Theo: How to practise the Buddha’s teachings

Chuyền ngữ sang tiếng Việt: Panna Dipa Tuệ Đăng

Đăng bởi

CHỮ TÌNH TRONG CUỘC SỐNG

Thành công là đích đến của rất nhiều người. Tuy nhiên, để có thể vươn tới cái đích ấy, nhất định cần phải có “tĩnh khí”. Bình tĩnh sẽ giúp bạn rèn luyện bản lĩnh vững vàng. Ngay cả khi sóng gió ập tới trước mặt, thậm chí gặp phải chuyện tưởng như không thể cứu vãn được, sự bình tĩnh vẫn sẽ mang đến cho bạn cách giải quyết tốt nhất.

Chuyện kể rằng, khi xưa có một phú thương vì thời thế loạn lạc nên muốn về quê sinh sống. Bấy giờ, ông đem tất cả gia sản đổi thành chi phiếu, sau đó cất công đặc chế một chiếc ô (dù) có cán rỗng để nhét tất cả ngân lượng vào ngăn bí mật trong đó.

Sau khi chuẩn bị hành lý, phú thương thay đổi y phục giống dân thường, mang theo chiếc ô có chứa tất cả tài sản và lên đường hồi hương. Không ngờ rằng, con đường về quê của ông lại đột nhiên xảy đến một biến cố bất ngờ.

Khi đó, phú ông vì mệt mỏi nên dừng chân tại một ngôi đình và ngủ một giấc. Nào ngờ sau khi tỉnh dậy, chiếc ô cất chứa gia tài của ông đã “không cánh mà bay”.

Nhưng phú thương dẫu sao cũng từng là một kẻ lão làng trên thương trường, khi biến cố đột nhiên xảy đến, ông dù hốt hoảng nhưng rất nhanh đã lấy lại bình tĩnh.

“Sao phải lo lắng về những thứ bạn không thể thay đổi? Hãy buông bỏ và tiếp tục tiến lên vì cuộc sống không chờ đợi ai”. Vị phú thương nhận thức được rằng của đã mất đi là có thật, công việc tiếp theo của ông không phải là hốt hoảng, than thân, mà tìm cách lấy lại được những gì đã mất.

Vị phú thương cẩn thận quan sát xung quanh. Thấy bọc tay nải mình mang theo vẫn không thiếu thứ gì, ông kết luận rằng có người lấy cây dù kia để che mưa chứ không nhằm mục đích trộm của cải.

Tiếp tục suy nghĩ sâu xa hơn, ông lại khẳng định người lấy ô có tới tám, chín phần sống ở khu vực lân cận. Người này hẳn là trên đường đi về nhà gặp phải cơn mưa và trú dưới mái đình, khi thấy chiếc ô của ông thì tiện tay mang đi.

Vì vậy, vị phú thương ấy quyết định tạm hoãn chuyến hồi hương của mình, mua một ít đồ nghề, ở lại đó mở một sạp chuyên sửa chữa ô dù.

Thoáng chốc đã một năm kể từ ngày chiếc ô biến mất không tung tích. Vị phú thương vẫn kiên trì chờ đợi ở ngôi đình, nhưng chưa hề gặp lại chiếc ô năm ấy.

Trong lòng chất chứa nhiều thất vọng, nhưng ông vẫn không nản chí. Cẩn thận suy nghĩ thêm một chút, ông nhận ra rằng, khi ô đã cũ, có nhiều người sẽ mua một chiếc mới thay vì mang chúng đi sửa.

Nghĩ vậy, ông quyết định mở một sạp bán ô, lại viết thêm một tấm bảng hiệu có ghi: “Đổi ô cũ lấy ô mới, không phải bù thêm tiền”.

Quả nhiên số người tới đổi ô đông không đếm xuể. Không lâu sau đó, có một người đàn ông trung niên cầm theo một chiếc ô làm từ giấy dầu đã cũ tìm đến vị phú thương ấy.

Chỉ vừa nhìn thoáng qua một cái, ông đã biết chiếc ô cũ nát trên tay người kia chính là thứ cất chứa gia tài tích cóp cả đời của mình. Chiếc ô không còn mới, nhưng phần cán ô chẳng hề có lấy một chút suy chuyển nào.

Phú thương trong lòng dù mừng vui khôn xiết, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ ra điềm tĩnh, từ tốn đổi cho người đàn ông nọ một chiếc ô mới rồi nhận lại ô cũ.

Người kia vừa rời đi, phú thương liền thu dọn sạp hàng, hồi hương sống một cuộc đời giàu sang, phú quý.

Bài học thành công chỉ gói gọn trong chữ “tĩnh”.

Giống như vị phú thương trong câu chuyện, cẩn thận suy nghĩ, lẳng lặng chờ đợi, sau cùng cũng thu về kết quả như bản thân mong muốn. Khi biến cố xảy đến, ông đã bình tĩnh đối mặt, tỉnh táo suy tính để tìm ra giải pháp tối ưu nhất.

– Sưu tầm và biên tập –

Đăng bởi

NHÂN QUẢ VÀ NGHIỆP BÁO

Nói đến nhân quả là nói đến thời gian và không gian. Thời gian cho nhân đi đến kết quả, và không gian để nhân hội đủ các điều kiện cần để tựu thành kết quả. Không một sự vật, sự kiện nào, một hiện tượng nào, hay một kết quả nào xảy ra mà không có nguyên nhân của nó. Có quả tất phải có nguyên nhân đi trước nó và ngược lại có nhân thời sẽ đưa đến một kết quả nào đó về sau.

Tuy nhiên ở đời đôi khi với cái nhìn thiển cận, cắt xén và giới hạn thời gian, chúng ta thường rất mơ hồ về nhân quả và vì thế đã có sự dẫn đến mất niềm tin đối với cuộc sống và với chính mình. Nhận thức về nhân quả nghiệp báo chính là xác định một niềm tin đúng đối với cuộc đời, và xây dựng một ý thức trách nhiệm về chính những hành động do mình tạo ra đối với bản thân, và đối với cộng đồng.

Nhân quả, đơn giản, là nguyên nhân và kết quả. Từ con người cho đến các loài sinh động, vạn vật đều được tạo ra là có nguyên nhân gần xa của nó và đều là tự tạo, bằng cách này hay cách khác, chủ động hay thụ động.

Không bao giờ có một vật nào là tự nhiên sinh mà không có nguyên nhân của nó. Trong môi trường cộng sinh, là vũ trụ, thế giới này, cũng không bao giờ có một sự vật nào chỉ xuất hiện với một nguyên nhân độc nhất mà mọi vật phải được tạo thành ít nhất là hai nhân trở lên.

Ta lấy ví dụ như, cây đậu đang ra bông kết trái hôm nay là kết quả của những điều kiện đi trước nó, như hạt đậu, ánh sáng mặt trời, nước mưa, đất, khoáng chất, thán khí…

Riêng một nguyên nhân nào đó, chẳng hạn chỉ riêng có hạt đậu, thì không thể có cây đậu. Nếu thiếu yếu tố đất hay yếu tố nước thì cây đậu sẽ không tồn tại. Và đương nhiên, cây đậu với quả hạt của nó hôm nay là nguyên nhân cho những hạt và cây đậu khác trong tương lai cùng với những điều kiện nhân duyên khác hỗ tương tùy thuộc vào nhau để sinh trưởng và tồn tại.

Tất cả mọi hiện hữu đều sinh khởi và tồn tại trong nguyên lý nhân quả nhiều tầng nhiều lớp như thế. Cho nên không bao giờ có một bàn cãi về nguyên nhân đầu tiên của vạn hữu trong đạo Phật. Chính đức Phật đã từ chối trả lời và đàm luận bằng cách giữ một thái độ im lặng, trước sau như một, đối với những câu hỏi có tính chất triết học thuần tuý này. Đức Phật chỉ chú trọng đến vấn đề nhận thức khổ đau và nhấn mạnh đến vấn đề diệt khổ mà thôi.

Để hiểu rõ về nhân quả, chúng ta hãy điểm qua những đặc tính căn bản của nhân quả để từ đó có một quan sát cụ thể về một nguyên nhân hay hậu quả nào đó. Chúng ta có bốn đặc tính có tính cách liên hệ của nhân và quả.

1. Nhân nào quả nấy

Nhân như thế nào thì quả sẽ như thế ấy. Hạt lúa rồi sẽ cho cây lúa và thóc gạo, hạt cỏ dại sẽ dẫn đến những mầm cỏ dại với đầy đủ những điều kiện hỗ trợ của nó. Hành động thiện sẽ đưa tới một kết quả tốt đẹp và trái lại hành động xấu sẽ đưa đến một kết quả không như ý.

Tuy nhiên, vấn đề thiện ác, thực ra, vẫn không có một tiêu chuẩn nhất định chung cho mọi trường hợp. Cùng một hành động nhưng khi này biểu hiện nó được coi là thiện nhưng khi khác nó là một điều bất thiện. Ở chỗ này nói thế này là tốt nhưng ở chỗ kia cùng một cách nói như thế lại là không đúng.

Suy ngẫm về vấn đề thiện ác này có người đã từng than: “Chân lý ở đâu khi bên này núi là đúng mà bên kia là sai lầm!” Nhưng trong đạo Phật không chấp nhận thái độ than trách như thế mà người Phật tử được khuyên là nên quán sát động cơ xuất phát của những hạnh nghiệp là tâm ý, và hành động xuất phát từ ý nghiệp đó có ảnh hưởng như thế nào đối với chính mình và người khác trong hiện tại hay tương lai.

Nếu hành động (của ba nghiệp – thân, khẩu, ý) có ảnh hưởng tốt, đem lại an vui cho mình cho người, trong hiện tại và tương lai, thì hành động đó được gọi là thiện, trái lại, nếu hành động nào mang đến sự bất an, khổ đau cho mình cho người trong hiện tại và tương lai, thì hành trạng đó là bất thiện.

Thiện nghiệp sẽ đưa đến thiện báo và bất thiện nghiệp sẽ có ác báo. Đương nhiên, về tương đối thì, vấn đề thiện ác vẫn có phạm vi nhất định và phải được xét trên sự ảnh hưởng của nó lên số đông và nhất là xét về mặt động cơ xuất phát của hành động.

Với một xác định về thiện ác như thế, chúng ta sẽ dễ dàng thấy rằng những hành động của thân và lời nói bị điều động bởi những tâm lý bất thiện như tham, sân, si, mạn, tật đố, chia rẽ… sẽ đưa đến những kết quả tương ứng. Đó chính là những quả báo sầu não, khổ luỵ.

Và trái lại, những hành động được thực hành với động cơ không chứa đựng những yếu tố tham, sân, si, trái lại mang những chất liệu của tình thương, của trí tuệ, bố thí giúp đỡ kẻ khác… sẽ chắc chắn đưa đến kết quả tốt lành.

2. Một nhân không thể sinh ra quả

Nhưng quả thiện hay ác không đơn thuần là một nhân mà được chi phối bởi nhiều nhân và các điều kiện khác nhau. Một nghiệp quả tốt đẹp hẳn phải được xuất phát từ trái tim từ bi, một hành động đầy nghĩa cử, một lời nói có tính cách xây dựng và hòa giải, một biểu hiện của một tấm lòng độ lượng, một sự hiểu biết, một sự cảm thông…

Chỉ có một tâm từ bi, dù tốt đấy, vẫn chưa làm sao có thể thành tựu được một hành nghiệp tốt nếu không có các trợ duyên như thông qua những hành động, hay lời nói, v.v. để thể hiện nó. Cũng giống như chỉ có hạt đậu thì không thể sinh khởi thành cây đậu. Nó cần có các điều kiện làm nhân khác (mà chúng ta còn gọi là duyên) như nước, anh nắng, đất…

Một kết quả tốt lành không thể có mặt nếu chỉ xuất hiện với một nhân, dù là tốt, duy nhất.

3. Trong nhân có quả, trong quả có nhân

Hạt đậu là nhân cho cây đậu trong tương lai, nó đồng thời cũng là quả của cây đậu trong quá khứ. Nó là nhân của sự tiêu thụ thán khí (CO2) trong không gian từ động vật thải ra, đồng thời cũng là nhân cho sự chuyển thành dưỡng khí (O2) vào không gian cho động vật hấp thụ trở lại.

Sự an vui là kết quả của việc làm thiện nhưng sự an vui, thanh thản của chính mình lại cũng là nguyên tố cho sự tạo phước tiếp tục nữa. Sự an vui như thế cũng đồng thời là nhân vì chính mình có an vui trong lòng nên không gây gổ với người khác, trái lại làm cho người khác cũng được vui lây.

Đó là vì trong nhân đã bao hàm quả và quả cũng chứa đựng đầy đủ các yếu tố để làm nhân. Biết điều này chúng ta sẽ biết hướng đời sống tu tập của mình để là một nguyên tố an vui cho những người xung quanh, cho gia đình mình và cho xã hội.

Với những tính chất trên chúng ta cũng có thể thấy được một cách khá rõ ràng đường đi của nhân quả. Gieo nhân lành sẽ đạt được một quả lành, nhân bất thiện sẽ có quả tương ứng cùng với những điều kiện hỗ trợ của nó.

Thế nhưng trong đời đôi khi chúng ta lại có thể có những nghi vấn. Vì những hiện tượng báo ứng đối với nhân được gieo dường như không khớp với với quả mà người ta phải gặt lấy trong một khoảng thời gian nhất định.

Có người một đời làm việc thiện nhưng gia cảnh và bản thân lại gặp nhiều tai ương hạn ách, trong khi đó, có người không biết làm việc thiện, thậm chí làm những điều chuyên gây phiền nhiễu cho người khác mà lại gặp nhiều điều kiện thuận lợi.

Từ những hiện thực như trên chúng ta bắt đầu nghi ngờ về nhân quả, niềm tin về luật nhân quả bắt đầu lung lay. Để giải quyết nghi vấn này chúng ta xem tiếp về tính chất thứ tư của những đặc tính của nhân quả.

4. Sự phát triển nhanh hay chậm của nhân quả

Sự thực thì, định luật nhân quả chi phối chúng ta không sai sót một tơ hào nào. Nó chi phối một cách âm thầm và tuyệt đối chính xác đến nỗi nó chỉ có thể được biết một cách trọn vẹn dưới con mắt của Phật mà thôi.

Nhưng nhờ có người làm con mắt cho thế gian thấy được như thế nên chúng ta mới có những phân định khá rõ ràng về nhân quả. Đó là từ nhân đến quả phải có một khoảng thời gian nhất định của nó.

Có nhân đưa tới quả nhanh, như tay đánh vào mặt trống tức thời có âm thanh vang ra. Nhưng có nhân đưa tới quả chậm, như gieo lúa tháng chạp nhưng phải đợi đến tháng ba năm sau mới gặt hái. Từ đó nhân quả được phân biệt theo thời gian như sau:

Nhân quả đồng thời: thời gian từ nhân dẫn đến quả rất nhanh, dường như cùng lúc. Ví dụ như “ăn thì no, nằm co ro thì ấm”, những hiện tượng xảy ra tức thời, uống nước thì hết khát, giận hờn ai thì cảm thấy muộn phiền, lo trả thù thì bức não tâm trí… Đây cũng chỉ là một phân định nằm trong đặc tính thứ ba của nhân quả là trong nhân đã hàm chứa sẵn quả, nó là quả, và ngược lại.

Nhân quả khác thời: là loại nhân quả mà từ nhân dẫn đến quả cần có một khoảng thời gian. Khoảng thời gian này được coi như ba giai đoạn thọ báo của nghiệp quả, đó là:

Hiện báo: Nghiệp nhân trong đời này sẽ đưa đến quả báo ngay trong đời này. Ví dụ tuổi nhỏ học hành về sau trở thành người hữu dụng cho gia đình xã hội.

Sinh báo: Tạo nhân trong đời này nhưng đến đời sau mới thọ quả báo. Ví dụ bố thí thì được phước báo giàu sang ở đời sau, tán dương Phật đời sau thì được giọng nói trong trẻo dễ mến, tướng mạo đoan trang. Người giữ gìn năm giới cấm cho tinh chuyên đời sau sẽ được làm người đầy đủ phước báo, thực hiện thập thiện giới sẽ được sinh thiên…

Hậu báo: Tạo nhân đời này, nhưng mãi đến những đời sau đó mới thọ quả báo. Hay những đời sống trước đó đã tạo những nghiệp nhân bây giờ kết quả đã chín muồi nên phải lãnh thọ. Như những chuyện tiền thân của đức Phật hay chuyện của ngài Ngộ Đạt Quốc sư trong kinh Thủy Sám, đến những mười đời ngài mới thọ quả báo là cái mụt ghẻ nơi chân…

Ba thời nhân quả này dường như đã được định sẵn là có một khoảng thời gian nhất định nào đó cho nên cũng được coi như là định nghiệp (không lầm với định mệnh).

Tuy nhiên nó cũng bị chi phối bởi các nhân duyên khác vì thế vẫn có thể làm thay đổi thời gian đưa đến sự thọ quả. Như chuyện ngài Ngộ Đạt, nghiệp lành của ngài đã dời thời gian thọ báo của ngài lui lại tới những gần mười kiếp, sau đó thay vì phải chết đúng theo nghiệp định nhưng chỉ đền tội với cái mụt ghẻ nhức nhối mà thôi.

Tới đây chúng ta cũng có thể giải thích vì sao có những trường hợp dường như là mâu thuẫn với nhân quả như trên. Người làm lành mà đời sống luôn luôn túng quẩn là do những nghiệp quả bất thiện thuộc những đời trước, sinh báo và hậu báo, đã thành thục và buộc phải nhận lấy quả báo.

Còn người làm ác mà vẫn được phước lợi là những thiện nghiệp bằng cách nào đó mà người ta đã tạo được trong quá khứ, bây giờ thành thục và được hưởng.

Thế nhưng nghiệp đã tạo thì không bao giờ bị mất đi, nó sẽ tuần tự theo sự chi phối của định luật nhân quả mà rồi sẽ thành thục trong nay mai. Đừng cho rằng những người làm ác đời này tuy giàu sang mà không khổ, cũng đừng bảo những người làm lành tuy khốn đốn mà chẳng vui. Về khía cạnh này chúng ta còn xem xét tâm lý của nghiệp chủ khi sự đối diện với nghiệp quả.

Một nhà sư vô sự, vô tội mà bị giam tù, ông ta có thể không thấy một chút sợ sệt nào, tâm hồn không bị cắn rứt, luôn được an định, giải thoát. Một người làm lành tuy nghèo khốn nhưng tâm tư thong thả, không cắn rứt và còn cảm thấy vui vì làm một người hữu ích cho xã hội.

Đó có thể nói là nghiệp quả thô ác chỉ biểu hiện bên ngoài mà không mấy ảnh hưởng bên trong. Quả báo thuộc về thân tướng, đó là nhân quả biểu hiện ở thân.

Còn nhân quả biểu hiện đối với tâm đó là nhân quả thuộc về tâm. Như có người tướng mạo xấu xí nhưng tâm hồn thì trong trắng, tốt lành và ngược lại. Nhưng cũng có trường hợp cả hai mặt đều biểu hiện đồng thời. Như chúng ta vẫn thường nói, đẹp người đẹp nết, hay mỉa mai hơn ta vẫn thường nghe, xấu mà còn đóng vai ác, … trong ngoài đều hung dữ.

Một hiểu biết như vậy chúng ta không còn nghi ngờ về nhân quả nữa mà trở nên sáng suốt hơn trong việc lý giải những hiện tượng nhân quả báo ứng trong đời, từ đó niềm tin của chúng ta được xác quyết hơn, vững vàng hơn.

Tin nhân quả cũng có nghĩa là tin vào chính bản thân mình. Không ai có thể ban phúc giáng họa cho ai mà chính mình là chủ nhân ông của những hành động thiện ác và quả báo cho mình. Khi mới sinh không đem đến bất cứ một cái gì và khi chết đi cũng chỉ ra đi với hai bàn tay trắng.

Cho dù chết đi sống lại bao nhiêu lần thì cũng chỉ như vậy ngoại trừ những hành nghiệp mà mình đã gây tạo là cái duy nhất có thể đi theo với chúng ta mà thôi. Đức Phật dạy: Con người là chủ nhân ông của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp. Là chủ nhân cho nên chúng ta có thể nắm lấy vận mệnh của mình, chuyển hóa và tạo dựng những hành nghiệp tốt lành cho chính mình.

Nghiệp báo xấu đến chúng ta có đầy đủ nghị lực và đức tin để tiếp nhận, không tránh né. Nó được coi như là trách nhiệm mà mình phải gánh chịu. Không sợ hãi, nhìn thẳng vào nghiệp quả của mình để rồi vượt qua chúng bằng những hành động tích cực.

Quả báo tốt đến ta đón nhận một cách tự nhiên không tự phụ, kiêu căng và sử dụng nó như những phương tiện có sẵn, như đồng vốn có thể sinh lời, để tiếp tục tạo phước cho mình về tương lai, nuôi dưỡng lòng từ bi cho ngày một thêm lớn. Từ đó đưa hành nghiệp của mình đi lên mãi theo tiến trình tu tập giải thoát, hoàn thiện nhân cách của mình cho đến viên mãn.

Nguồn : Sưu tầm

Đăng bởi

Sự hình thành nhà nước ở cuối thời Hùng Vương

Họ là những người tách ra khỏi xã hội và tựa hồ như đứng trên xã hội. Theo truyền thuyết dân gian và sử sách cổ, đứng đầu nước Văn Lang là Hùng Vương. Nước Văn Lang được chia thành 15 bộ (vốn là 15 bộ lạc), đứng đầu mỗi bộ là lạc tướng (còn gọi là phụ đạo). Dưới đó là bồ chính đứng đầu công xã nông thôn.

Ngay các danh hiệu Hùng Vương, phụ đạo, bổ chính cũng đã phản ánh tiến trình các quý tộc thị tộc chuyển hoá thành các quan chức nhà nước, chức năng xã hội được chuyển hoá thành quyền lực nhà nước. Có lẽ các chữ phụ đạo, bồ chính cũng là từ Hán dùng để phiên âm từ Việt cổ: Trong tiếng Mường có từ “đạo”, trong tiếng Giarai có từ “tạo” và trong trong tiếng Bana có từ “ba đao”… đều có nghĩa là tù trưởng, thủ lĩnh, người đứng đầu một vùng; trong tiếng Tày và tiếng Thái có từ “pó chiêng”, trong ngôn ngữ của các dân tộc vùng Tây Nguyên có từ “pô ta rinh” nghĩa là già làng.

Sự hình thành nhà nước ở cuối thời Hùng Vương

Tóm lại, sự chuyển hoá quyền lực từ việc thực hiện chức năng xã hội thành quyền lực nhà nước và quý tộc thị tộc biến đổi thành quan chức nhà nước là hai yếu tố biểu hiện cụ thể của sự hình thành nhà nước. Quá trình chuyển hoá, biến đổi đó diễn ra một cách chậm chạp và lâu dài từ giai đoạn Phùng Nguyên qua các giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, được phát triển mạnh mẽ ở giai đoạn Đông Sơn.

Sự hình thành nhà nước ở cuối thời Hùng Vương

Về sự hình thành của nhà nước ở cuối thời Hùng Vương hiện còn có những ý kiến giải thích khác nhau. Một số học giả cho rằng ở cuối thời Hùng Vương, xã hội nguyên thuỷ đang trong quá trình tan rã, nhà nước chưa ra đời mà mới chỉ có chế độ dân chủ quân sự bộ lạc. Một sò nhà khoa học khác lại cho rằng, dù còn sơ khai nhưng nhà nước đã hình thành vào cuối thời Hùng Vương.

Nghiên cứu về sự hình thành của nhà nước ở Việt Nam trong thời kì này, một mặt phải dựa vào những đặc điểm chung của nhà nước và lí thuyết chung về sự ra đời của nhà nước đồng thời phải tính đến những đặc điểm đặc thù của xã hội đương thời với những yếu tố tác động đặc thù như đã phân tích ở trên.

Đăng bởi

Bộ máy chính quyền đô hộ 179 tr.CN-40

Dưới cấp quận chưa có tổ chức hành chính mới nào. Chế độ lạc tướng và tổ chức chính quyền ở các công xã nông thôn cổ truyền vẫn mặc nhiên tồn tại. Nói cách khác, tổ chức hành chính – vùng (bộ, công xã) của ngưởi Việt vẫn còn tồn tại. Các lạc tướng vẫn cai trị dân ở địa phương minh như cũ, họ chỉ nộp cống cho triều đình Phiên Ngung thông qua hai viên sứ giả của vua Triệu.

Hai quan điền sứ của nhà Triệu đã tiến hành lập sổ hộ khẩu cư dân của hai quận Giao Chỉ và cửu Chân, tổng số kê khai được 40 vạn dân. Như vậy, cơ sở xã hội của Âu Lạc cũ chưa bị động chạm nhiều và sử sách cũ cũng không thấy ghi chép một biến động chính trị lớn nào ở Giao Chỉ và Cửu Chân trong hơn 60 năm thống trị của nhà Triệu.

Tổ chức bộ máy chính quyền đô hộ giai đoạn 179 tr.CN-40

Năm 111 tr.CN, nhà Hán (từ 206 tr.CN – 85), chiếm được nước Nam Việt, trong đó có Âu Lạc cũ. Nhà Tây Hán (giai đoạn đầu của nhà Hán) cũng chia nước thành quận, huyện theo mô hình đơn vị hành chính nước Tần trước đây, trong đó có cả vùng đất mới chiếm được gồm 9 quận là: Đạm Nhĩ, Chu Nhai (đảo Hải Nam), Nam Hải, Hợp Phố (Quảng Đông), Uất Lâm, Thương Ngô (Quảng Tây), Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Thanh Nghệ Tĩnh), Nhật Nam (từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân), trong đó Giao Chỉ và Cửu Chân là hai quận cũ có từ thời nhà Triệu và là địa bàn sinh sống của dân Âu Lạc, còn Nhật Nam là quận mới được thành lập trên phần đất mới chiếm được của ngưởi Chàm Pa.

 Sau đó, ở nước Hán hình thành thêm một cấp hành chính trên cấp quận gọi là Châu và từ năm 106 tr.CN trở đi, miền đất thuộc Nam Việt cũ được đặt thành châu Giao Chỉ, trụ sở đặt ở quận Giao Chỉ là quận lớn nhất và quan trọng nhất. Đứng đầu cấp Châu là chức Thứ Sử, đứng đầu mỗi quận là một viên thái thú chủ yếu quản lí về hành chính, dân sự, giúp việc cho thái thú có Đô Uý chỉ huy quân sự. Dưới cấp quận là cấp huyện (từ cấp bộ đổi thành).(1) Các lạc tướng vẫn nắm quyền cai trị, cha truyền con nối nhưng được đổi gọi là huyện lệnh. Như vậy, so với nhà Triệu, nhà Hán đã tiến thêm một bước trong việc tổ chức bộ máy đô hộ: Bộ máy chính quyền đô hộ đã cai trị trực tiếp ở châu, quận và thứ sử, thái thú là các quan cai trị chứ không chỉ là sứ giả như trước đây. Tuy nhiên, từ cấp huyện trở xuống về cơ bản chưa có gì thay đổi. Những năm đầu công nguyên, triều đình phong kiến phương Bắc rối loạn. Vương Mãng cướp ngôi nhà Tây Hán lập ra nhà Tấn (8 – 23). Trong 15 năm đó, quan lại nhà Tây Hán ở Châu Giao Chỉ hầu như trở thành một chính quyền cát cứ và bộ máy cai trị không có gì thay đổi.

Đăng bởi

Hành thiện không đúng cách dễ tạo nghiệp

Làm việc thiện mà không hiểu rõ đạo lý, cứ tự cho việc mình làm là hành thiện, ắt không khỏi tạo nghiệp, uổng phí mất tâm tư một cách vô ích…




Phương pháp tích thiện


1. Bàn luận rõ ràng về thiện:


Nếu xét một cách tinh tường mà nói, thì thiện có chân có giả, có ngay thẳng có khuất khúc, có âm dương, có phải hay chẳng phải, có thiên lệch hay chính đáng, có đầy có vơi, có tiểu có đại, có dễ hay khó, đều cần bàn luận rõ ràng.


Làm việc thiện mà không hiểu rõ đạo lý, cứ tự cho việc mình làm là hành thiện, ắt không khỏi tạo nghiệp, uổng phí mất tâm tư một cách vô ích.


Thế nào là chân thiện và giả thiện?


Xưa có một số nho sinh yết kiến Trung Phong hoà thượng (một vị cao tăng triều đại nhà Nguyên), mà hỏi: Nhà Phật bàn thiện ác báo ứng như bóng theo hình, tức làm lành gặp lành, làm ác gặp ác, nay có người nọ thiện mà con cháu không được thịnh vượng, mà kẻ kia ác thì gia đình lại phát đạt, vậy là Phật nói về việc báo ứng thực vô căn cứ sao?


Hoà thượng nói: Người phàm tâm tính chưa được tẩy sạch, chưa được thanh tịnh, tuệ nhãn chưa khai, thường nhận thiện làm ác, cho ác là thiện; người như vậy không phải là hiếm có, đã tự mình lẫn lộn phải trái cho ác là thiện, cho thiện là ác, điên đảo đảo điên mà không hay lại còn oán trách trời cho báo ứng là sai, là không công bằng ư.


Bọn nho sinh lại hỏi: Mọi người thấy thiện thì cho là thiện, thấy ác thì cho là ác, sao lại bảo là lẫn lộn đảo điên vậy?


Hoà thượng bảo họ thử thí dụ xem sự tình thế nào là thiện thế nào là ác. Một người trong bọn nói: mắng chửi đánh đập người là ác, tôn kính lễ phép với người là thiện.


Hoà thượng nói không nhất định là như vậy.


Một người khác cho là tham lam lấy bậy của người là ác, gìn giữ sự thanh bạch liêm khiết là thiện.


Hoà thượng cũng bảo không nhất định là như vậy.


Mọi người đều lần lượt đưa ra thí dụ về thiện và ác, nhưng Trung Phong hoà thượng đều bảo là không nhất định là như vậy.


Nhân thế bọn họ đều thỉnh hoà thượng giảng giải cho.


2. Định nghĩa chữ thiện


Hoà thượng Trung Phong chỉ dạy rằng: Giúp ích người gọi là thiện, chỉ vì ích mình gọi là ác. Vì giúp ích người cho nên dù có đánh mắng cũng vẫn là thiện, trái lại chỉ vì ích mình nên dù có kính trọng người cũng vẫn là ác.


(1). Vì vậy người làm thiện đem lại ích lợi cho người là công, mà công tức là chân, còn vì lợi mình ấy là tư, mà tư tức là giả.


Lại việc thiện tự lòng phát ra là chân, tập theo thói cũ là giả, không trước tướng mà làm chân, trước tướng mà làm giả…


Lại nữa làm việc thiện mà xuất phát từ tấm lòng thành là chân thiện, còn hời hợt chiếu lệ mà làm là giả thiện. Hơn nữa hành thiện mà không nghĩ đến một sự báo đáp nào cả là chân thiện, trái lại còn hy vọng có sự đền đáp là giả thiện, đó là những điều tự mình cần khảo sát kỹ lưỡng.


Thế nào là âm thiện, dương thiện?


Phàm làm việc lành mà người ngoài biết được là dương thiện, làm việc lành mà người ngoài không biết được là âm đức. Âm đức được phúc báo, dương thiện hưởng danh thơm. Nhưng danh thơm thường là điều đáng húy kỵ vì xưa nay biết bao nhiêu người vì háo danh thành thử bị danh làm hại, lâm vào cảnh tai họa, ngược lại những người không tội lỗi mà cứ bị thiên hạ chê oan, thì lắm lúc con cháu họ được phát đạt.


Cái lẽ âm dương như thế, phải để tâm nhiều mới hiểu hết.


Thế nào là phải và chẳng phải?


Nước Lỗ xưa có luật người Lỗ nào chuộc được người bị bắt làm kẻ hầu hạ ở nước khác về thì được quan phủ thưởng tiền. Tử Cống (học trò đức Khổng Tử tên là Tứ) chuộc người về mà không nhận tiền thưởng.


Đức Khổng nghe biết lấy làm buồn phiền mà bảo rằng: Tứ làm việc thất sách rồi. Ôi thánh nhân xử sự nhất cử nhất động có thể cải sửa phong tục thay đổi tập quán, làm gương mẫu cho bách tính noi theo, chẳng phải cứ nhiệm ý làm những việc thích hợp với riêng mình.


Nay nước Lỗ người giàu thì ít người nghèo thì nhiều,nếu nhận thưởng cho là tham tiền là không liêm khiết còn không lãnh thưởng thì người nghèo sao có tiền tiếp tục chuộc người? Từ nay về sau chắc không ai chuộc người ở các nước chư hầu về nữa.


Tử Lộ (tên Do, học trò đức Khổng) cứu người khỏi chết đuối, được tạ ân một con trâu, Tử Lộ nhận lãnh. Khổng Tử hay chuyện hoan hỷ bảo rằng:Từ nay về sau ở nước Lỗ sẽ có nhiều người lo cấp cứu kẻ chết đuối.


Cứ lấy mắt thường tình mà xem, việc Tử Cống không nhận tiền bồi thường là cao quí, Tử Lộ nhận trâu là thấp hèn, nhưng Ðức Khổng Tử lại khen Tử Lộ mà chê Tử Cống.


Vậy nên biết người không nên chỉ nghĩ đến lợi ích trước mắt mà cần xét xem hành động đó có ảnh hưởng tệ hại gì về sau nầy không.


Không nên bàn tới lợi ích nhất thời ở đời nầy mà phải nghĩ tới tương lai xa, mà cũng chẳng nên chỉ nghĩ riêng cho cá nhân mình mà phải nghĩ cho cả thiên hạ đại chúng nữa.


Việc làm hiện nay tuy bề ngoài là thiện nhưng trong tương lai lại di hại cho người, thì thiện mà thực chẳng phải thiện.


Còn việc làm hiện thời tuy chẳng phải thiện nhưng về sau nầy lại có lợi ích cứu giúp người thì tuy ngày nay chẳng phải thiện mà chính thực là thiện vậy.


Ở đời có nhiều sự tình tương tự,chẳng hạn như tưởng là hợp lễ nghĩa, là có trung tín, từ tâm mà thực ra lại trái lễ nghĩa, không phải trung tín hay từ tâm, đều phải quyết đoán chọn lựa kỹ càng.


Thế nào là thiên lệch và chính đáng?


Xưa ông Lã Văn Ý, lúc mới từ chức tể tướng , cáo lão về quê, dân chúng 4 phương đến nghênh đón như thái sơn bắc đẩu. Nhưng có một người làng say rượu mạ lỵ ông. Lã công điềm nhiên bất động bảo gia nhân: kẻ say chẳng chấp làm gì , đóng cửa lại mặc kệ hắn.


Qua một năm sau, người đó phạm tội bị tử hình. Lã công hay biết sự tình mới hối hận rằng: giá mà ngày ấy ta bắt hắn đưa quan nha xử phạt thì hắn có thể bị phạt một tội nhẹ mà tránh khỏi phạm trọng tội về sau.


Ta lúc đó chỉ muốn giữ lòng nhân hậu tha thứ cho hắn, không ngờ hóa ra nuôi dưỡng tính ngông cuồng của hắn để phạm tội tử hình như ngày nay vậy.


Đó là một sự việc do lòng thiện hóa ra làm ác. Cho hay có khi tâm lành mà hành sự lại ác, có khi tâm ác mà hành sự lại lành.


Thế nào là đầy và vơi (bán và mãn)


Kinh dịch nói việc thiện mà không tích lũy cho nhiều không đủ để được danh thơm tiếng tốt, việc ác mà không đọng lại nhiều chẳng đủ để mang họa sát thân.


Kinh thư có nói nhà Thương tội ác quá nhiều như nước vỡ bờ vì thế mà Trụ Vương bị diệt. Việc tích thiện cũng như lưu trữ vật dụng, nếu chăm chỉ cất giữ ắt sẽ đầy kho, còn biếng nhác không chịu tích lại thi vơi chứ không đầy. Chuyện làm thiện được đầy hay vơi bán hay mãn là vậy.


Xưa có một nữ thí chủ vào chùa lễ Phật, muốn cúng dường nhưng lại nghèo, trong túi chỉ còn hai đồng, đem cả ra để cúng.


Vị trụ trì đích thân làm lễ bái sám hồi hướng cho. Sau nữ nhân đó được tuyển vào cung, tiền tài phú quý có thừa, đến chùa lễ Phật đem cả ngàn lượng bạc cúng dường. Hòa thượng trụ trì chỉ sai đồ đệ thay mình làm lễ hồi hướng mà thôi. Nữ thí chủ nọ thấy vậy liền hỏi: Trước đây tôi chỉ cúng dường có hai đồng mà phương trượng đích thân làm lễ bái sám hồi hướng cho, nay cúng cả ngàn lượng bạc mà ngài không tự mình làm lễ là sao vậy?


Vị hoà thượng đáp: Trước kia tiền bố thí quả thật ít ỏi nhưng xuất phát từ tấm lòng thật chân thành, nếu bần tăng không đích thân làm lễ thì không đủ báo đáp được ân đức ấy. Nay tiền cúng dường tuy nhiều nhưng tâm bố thí thì không được chí thành như trước, nên bảo đồ đệ thay bần tăng làm lễ cũng đủ.


Với lòng chí thành bố thí cúng dường chỉ hai đồng mà việc thiện được viên mãn, còn bố thí cả ngàn lượng bạc mà lòng không được chí thiết thì công đức đó chỉ được bán phần mà thôi.


Chung Ly Quyền chỉ dạy cho Lã Đồng Tân cách luyện đan điểm sắt thành vàng có thể đem dùng để cứu giúp người đời.


Lã Đồng Tân hỏi rằng vàng đó sau có thể biến chất không?


Chung Ly Quyền bảo 500 năm sau vàng đó sẽ trở về nguyên bản chất là sắt, thì họ Lã nói: Như vậy sẽ gia hại cho người đời 500 năm về sau, ta chẳng học phép ấy làm gì.


Chung Ly Quyền bảo:Muốn tu tiên cần tích lũy công đức 3000 điều, nhưng chỉ một lời của nhà ngươi nói đó cũng đủ mãn 3000 công đức rồi.


Đây lại thêm một thuyết nữa về đầy vơi hay bán mãn vậy.


Lại làm lành mà tâm không chấp trước thì mỗi việc đều được viên mãn, trái lại tuy làm suốt đời mà việc lành cũng chỉ có được một nửa.


Ví như đem của giúp người mà trong không thấy mình giúp, ngoài không thấy người nhận, trung gian không thấy vật đem giúp thì được gọi là bố thí tam luân không tịch hay nhất tâm thanh tịnh.


Bố thí như vậy, dù một lon gạo cũng có thể gây vô lượng phước, một đồng bạc có thể tiêu ngàn kiếp tội. Nhược bằng tâm khư khư chấp trước, thời tuy bố thí cả thoi vàng, phước đức cũng chỉ có được một nửa.


Ðây lại một cách xét việc lành đầy, lưng, nửa, toàn vậy.


Thế nào là đại và tiểu?


Xưa Vệ Trọng Đạt, một quan chức ở Hàn lâm viện bị nhiếp hồn đưa xuống âm phủ. Diêm vương sai các phán quan trình những cuốn sổ ghi điều thiện và ác ra để xét. Nếu đem so sánh thì những sổ ghi điều ác chất đầy một đống còn sổ ghi điều thiện có mỗi quyển mỏng dính.


Diêm Vương cho đem lên bàn cân thì bên một cuốn sổ mỏng dính kia lại nặng hơn tất cả các cuốn ghi điều ác cộng lại.
Trọng Đạt nhân thế mới hỏi: Năm nay tôi mới chưa đến 40 tuổi đời mà sao tội lỗi lại có thể nhiều đến thế? Diêm Vương bảo: Mỗi một niệm ác kể là một tội không cần đợi đến lúc có thực sự phạm phải hay không.


Trọng Đạt lại hỏi trong cuốn sổ mỏng kia có ghi việc thiện gì vậy.


Diêm Vương bảo: triều đình đã từng dự tính khởi đại công tác tu sửa cầu đá ở Tam Sơn, nhà ngươi dâng sớ can gián, sớ văn đó có ghi chép vào sổ vậy. Trọng Đạt thưa: Bản chức tuy có dâng sớ,nhưng triều đình không y theo lời tấu trình, thì sự việc đâu có ích gì? Thì Diêm Vương lại bảo cho hay là tuy triều đình không y theo lời tấu, nhưng một niệm thiện đó của nhà người là vì lợi ích của toàn dân muốn cho họ khỏi bị đi lao công vất vả, khỏi bị sưu cao thuế nặng, nếu mà lời tấu trình được triều đình y theo thì công đức nhà người thật vô cùng lớn lao. Cho nên nếu có chí nguyện làm việc lợi ích cho quốc gia thiên hạ , cho đại chúng thì tuy việc làm đó có nhỏ mà công đức lại lớn, còn nếu chỉ nghĩ làm lợi riêng cho thân mình thì tuy có làm nhiều mà công đức lại nhỏ vậy.


Thế nào là khó và dễ?


Các vị tiên nho xưa có nói muốn khắc phục mình, muốn thắng được tâm mình thì nên bắt đầu từ chỗ khó khắc phục mà khởi tâm trước.


Đức Khổng Tử bàn về nhân ái cũng nói bắt đầu từ chỗ khó mà thi hành trước, tức là từ chỗ phải thắng được lòng mình vậy, bởi lẽ khó mà làm được thì dễ ắt cũng làm xong.


Chẳng hạn như ở Giang Tây có ông già họ Thư làm nghề dạy học, nhân gặp một người nghèo thiếu tiền quan, vợ người ấy sắp bị quan bắt làm tôi tớ, ông liền bỏ số tiền nhập học của học trò mà ông đã dồn được trong hai năm ra chuộc, nhờ đó vợ chồng người kia khỏi bị ly tán. Ông già họ Trương ở tỉnh Trực Lệ, nhân gặp một người bị nợ khốn, phải đem cầm vợ con. Ông liền bỏ số tiền mình để dành được trong 10 năm ra chuộc, nhờ đó vợ con người kia được an toàn. Bỏ tiền cứu người như hai trường hợp trên thật là hiếm có, ít ai làm nổi. Lại như ông già họ Cận ở Trấn Giang tuổi đã cao, không có con nối dõi, lân gia có người đem đứa con gái còn trẻ đến nạp cho làm thiếp, nhưng ông không nhẫn tâm thu nạp mà đem hoàn trả lại. Đó là chỗ khó có thể nhẫn mà nhẫn được.


Vậy nên phúc báo trời cho hưởng sẽ hậu.


Phàm những người có tiền tài, có quyền thế mà họ muốn làm phúc thì thực là dễ , dễ mà chẳng làm là tự hủy hoại mình. Người nghèo hèn khốn cùng muốn làm phúc thật là khó, khó nhưng mà làm được, đó mới thực là đáng quý vậy.


3. Tuỳ duyên hết sức tu thập thiện


Tùy lúc gặp duyên lành cứu giúp người, hay tùy hỷ công đức mà hành thiện, nếu phân biệt ra từng loại thì rất nhiều, nhưng đại khái có mười loại như sau: trợ giúp người cùng làm thiện, giữ lòng kính mến người, thành toàn việc thiện của người, khuyến khích người làm thiện, cứu người gặp nguy khốn, kiến thiết tu bổ có lợi ích lớn, xả tài làm phúc, gìn giữ bảo hộ chánh pháp, kính trọng tôn trưởng, thương tiếc mạng sống loài vật.


Thế nào là trợ giúp người cùng làm thiện?


Xưa vua Thuấn lúc chưa tức vị thấy những người đánh cá ở đầm Lôi Trạch, đều tranh chiếm chỗ nước sâu dầy nhiều cá, còn người già yếu phải tìm chỗ nước nông cạn chảy xiết ít cá mà đánh, nên có lòng trắc ẩn bất nhẫn, bèn cùng tới đánh cá. Thấy người nào tranh dành chỗ thì ông im lặng không đá động gì đến tánh xấu ấy, còn thấy người nào mà có lòng nhường chỗ thì ông hết lời khen ngợi mà theo gương đó cũng nhường chỗ cho người khác. Một năm sau những người đánh cá ở chỗ nước sâu ai cũng có lòng nhường chỗ cho nhau mà không tranh dành nữa.


Ôi vua Thuấn thực sáng suốt, há chẳng phải mất lời mà khuyên bảo giáo hóa được người sao! Tuy không dùng lời mà dùng chính bản thân mình làm gương mẫu cho người khác sửa đổi. Đây là chỗ khổ tâm và khéo dụng công của vua Thuấn vậy.


Bọn chúng ta ở thời mạt pháp nầy chẳng nên thấy mình có chỗ sở trường mà khinh khi chèn ép người, chẳng nên lấy chỗ hay giỏi của mình mà đem so sánh xét người. Ẩn ác dương thiện tức là thấy người ta dở, có lỗi lầm thì gặp riêng khuyên bảo đừng ra ngoài nói xấu làm người ta mất hết danh dự, gặp được việc làm tốt của ai thì nên ghi nhớ mà học theo đồng thời hết sức ca ngợi để mọi người cùng được biết.


Thế nào là thành toàn việc thiện của người?


Một hòn đá trong có ngọc nếu bị ném bỏ ắt sẽ vỡ tan như hòn ngói, nhưng nếu đem mài dũa chạm trổ ắt sẽ thành khuê trượng hốt ngọc. Cho nên phàm thấy người làm việc thiện hoặc thấy ý chí và tư chất của họ có thể tiến thủ thành công thì đều nên khuyến dụ trợ giúp họ; hoặc khen ngợi khích lệ hoặc gìn giữ bảo bọc họ; hoặc biện bạch hộ cho họ hay chia xẻ cùng họ nỗi oan ức bị người ghen tị mà vu họa phỉ báng họ, cốt sao giúp cho họ được thành công mà thôi.


Đại khái con người thường không ưa thích những người không giống như mình, chẳng hạn như ác không ưa thiện, tiểu nhân không thích quân tử. Người trong một xóm làng, thiện thì ít mà xấu ác thì nhiều, vì thế người thiện ở đời bị kém thế khó có thể tự lập được vững vàng.


Hơn nữa người hào kiệt, thông minh tài cán, tính tình cương trực không trọng bề ngoài, không ưa tiểu tiết nên hay bị người ta hiểu lầm mà chỉ trích phê bình; vì thế cho nên việc thiện thường dễ bị hư hỏng mà người thiện thường bị nhạo báng, cười chê, chỉ duy có người trưởng giả nhân hậu mới hiểu rõ được sự tình mà khuông phù trợ giúp cho họ được thành công. Thành toàn cho người thì công đức thực là lớn lao vô cùng.


Thế nào là khuyến khích người làm thiện?


Con người ta sinh đã sinh ra làm người, ai mà không có lương tâm.


Đường đời mênh mông mù mịt rất dễ bị sa đọa chìm đắm vì lợi danh.


Đối với những người còn mải mê tham danh tham lợi tạo thành nghiệp ác, ta nên tìm cách cảnh tỉnh họ cho thoát khỏi sự mê hoặc, cũng giống như họ đang trải qua một giấc mộng lớn trong đêm dài mà ta giúp họ đoạn diệt, bạt trừ hết thì ân huệ đó thật vô biên vô lượng.


Hàn Dũ đời nhà Đường có nói: dùng lời thì khuyên người được một đời, làm sách thì khuyên người được trăm đời. Việc khuyên người làm lành ở đây đem so với việc cùng người làm lành ở trên có phần sút kém, song theo bệnh cho thuốc, theo thời khuyên răn vẫn thâu được hiệu quả rất nhiều. Còn như dùng chính bản thân mình hành động làm mẫu mực, làm gương cho người trông thấy để họ tự nhiên tỉnh ngộ biết được lỗi lầm mà sửa đổi thì hiệu quả cũng chẳng kém mà không để lại hình tích gì; có hai phương tiện nầy đều chẳng thể bỏ qua. Muốn giúp người, khuyên người cần phải thông minh sáng suốt, biết tùy thời, tùy người không để mất lời tức phí lời mình nói mà người không nghe, cũng không để mất người, tức là gặp người có thể khuyên cải được mà mình không hành động để lỡ mất dịp làm lành, như thế là kém hiểu biết không có trí tuệ vậy.


Thế nào là cứu người nguy cấp?


Người ta ai cũng có lúc gặp phải sự tai ương hoạn nạn xảy ra. Vậy khi gặp ai lâm cảnh ách nạn hãy xem như chính mình lâm nạn mà lo vội vã cứu trừ, hoặc lấy lời biện bạch an ủi, hoặc dùng phương chước khôn ngoan giải trừ. Thôi Tử có nói: Làm ân không cần phải đợi lớn lao mới làm, chỉ cần cứu kịp người lúc cấp nạn là quý.

Ðó thật là lời của kẻ có lòng nhân vậy.



Người đời lấy cơm ăn áo mặc làm mạng sống, cho nên rất quý trọng đồng tiền, nay chúng ta có thể xả bỏ được tức là trong lòng bỏ được tính keo kiệt, ngoài mặt thì cứu giúp được người lúc cần cấp; lúc mới bắt đầu thì có vẻ miễn cưỡng mà làm, nhưng rốt cuộc xả bỏ quen rồi thì an nhiên tự tại hành động, có thể rửa sạch được lòng riêng tư, vị kỷ, trừ bỏ được tính biển lận.


Thế nào là giữ gìn bảo hộ chánh pháp?


Góp phần công đức xây dựng chùa chiền, chăm làm việc Phật sự, ấn tống kinh điển, lưu truyền sách báo bài giảng của quý thầy là bảo hộ chánh pháp.


Bản thân mình thì học, hiểu và thực hành đúng chánh pháp rồi đem chánh pháp đó lan truyền đi cho những người khác, ấy cũng là bảo hộ chánh pháp.


Hoà Thượng Thích Thiện Siêu (trích Liễu Phàm Tứ Huấn)

Đăng bởi

Phương pháp thờ cúng trong gia đình, phước đức lâu bền cho gia đình, cho dòng họ được hưng thịnh muôn đời.

Việc khấn vái phải theo trật tự trên dưới rõ ràng. Phật có nguồn gốc từ con người, cho nên dù có phép thần thông quảng đại đi chăng nữa, thì cũng không ngoài vòng cương tỏa của Trời – Đất. Vậy thì khi khấn vái phải lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ trước, rồi mới đến Phật. Tham khảo các bài sớ cúng của các dòng họ, tôi thấy các cụ xưa cũng thường theo trật tự: Chư Thiên – Chư Địa – chư Thần – Chư Phật – Chư thánh – Thành hoàng làng – Gia Tiên, không phải như con cháu bây giờ để Phật lên trước trời đất? Ví dụ: Con sám hối lạy chín phương trời, năm phương đất, chư Phật mười phương chẳng hạn…






Quay lại vấn đề chính đã nêu ra ở trên, để thờ cúng trong nhà bà con cần chuẩn bị những gì? – Xin thưa chúng ta cần:


1. Rường thờ


2. Hương án


3. Bài vị


4. Bát hương


5. Hoành phi


6. Đối liễn


7. Lễ vật (hương, đăng, hoa, quả, nước)


8. Sớ cúng


Và tôi sẽ giải thích ý nghĩa, phương cách thực hiện từng mục trên như sau:


1. Rường thờ: có nơi gọi là giường thờ, gọi là giường thờ vì giường thờ vốn có mành hoặc rèm che, là nơi nghỉ ngơi của linh hồn tiên tổ. Nhưng vì giường là thứ dành cho người phàm tục, sợ phạm húy với tổ tiên, nên nhân dân gọi chệch thành “rường” chỉ khi cần thắp hương mới vén rèm lên. Khi xong rồi thì phải kéo rèm che kín lại không cho khách khứa nhìn thấy hương án, ngoại trừ ba ngày tết.


Phía trước cửa rường thờ, hai bên là hai câu đối, bên trên cùng là hoành phi, bên trong là hương án (bàn thờ), rường thờ được chia làm hai bậc cao thấp, trái phải, bên trái cao hơn một chút thờ ngũ vị tài thần, bên phải thấp hơn một chút thờ gia tiên; Hoặc phía sau cao hơn thờ tài thần, phía trước thấp hơn thờ gia tiên.


2. Hương án: “Án” là cái bàn, “hương án” là cái bàn để bày lễ vật thắp hương, nhân dân gọi nôm na là bàn thờ. Hiện nay các nhà ít khi có mành che nên có thể nói là không còn rường thờ mà chỉ có bàn thờ (hương án).


3. Bài vị 


“Bài” là cái thẻ bằng gỗ mỏng hay bằng giấy cứng có viết chữ trên đó. “Vị” là chỗ đứng. “Bài vị” còn được gọi là “Thần chủ”, là một tấm thẻ, trên đó có ghi đầy đủ tên họ người chết, năm sinh, ngày chết, chức tước, quê quán, dùng để tế lễ và thờ phụng.


Cách viết chữ lên bài vị:


– Chức danh của vị gia tiên được thờ phụng, ví dụ: Cao tổ khảo (kị), hoặc Tằng tổ khảo (cụ), Tổ khảo (ông); Hiền khảo (cha)


– Chức tước và công danh (nếu có) của vị gia tiên được thờ phụng;


– Tuổi thọ: nếu từ 60 tuổi đổ lại thì ghi hưởng dương, từ 61 trở lên mới ghi hưởng thọ


– Vai vế trong dòng họ: Con trưởng thì ghi họ rồi thêm “mạnh công”, nếu là con thứ thì ghi họ rồi thêm “quý công”, sau đó mới tên huý của vị gia tiên.


Ví dụ:


– Hiền khảo / tiền đảng viên ĐCSVN-Đại tá quân đội nhân dân VN – Liệt sĩ chống Mỹ – Huân chương chiến công hạng nhất / hưởng dương ngụ tứ tuần Trần Mạnh Công tự Văn An phủ quân 1915 – 1968);


Xem thêm ở bài: “Cấu trúc thờ cúng trong nhà thờ họ và tổ chức tề lễ ”


4. Bát hương: Phương pháp làm bát hương hiện nay trong nhân dân thường phụ thuộc vào thầy cúng, hoặc thầy chùa. Có người nói sau khi làm bát hương phải được thầy chùa đem “Mật tông kinh” cầu nguyện làm phép mới linh, tôi e là không phải đối với những gia đình không là đệ tử cửa Phật?


Còn thầy cúng thì chẳng ai có thể kiểm nghiệm nổi thần thông quảng đại của thầy ở mức nào, mà chỉ thấy bát hương đắt đỏ thôi rồi, cho nên nhiều gia đình cũng than vãn “tiền mất tật mang”. Bởi vậy tôi mạnh dạn đưa lên đây phương pháp sắm sanh bát hương, ai tin tôi cứ theo mà làm. Thiết nghĩ, đạo nghĩa đã dạy việc thờ cúng phải làm theo tiếng gọi từ lương tâm, linh hồn có thể xâm nhập được vào trong trí não của mình để lắng nghe hư thực, nên có thờ ắt có thiêng mà không nhất thiết phải có “Mật tông kinh”. Chỉ cần ấn định danh phận cho vị gia tiên muốn thờ trong bát hương là đủ, cách làm bát hương như sau:


Chọn mua bát hương: Tuỳ theo khả năng tài chính có thể chọn đồ gốm hoặc đồ đồng. chữ khắc trên bát hương nên chọn chữ “Phước”. Hình con vật nên chọn một cặp rồng – phượng cùng châu vào biểu tượng của thái cực (vòng tròn âm dương). Chọn như vậy thì âm dương mới hài hoà, mới hỗ trợ cho sự sinh tồn vững bền của dòng tộc. Nếu bát hương chưa có biểu tượng âm dương thì vẽ nó lên giấy rồi dán bên dưới bát hương. Bát hương mua về phải rửa sạch bằng nước thơm ngũ vị hương (có bán tại tiệm bán bát hương), lau khô;


Bỏ gì vào trong bát hương?


– Thần sa, chu sa : theo quan niệm của người xưa, thần sa, chu sa có khả năng từ tà khí, nghĩa là bát hương thỉnh cho vị gia tiên nào thì vị gia tiên đó hiển nhiên là chính khí hiển linh, tà khí không vào phá bát hương được. Thần sa, chu sa bà con có thể tìm đến tiệm thuốc đông y để mua, tuy nhiên tuyệt đối không được bỏ nhiều, mỗi bát hương chỉ khoảng 1 – 2gr


– Tro: Dùng rơm sạch để đốt lấy tro, ở thành phố không có rơm thì mua thật nhiều hương về đốt lấy tro.


– Một chùm tua rua ngũ sắc nhỏ kết bằng 5 sợi chỉ năm màu;


– Một tờ giấy mộc nhuộm đỏ viết nội dung giống như trên bài vị, nếu vị gia tiên được thờ phụng có mộ thì tốt nhất xin một chút đất mộ và rút ba chân hương ở mộ rước về càng linh; Nếu là bát hương chung thì lập danh sách tất cả những người muốn thờ cũng theo nội dung bài vị, hoặc ghi chung “Gia tộc hoặc chi tộc…(họ: Nguyễn Văn, Lê Huy…) bài vị linh thần”, rồi ghi thêm “Phúc lộc thọ toàn”;


– Đối với “thất bảo”, tôi chỉ thấy ở miền Nam ảnh hưởng của đạo Cao Đài, còn như Xứ Nghệ An đổ ra thì không có món này.


Gấp bài vị cho vuông vắn lại, rồi dùng một mảnh giấy trang kim (giấy kẽm tráng kim tuyến vàng mục đích là nhỡ có bị cháy cội hương, lớp giấy kẽm sẽ bảo vệ để bài vị không bị cháy lẫn vào cốt tro bên ngoài) gói tất cả các thứ: đất mộ, tiền, chỉ ngũ sắc, giấy bài vị, thần sa, chu sa tán bột mịn để vào, gói tờ giấy trang kim lại cho vuông vắn, để xuống dưới đáy bát hương, sau đó mới đổ tro lên cho đầy. Cắm 3 cội hương rước tứ ngoài mộ về, lau sạch bên ngoài và để trang nghiêm lên hương án, phía trước bài vị.


Chú ý: bát hương mỗi khi được định vị trên hương án rồi thì kiêng kỵ bị xê dịch vị trí, gia đạo sẽ gặp chuyện chẳng hay. Do đó, nếu cẩn thận thì nên dùng keo hai mặt dính chặt xuống. mỗi năm chỉ được sửa sang bát hương từ sau 23 – 30 tháng chạp mà thôi.


Bát hương thờ ngũ vị tài thần theo phong tục thuần Việt hoàn toàn không giống với Trung Quốc, ngũ vị tài thần của Việt Nam là Hoàng thiên, Hậu thổ, là vua trời vua đất của nước Việt và ba vị tam tài Đông trù tư mệnh Táo chủ thần quân chủ về cơm no áo ấm, sức khoẻ; Thổ địa long mạch tôn thần chủ về đất đai long mạch và sự tiềm ẩn của cải sinh sôi; Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần chủ về tiền tài, thóc gạo đã thu hoạch, gặt hái về (tôi đã có nói trong bài thờ cúng táo quân).


Đối với bát hương thờ ngũ vị tài thần, đứng trong khuôn viên nhà mình mà nhìn ra cổng thì bên trái là long mạch, đào sâu xuống đến khi đụng phải nước, lấy một chút đất lẫn nước ở đó, cùng với một chút tro giữa lòng bếp hợp lại trộn với thần sa, chu sa rồi cũng gói vào tờ giấy trang kim với tiền âm dương, tua rua ngũ sắc mà để xuống đáy bát hương trước khi đổ tro lên cho đầy.


Lập bát hương cho người mới mất: Thủ tập lập bát hương như đã hướng dẫn trên. Sau đó giờ Tý nửa đêm, đem bát hương ra để trên nóc nhà để gọi nhập hồn. Cách khấn như sau:


– Kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ


– Kính lạy Đông trù tư mệnh Táo chủ thần quân Thổ địa long mạch tôn thần Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần


– Kính lạy Thanh hoàng bản xứ… (tên địa phương cư ngụ)…


– Kính lạy Gia tiên nhà….. (Nguyễn Trọng, Lê Huy….chẳng hạn)…


Cho phép hồn về nhập nơi cư ngụ!


Tiếp đến, cầm năm hương lạy bốn phương tám hương xong thì bắt đầu gọi hồn:


– Hú ba hồn bảy (chín) vía …(họ tên người chết)… về nơi cư ngụ! (một lần gọi xong thì tách một cây hương huơ một vòng tròn lên trời rồi cắm vào bát hương. Nếu người chết là nam thì gọi 7 lần; nếu người chết là nữ thì gọi 9 lần. Gọi đủ số lần thì đem bát hương để vào vị trí bàn thờ lập cho người mới chết).


Bát hương của người mới chết phải chờ hết khó mới được nhập vào bàn thờ gia tiên.


Thủ tục nhập bát hương của người hết khó vào bàn thờ gia tiên:


Bước 1: Làm lễ cẩn cáo với gia tiên để xin phép


Bước 2: Hoặc là đem nguyên bát hương của người hết khó để lên vị trí được quy định cấp bậc trên bàn thờ gia tiên; hoặc là chỉ rút phần cốt hương và ba cội hương từ bát hương của người mới chết nhập vào bát hương thơ chung của gia tiên. Bát hương cũ đem thả xuống sông, hoặc chôn xuống đất. Coi như hoàn tất thủ tục nhập.


Mỗi nhà chỉ nên có 2 – 3 bát hương trên một rường thờ mà thôi: Một bát thờ ngũ vị tài thần để ở vị trí cáo nhất; Một bát thờ gia tiên, Một bát hương thờ bà cô ông mãnh; gia đình nào mà dân chủ thì lập thêm một bát thờ đàng ngoại, bát hương này để ở vị trí thấp hơn một chút so với bên nội. Tuy nhiên tôi cung nói rõ, nếu gia đình cư ngụ trên đất hương hoả của nhà nội, thì không thờ ngoại được, mà chỉ có những cặp vợ chồng tự mua đất tạo dựng cơ nghiệp thì mới có thể thờ ngoại.


Việc lập bát hương thờ phụng phải chọn ngày lành tháng tốt. Có nhiều cách để chọn ngày, nhưng kinh nghiệm của tôi thì lấy ngũ hành tương khắc tương sinh làm trọng. Trước hết bà con căn cứ vào ngũ hành để chọn ngày sinh nhập cho gia chủ. Ví dụ gia chủ mạng kim thì chọn ngày thổ, gia chủ mạng thổ thì chọn ngày hoả, gia chủ mạng hoả thì chọn ngày mộc. Chọn ngũ hành thôi chưa đủ, ngày ngũ hành đó còn phải là ngày có ngôi sao hoàng đạo, riêng đối với việc lập bát hương thờ phụng này ta nên chọn ngày / giờ có ngôi sao Tư mệnh chủ về sự phúc đức để khởi sự sẽ được phúc đức lâu bền. Đặc biệt việc khởi tạo thờ phụng mà vòng định sinh của gia chủ rơi vào cung phúc đức hay thiên y thì sự linh thiêng sẽ tăng gấp bội.


5. Hoành phi: là vật trang trí bên ngoài cho thêm phần trang trọng, cho nên có thì đẹp đẽ hơn lên, còn như chưa có điều kiện thì cũng không ảnh hưởng gì đến việc thờ cúng cả, đối liễn cũng vậy. Hoành phi còn gọi là “biển”, “bức hoành”, vốn là một bức thư họa. thay vì đối liễn được viết dọc, thì hoành phi được viết ngang, dạng như một câu khẩu hiệu ngắn khoảng 3 – 5 chữ treo ở phòng khách, nhà thờ…Thông thường hoành phi trang trí ngang bên trên, còn hai câu đối được treo dựng hai bên, ví dụ bức hoành phi dưới đây được treo ở bàn thờ gia tiên, hoặc ở nhà thờ tổ:

Đức lưu quang


(Đức độ tỏa sáng)


6. Đối liễn: Hay còn gọi là câu “đối liên” là những câu chữ Hán hay chữ Nôm, có nơi dùng chữ quốc ngữ viết từng cặp dọc đi đôi, và ý nghĩa cũng đi đôi, thể hiện trên chất liệu vải, gỗ, hoặc giấy, ví dụ như một số câu đối sau đây:


Mộc xuất thiên chi do hữu bản


Thủy lưu vạn phái tổ tùng nguyên


(Cây chung ngàn nhánh sinh từ gốc


Nước chảy muôn dòng phát tại nguồn)


Hoặc là:


Nhật nguyệt quang chiếu thập phương


Tổ tông lưu thùy vạn tuế


(Vầng nhật nguyệt mười phương rạng rỡ


Đức Tổ Tông muôn thuở sáng ngời)


Ái Quốc mạc vọng Tổ


Nhân dân tiên mục thân


(Yêu nước chớ nên quên Tổ tiên


Thương dân trước phải hòa thân thích)


7. Lễ vật:


– Thứ bắt buộc phải có khi thắp hương : Hương – đăng (đèn) – hoa – ngũ quả – nước (5 chén + một bình)


– Vàng tiền thì cúng đốt vào các dịp trọng đại như tết, giỗ, ngoài ra thì rằm tháng giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng mười. Khi cúng tiền vàng, phải ghi rõ tên của vị gia tiên được hưởng lộc trước khi hoá vàng.


– Đối với cỗ mặn, to nhỏ tuỳ tâm và tuỳ khả năng tài chính của gia chủ, nhưng chỉ nên bày lên mâm, đặt lên một cái bàn riêng rẽ để phía trước bàn thờ với đầy đủ bát, đũa, thìa, muỗng, chén uống rượu như thể dọn mâm tiệc đãi khách. Chờ cho cháy hết 2/3 chân hương thì con cháu được phép phá cỗ.


8. Sớ cúng: Tôi có xem dăm ba cái sớ cúng của các dòng họ ở Nghệ Tĩnh, Tất cả đều một phom mẫu như nhau nội dung thế này:


Sớ Khấn lạy Trời Phật Thần Thánh


(mẫu)


Duy!


Việt Nam Cộng Sản Hoàng Triều


Nhâm Thìn Niên tuế, Đinh Mùi nguyệt (tháng), ……Nhật (ngày), …..Khắc (giờ)….


… tỉnh, … huyện, … phố,…(số nhà)…cư gia (nếu ở Từ đường thì đọc …(họ)…Từ đường gia tộc)


Con kính lạy Việt Nam Hoàng thiên Hậu thổ (một vái)


Con kính lạy! Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân – Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần – Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chính Thần (một vái)


Con kính lạy các Chư vị Việt Nam Thánh Quốc


Con kính lạy Thành hoàng bản địa…. (tên địa phương)…


Tín chủ con là:


…. và gia quyến, cùng nhất tâm cúi lạy Chư Thiên, Chư Địa, Chư Thần, Chư Phật, Chư Thánh;


Cúi lạy Thành hoàng bản thổ đại vương thần thánh gia ân, cho phép gia quyến chúng con được mời Tổ tiên của chúng con về tại địa chỉ: … tỉnh, … huyện, … phố,…(số nhà)…cư gia (nếu ở Từ đường thì đọc Lê / Nguyễn / Trần…. Từ đường gia tộc) để bàn bạc việc gia đình đại sự là …


Lòng thành lễ mọn, hương đăng, hoa quả, trà rượu, thanh tước chi nghi, dâng bày ra trước hương án, kính cẩn lạy dâng, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét cho chúng con được thể theo sở nguyện. Đồng thời cúi xin linh thiêng phù hộ độ trì cho chúng con khởi sự dược hanh thông mọi bề, phúc đức an lành, gia đạo vẹn toàn như ý.


Cẩn cáo ! (Ba lạy)


Sớ khấn gia tiên


(Mẫu: Sau khi khấn Trời Phật Thần Thánh)


Cận di phỉ lệ chi nghi cảm kính cáo vu:


(Hoặc nói theo Quốc Ngữ: Hương đăng hoa quả thanh tước chi nghi lên trước linh đài kính cẩn báo cáo!)


– Tằng Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê (Nguyễn/Võ/Trần…) mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy cố nội)…thụy chất trực phủ quân


– Tằng Tổ tỉ y phu chức Lê mạnh công chính thất…(họ tên của Bà cố nội)…từ thuận phu nhân


– Nội Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy ông nội)…thụy chất trực phủ quân


– Tằng Tổ tỉ y phu chức Lê mạnh công chính thất…(họ tên của Bà nội)…từ thuận phu nhân


– Nội Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy ông nội)…thụy chất trực phủ quân


– Hiền khảo (cha) ….xướng như trên bài vị….


– Hiền tỉ (mẹ)… xướng như trên bài vị


Hậu duệ con là Lê/Nguyễn/Bùi quý công … (tên đệm và tên chủ nhà)…cùng toàn thể gia quyến. Nay nhân …( lý do cúng: giỗ / rằm…)…


Cây có cội, nước có nguồn, ơn Tiên Tổ vun trồng công đức.


Lòng thành lễ mọn, hương, đăng, hoa, quả, thanh tước chi nghi, dâng bày ra trước hương án, kính cẩn lạy dâng. Cúi xin các Vị Cao, Tằng, Tổ, Khảo / Cao, Tằng, Tổ, Tỉ, cùng các vị Đường Bá (bác), Đường Thúc (chú), Đường Cô (cô), Bào Huynh (anh trai), Bào Đệ (em trai)… chứng giám lòng thành, âm phù dương trợ, sở nguyện tòng tâm, cho phép tín chủ được cử hành lễ …


Muôn vàn đội ơn Gia tiên linh thiêng phù hộ độ trì cho hậu duệ cháu con được muôn đời Tấn phúc, tấn lộc, tấn tài, tấn bình an, gia đạo vạn sự vẹn toàn như ý!


Cẩn cáo !


9. Ai thì được thờ ai? Tôi đã có bài về tại sao người Việt Nam nhận mình là con của Rồng, nhân đây tôi cũng nói luôn vì sao chúng ta lại là cháu tiên?


Chúng tai ai mà không thường được nghe hàng ngày hai chữ “gia tiên”. Vậy thì thiết nghĩ cũng nên có kiến thức hiểu biết xem “tiên” là ai?


Tiên của người Việt không phải là các tiên nữ ở trên thượng đế. Người Việt gọi chức danh của những người đã khuất trong bài sớ như sau:


– Cha/mẹ thì gọi là hiền khảo/hiền tỉ


– Ông/bà thì gọi là tổ khảo/tổ tỉ


– Cụ thì gọi là tằng tổ khảo/tằng tổ tỉ


– Kị thì gọi là cao tổ khảo/cao tổ tỉ


– Và từ vị thân sinh của cao tổ khảo đồ về trước đến đời thứ 2 được gọi là tiên tổ khảo


– Đời thứ nhất gọi là thuỷ tổ


Như vậy thì đã rõ tiên là ai, và tập quán người Việt quy định cấp bậc được phép thờ phụng tiên tổ như sau:


– Trưởng tộc: phải thờ tất cả từ thuỷ tổ – tiên tổ – cao – tằng – tổ – khảo đổ xuống,


– Trưởng chi họ: phải thờ 4 đời gồm : Cao tổ – tằng tổ – tổ – khảo (cao tổ được lên tiên khi trong chi họ có thế hệ thờ cúng mới, ví dụ khảo chết thì con trưởng đảm nhiệm ngôi vị thờ cúng, lúc đó Cao tổ khảo được rước bài vị sang nhà thờ tộc để làm lễ lên tiên. Nếu dòng họ nào chưa có nơi thờ tự dòng tộc chính thống, thì bài vị tiên tổ được xếp cất vào một hòm gỗ không tiếp tục thờ phụng nữa);


– Con trưởng trong gia đình thì thờ 3 đời: Tằng – tổ – khảo


– Con thứ trong gia đình thì chỉ thờ khảo, hoặc tổ – khảo mà thôi


Như vậy là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ giới thiệu về phương pháp thờ cúng trong gia đình. Hy vọng ai đã quan tâm thì nên đọc cho kỹ, hiểu cho thấu đáo để thờ phụng cho đúng ý nghĩa, thoát khỏi sự u mê của các thầy cúng bày trò dị đoan lừa tiền dân chúng. Tu tâm mà giữ lấy cái chân thiện mỹ, cái phước đức lâu bền cho gia đình, cho dòng họ được hưng thịnh muôn đời


(Sưu Tầm)

Đăng bởi

Đức Phật dạy thế nào về một người bạn chân thật

Người bạn là bóng mát bên đường mà ta có thể nghỉ chân, là cốc nước trong lành giữa trưa hè oi bức, là chiếc dù che ta dưới cơn mưa và là chiếc áo ấm khi mỗi mùa đông đến. Với giá trị tinh thần lớn lao đó, nên dân gian có câu ‘Ăn cơm có canh, tu hành có bạn’. Đây là câu nói đơn sơ, mộc mạc; thế nhưng, đầy đủ nghĩa tình. Không có canh, ăn cơm nghẹn lắm, khó nuốt làm sao; cũng vậy, con đường tu hành như thuyền chèo ngược nước, ai từng đi mới thấy cái khó của nó.






Cho nên, đi trên con đường đó, nếu không có người bạn song hành, chúng ta sẽ vất vả hơn nhiều. Vất vả không có nghĩa là không đến đích, cũng như không có canh không có nghĩa là không nuốt được mà là khó nuốt thôi.


Tuy nhiên, dù bạn là gì gì đi nữa thì mỗi chúng ta cũng phải tự nỗ lực một mình trên con đường đi tới, đó là con đường của độc cư thiền định, mà đức Phật đã từng dạy trong bài kinh cuối cùng trước khi nhập Niết bàn ‘Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi’.


Một con đường tự khám phá bản thân để tìm ra câu giải đáp cho cả vũ trụ nhân sinh. Đó là một con đường không phải giản đơn, mà mỗi người tự đối diện với chính tham ái và chấp thủ của tự thân, phủ nhận và không sống cùng với nó.


Trong cuộc sống thường nhật, việc chọn cho mình một người bạn tốt, một người bạn chân thật là điều quan trọng và cũng là cần thiết đối với mỗi một chúng ta. Dù bạn là tu sĩ hay không phải tu sĩ thì vẫn phải xem việc trui rèn nội tâm, sửa đổi tật xấu là điều cấp thiết. Khi nói đến tu, người ta thường chỉ nghĩ đến những người tu sĩ. Không, tất cả mọi người đều phải tu, vì tu là sửa, sửa đổi những thói hư tật xấu đó chính là tu.


Xã hội được cấu tạo từ những nhân tố bé nhỏ như chúng ta, nếu nhân tố đó thiếu tính thiện thì xã hội sẽ rơi vào đen tối, căng thẳng, và sẽ không bao giờ có hạnh phúc, an lạc.


Vậy thì thế nào là một người bạn tốt, một người bạn chân thật?


Ở đây, xin lược trích lời đức Phật dạy ở trong Trường Bộ, kinh Giáo thọ Thi ca la việt, số 31, về một mẫu người chân thật cần nên làm bạn . Đây là bài kinh được đức Phật dạy cho gia chủ Thi ca la việt tại Ràjagaha (Vương Xá thành):


Này Gia chủ tử, có bốn loại bạn này phải được xem là bạn chân thật: Người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật; người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là bạn chân thật; người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là bạn chân thật; người bạn có lòng thương tưởng phải được xem là bạn chân thật.


1. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật: Che chở cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, che chở của cải cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, là chỗ nương tựa cho bạn khi bạn sợ hãi, khi bạn có công việc sẽ giúp đỡ cho bạn của cải gấp hai lần những gì bạn thiếu. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là người bạn chân thật.


2. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật: Nói cho bạn biết điều bí mật của mình; giữ gìn kín điều bí mật của bạn; không bỏ bạn khi bạn gặp khó khăn; dám hy sinh thân mạng vì bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật.


3. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật: Ngăn chận bạn không làm điều ác; khuyến khích bạn làm điều thiện; cho bạn nghe điều bạn chưa nghe; cho bạn biết con đường lên cõi chư Thiên. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật.


4. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật: Không hoan hỷ khi bạn gặp hoạn nạn; hoan hỷ khi bạn gặp may mắn; ngăn chận những ai nói xấu bạn; khuyến khích những ai tán thán bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật.


Bài kinh đã nêu ra bốn loại người bạn và được xem là người bạn chân thật. Mỗi loại người bạn như vậy bao gồm bốn trường hợp khác nhau để nói lên những đức tính cần thiết của mỗi loại người bạn. Sống với một trong bốn loại người bạn đó, chắc chắn chúng ta sẽ được lợi ích lớn, được hạnh phúc lớn và được an lạc lớn. Vấn đề hạnh phúc của tự thân và tha nhân luôn được xem là mục đích cuối cùng của cuộc sống.


Trong việc ‘chọn bạn mà chơi’, ai cũng mong muốn người bạn của mình là một người tốt, một người chân thật. Điều đó nói lên rằng, chúng ta là người yêu thích sự chân thật, yêu thích sự lành mạnh, yêu thích cái gì mang đến lợi ích lớn cho tự thân và tha nhân. Quen thân với bạn hiền thì như đi trong sương móc, tuy không ướt áo nhưng lúc nào cũng thấm đậm hơi sương, “Thân phụ thiện giả, như vụ lộ trung hành, tuy bất thấp y, thời thời hữu nhuận”.


Ngược lại là một sự tối tăm, không bao giờ thấy được điều hay lẽ phải. Vì thế, ngài Quy Sơn dạy, đi xa thì phải nhờ bạn tốt để luôn lọc sạch tai mắt, trú ở thì phải chọn bạn hiền để nghe điều chưa nghe, “Viễn hành yếu giả lương bằng, sác sác thanh ư nhĩ mục, trú chỉ tất tu trạch bạn, thời thời văn ư vị văn”. Cho nên mới nói, sinh ra ta là cha mẹ, tác thành ta là bạn bè, “sinh ngã giả phụ mẫu, thành ngã giả bằng hữu”.


Sự cần thiết của một người bạn trong cuộc sống chính là điều mà ai trong chúng ta cũng cảm thấy như vậy. Sự cần thiết của tâm hồn chính là điều mà chúng ta cần chứ không phải cần một người bạn thể xác. Khi người bạn đó trong trường hợp hội tụ đầy đủ những đức tính cần thiết trên thì có thể nâng cao lên thành Tri âm, tức là một sự hài hòa cảm thông lớn.


Tri âm có nghĩa là cùng hiểu nhau, cùng thông cảm nhau để hướng về cùng một hướng. Ở đây chữ Tri nói lên sự cần thiêt của trí tuệ trong bất cứ sự việc gì dù đó chỉ là một người bạn. Một người bạn như vậy thì đó thật sự là một thiện hữu tri thức, là một pháp lữ quý kính trong cuộc sống hiện tại và mai sau.


“Bạn sẵn sàng giúp đỡ,
Bạn chung thủy khổ vui,
Bạn khuyến khích lợi ích,
Bạn có lòng thương tưởng.
Biết rõ bốn bạn này,
Người trí phục vụ họ,
Như mẹ đối con ruột”.

Đăng bởi

Chữ viết Ai Cập

  Từ khi xã hội có giai cấp bắt đầu hình thành, chữ viết ở Ai Cập đã ra đời. Chữ viết của Ai Cập lúc đầu là chữ tượng hình, tức là muốn viết chữ để biểu thị một vật gì thì vẽ hình thù của vật ấy. Vì vậy, nhìn vào các bản chữ viết Ai Cập cổ đại, ta thấy các hình vẽ như người, các loại động vật (chim, gia súc, dã thú, côn trùng), cây cối, mặt trời, mặt trăng, sao nước, núi non…

 
 Đối với các khái niệm trừu tượng hoặc phức tạp thì phải dùng phương pháp mượn ý. Ví dụ muốn viết chữ khát thì vẽ hình con bò đứng bên cạnh chữ nước, chữ chính nghĩa thì vẽ lông đà điểu, vì lông đà điểu hầu như dài bằng nhau. Tuy nhiên, hai phương pháp ấy chưa đủ để ghi mọi khái niệm, vì vậy dần dần xuất hiện những hình vẽ biểu thị âm tiết. Những hình vẽ biểu thị âm tiết này vốn là những chữ biểu thị một từ nhưng đồng âm với âm tiết mà người ta muốn sử dụng. Ví dụ, con mắt trong tiếng Ai Cập là ar, do đó hình con mắt biểu thị âm tiết ar. Dần dần, những chữ chỉ âm tiết biến thành chữ cái, ví dụ “hòn núi nhỏ” đọc là “ca” được dung để biểu thị âm k. Tổng số chữ tượng hình của Ai Cập cổ đại có khoảng 1000 chữ, trong đó số chữ cái có 24 chữ.
Giấy papyrus viết văn tự cho người chết
 Chữ viết cổ của Ai Cập thường được viết trên đá, gỗ, đồ gốm, vải gai, da… nhưng chất liệu dùng để viết phổ biến nhất là giấy papyrus. Vốn là ở hai bên bờ sông Nil có loại cây tên papyrus, người Ai Cập lấy thân loại cây nè chẻ thành từng thanh mỏng, ghép các thanh ấy thành những tờ giấy, ép mỏng rồi phơi khô. Đó là loại giấy sớm nhất thế giới. Do vậy, về sau trong ngôn ngữ nhiều nước châu Âu, giấy được gọi là papier, paper… Để viết trên loại giấy đó, người Ai Cập cổ dùng bút làm bằng thân cây sậy, còn mực thì làm bằng bồ hóng. Loại chữ tượng hình này được dùng trong hơn 3000 năm, sau đó, không còn ai biết đọc loại chữ này nữa.
Giấy cói papyrus
 Năm 1798, Bônapác (tức Napoleon sau này) viễn chinh sang Ai Cập. Tại một địa điểm gần thành phố Rosetta, trong khi đào chiến hào, binh lính Pháp đã phát hiện được một tấm bia, đặt tên là tấm bia Rosetta, trên tấm bia này khắc hai thứ chữ: phần trên khắc chữ Ai Cập cổ, phần dưới khắc chữ Hy Lạp. Ngay sau đó, các học giả tìm cách giải mã thứ chữ đó nhưng kết quả vẫn chưa hơn gì những lần trước. Mãi đến năm 1822, Champollion, một nhà ngôn ngữ học người Pháp 32 tuổi mới tìm được cách đọc thứ chữ này. Chính từ đó, một môn khoa học mới ra đời, đó là môn Ai Cập học. Học giả nhiều nước như Pháp, Đức, Anh… đã nghiên cứu ngôn ngữ Ai Cập, biên soạn sách tiếng Ai Cập cổ, đặc biệt biên soạn cuốn Từ điển tượng hình Ai Cập. Nhờ đọc được chữ Ai Cập cổ, người ta mới biết được nhiều tư liệu quý giá thuộc các lĩnh vực như lịch sử, văn học, thiên văn, toán học…của Ai Cập cổ đại.
 
 
 

Tấm bia Rosetta
H thng ch viết
 Cùng một ký hiệu có thể, tuỳ theo ngữ cảnh, được dịch theo các cách khác nhau: như một tín hiệu ngữ âm (đọc Ngữ âm), như một dấu tốc ký, hay như một biểu tượng (semagram; “từ hạn định“) (đọc Ngữ nghĩa). Từ hạn định không được đọc như một thành phần ngữ âm, nhưng được làm cho dễ hiểu bằng cách phân biệt từ với các từ phát âm giống khác.
Đc ng âm
 
 Các chữ tượng hình được viết từ phải sang trái, từ trái sang phải, hay từ trên xuống dưới, hướng thông thường là từ trái sang phải. Người đọc cần phải xác định hướng của chữ tượng hình để biết thứ tự đọc chính xác. Ví dụ, khi các chữ tượng hình người và động vật quay mặt về phía trái (ví dụ họ nhìn về phía trái), họ phải đọc từ trái sang phải, và ngược lại, ý tưởng là chữ tượng hình quay mặt về nơi bắt đầu dòng chữ.
 Giống nhiều hệ thống chữ viết cổ khác, các từ không được chia tách bởi các khoảng trống hay bởi các dấu chấm câu. Tuy nhiên, một số chữ tượng hình rất thường xuất hiện ở cuối các từ nên có thể nó là các từ phân biệt.