Đăng bởi Để lại phản hồi

Hương Tâm Linh – Kiệt tác tạo hóa đã ban tặng

Tuyệt phẩm quý hiếm nhất hành tinh. Vào khoảng 30.000 năm trước công nguyên, người Việt cổ đã biết sử dụng những cành, cây khô đốt lên để sưởi ấm và xua đuổi thú dữ. Thửa ban đầu, người Việt cổ đốt mọi cây củi khô mà họ thu lượm được, theo thời gian họ phát hiện ra rằng không phải cây nào đốt lên cũng giống nhau, như cây gỗ lim đốt lên than rất hồng, giữ nhiệt lâu nhưng tỏa ra mùi khét và khi hít phải khói đó thì cơ thể trở nên mệt mỏi. Ngược lại, đốt cây bầu gió thì có mùi thơm dễ chịu, thần kinh trở nên hưng phấn, cơ thể khỏe mạnh, đặc biệt là nhiều loại côn trùng đều không dám đến gần.

Ngày nay, cây bầu gió có Trầm gần như đã tuyệt chủng, để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng thì cây bầu gió được trồng và tạo Trầm nhân tạo khiến cho việc để mua được Trầm quá dễ dàng. Chính sự phổ biến ấy đã trở thành hạn chế của những nhà sản xuất hương/nhang vẫn sử dụng nguyên liệu Trầm cổ xưa – chất liệu từng được coi là đắt giá nhất lịch sử loài người, nhân loại vẫn luôn trân trọng những giá trị quý báu của Trầm và được coi là quà tặng quý hơn bạch kim mà tạo hóa ban tặng.

Chúng ta cùng làm phép so sánh để thấy Trầm quý hiếm như thế nào. Bạch kim mỗi năm con người khai thác được 130 tấn, chỉ có 4 khu vực trên trái đất sở hữu Bạch Kim đã cho thấy sự khan hiếm của loại khoáng sản này trên toàn thế giới. Điều ấn tượng mà Bạch Kim mang tới chính là một vẻ đẹp hút hồn với sắc trắng thuần khiết đầy chiều sâu. Vẻ đẹp ấy khác hẳn với màu trắng ánh kim của Vàng trắng, trắng lạnh của đồ mạ Crom và trắng nhạt của Bạc. Bạch Kim được người chơi “sùng bái” chính bởi giá trị của sự thuần khiết, nguyên chất và vẻ đẹp xóa nhòa dấu vết thời gian, nâng phong cách và đẳng cấp thụ hưởng cuộc sống của các tín đồ trang sức lên một tầm cao mới.

Cây bầu gió phân bố ở Iran, ấn độ và Đông Nam á. Trầm hương sinh ra từ cây dó, nhưng không phải loài dó nào cũng tạo ra trầm hương. Theo thống kê của ngành thực vật học, thế giới có khoảng 25 loài dó, nhưng chỉ 15 lòai có khả năng cho trầm hương gồm: Aquilaria crassna; A.baillonii; A.sinensis hoặc A.chinesis; A.borneensis ; A.malaccensis ; A.gollocha ; A.hirta; A.rostrata; A.beccariana; A.cummingiana; A.filaria; A.khasiana; A.microcarpa; A.grandiflora; A.bancana. Trong số những cây bầu gió đó chỉ có rất ít là có trầm, trong quá trình sinh trưởng, do những tác động nào đó, gây ra những “tổn thương/nhiễm bệnh”, lâu ngày cây tích tụ một chất dạng nhựa (dầu), rồi lan dần ra, làm biến đổi các phân tử gỗ, tạo nên nhiều màu sắc (đen, nâu, chàm, xám, … ), nhiều tính chất (cứng, mềm, dẻo, dòn …), nhiều mùi vị (đắng, cay, chua, ngọt, … ), nhiều hình dáng (tròn, xoắn, nhọn, dài, … ), ở nhiều vị trí (thân, cành, rễ) trong cây dó. Đó chính là trầm hương, có tên giao dịch thương mại Quốc tế Agarwood hay Eaglewood.

Đặc điểm nổi bật của trầm hương là tỏa mùi thơm đặc biệt lúc đốt hoặc chưa đốt. Khi hàm lượng dầu lớn hơn 25%, trầm hương có thể chìm trong nước. Lọai trầm hương cao cấp có thể đạt hàm lượng dầu 60-80%. Căn cứ mức độ nhiễm dầu, màu sắc, hương vị, hình dáng, trọng lượng, xuất xứ … mà trầm hương có các tên gọi khác nhau như: Trầm mắt tử, trầm mắt đảo, trầm bọ sánh, trầm bông, trầm da báo, trầm điệp lá, trầm điệp trai, trầm kiến xanh, trầm kiến lọn, trầm rục, trầm sanh …

Theo Đông y, trầm hương là vị thuốc quý hiếm, có vị cay, tính ôn, vào ba kinh: tì, vị, thận; có tác dụng dáng khí, nạp thận, bình can tráng nguyên dương, chữa các bệnh đau bụng, đau ngực, nôn mửa, hen suyển, lợi tiểu, giảm đau, trấn tĩnh, hạ sốt, cấm khẩu, thổ huyết, khó thở.

Theo Tây y, trầm hương có tính kháng sinh, tạo kháng thể mạnh (diệt khuẩn, làm lành vết thương), có tác dụng chữa một số bệnh như bệnh về tim mạch (suy tim, đau ngực), bệnh về hô hấp (hen suyễn), bệnh về thần kinh (an thần, mất ngủ, giảm đau, trấn tĩnh …), bệnh về tiêu hoá (đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy), bệnh về tiết niệu (bí tiểu tiện). Đặc biệt có thể dùng trầm hương để chữa trị ung thư tuyến giáp.

Theo công ước về buôn bán Quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) đã xếp loài dó có khả năng cho trầm hương (Aquilaria) vào lòai cây hoang dã bị đe dọa tuyệt chủng và nghiêm cấm khai thác buôn bán. Chính phủ VN ban hành Nghị định số 18/HĐBT, ngày 17/01/1992, quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng và chế độ quản lý đã xếp cây dó bầu vào nhóm thực vật IA, là những thực vật đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế, có số lượng, trữ lượng rất ít hoặc đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và nghiêm cấm khai thác, sử dụng.

Một thời gian không ngắn sau khi đọc lại những tài liệu cổ được lưu lại thì CEO Hương Tâm Linh phát hiện ra rằng không phải ngày nay Trầm mới khan hiếm mà cách đây cả chục nghìn năm trước Công nguyên, Trầm đã rất khó tìm kiếm. Mặt khác, Trầm có mùi thơm xa, nhẹ nhàng và thường những người có khứu giác tinh tế mới có thể cảm nhận được mùi thơm của Trầm, trong khi đó Người Việt Cổ lại mong muốn có một mùi thơm vừa xa và gần, vừa thơm ngọt nhưng mát, mùi thơm mà tất cả mọi người đều có thể cảm thụ được. Chính vì lẽ đó Người Việt Cổ đã biết chọn lựa nhiều loại thảo mộc để khi đốt lên đáp ứng được yêu cầu trên, hiện thân của phương pháp cổ xưa đó chính là nén Hương Tâm Linh mà ngày nay chúng ta đang sử dụng.

Hương Tâm Linh bắt đầu phát huy được sức hút không thể chối từ của mình, khởi đầu từ những bó nhỏ bé như cây thảo mộc nhỏ bé, đơn sơ cho tới cầu kỳ, tinh tế khi biến hóa thành hương nụ, hương vòng, hương nén, hương sào..vvv. Giới quý tộc thời công xã nguyên thủy và phong kiến sử dụng và tôn sùng Hương Tâm Linh như cách để thể hiện dấu ấn riêng biệt của mình…Sự thống trị của dòng sản phẩm cao cấp Hương Trầm Tâm Linh sau hàng chục nghìn năm có thể được coi là sự thật không tưởng. Khi biết được sự tồn tại của Hương Tâm Linh vắt qua suốt chiều dài lịch sử hình thành đất nước Việt Nam thì nhiều “kẻ ngáng đường” đến từ ngoại quốc đã lặng lẽ rút khỏi và không bao giờ dám xâm nhập thị trường Việt vì biết rằng ở đó đã có Hương Tâm Linh.

Tính tới thời điểm hiện tại, chưa có một sản phẩm nào nào “vượt mặt” được độ bền vững và khả năng sống mãi với thời gian, tuyệt vời như Hương Tâm Linh. Những sản phẩm được sản xuất từ Hương Tâm Linh luôn là những tuyệt phẩm được các thế hệ người V một lòng gìn giữ như kiệt tác tạo hóa đã ban tặng!

Tác giả: CEO Hương Tâm Linh

Đăng bởi Để lại phản hồi

Con không hoàn hảo nhưng hãy luôn tạo ra sản phẩm Hương Tâm Linh theo cách hoàn hảo nhất

Lợi nhuận, chi phí, chất lượng là ba chỉ tiêu bất khả thi mà bất kỳ một hãng sản xuất nào cũng phải đối mặt trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt ở thời đại công nghệ 4.0.

Muốn tăng lợi nhuận phải cắt giảm chi phí nguyên vật liệu, cắt giảm nguyên vật liệu dẫn đến chất lượng sản phẩm suy giảm. Sự khắc nghiệt trong ngành sản xuất hương/nhang thảo mộc còn khó khăn gấp bội khi mà có những vị thuốc, loại thảo mộc không thể thay thế.


Không duy trì đà tăng trưởng lợi nhuận thì không thể thu hút được những người thợ giỏi, dù yêu nghề đến mấy thì người thợ làm nghề, lương của họ phải đủ ăn và nuôi sống được vợ con. 


Mỗi lần một người thợ xin nghỉ việc để chuyển sang những cơ sở sản xuất hương hóa chất là một lần  CEO Hương sạch Tâm Linh gạt lệ. CEO Hương Tâm Linh hoang mang với chính bản thân mình; Phải chăng mình chưa phát huy được hết công thức gia truyền mà thế hệ trước đã truyền lại? Phải chăng mình ngu dốt? Phải chăng mình không phù hợp với thời đại? Phải chăng mình không theo kịp xu thế thị trường?…….


Trong một lần “vi hành” xuống các đại lý doanh số bán hàng thấp tại các tỉnh miền núi phía bắc, CEO Hương Tâm Linh bị xúc động mạnh khi chứng kiến “NGƯỜI” – một vị khách hàng nghèo bán cả gùi rau chưa đủ tiền mua 1 ống Hương Tâm Linh để về thắp hương cho cha vào ngày giỗ, “NGƯỜI” đã cố gắng phân trần với chị bán hàng rằng tất cả trong túi chỉ có bằng đó tiền,  dù thiếu tiền nhưng mong muốn có một nắm Hương Thơm Tâm Linh để thắp hương giỗ cha. 


Tôi đã khóc, khóc vì tấm lòng thành kính, thơm thảo của “NGƯỜI” đối với cha mẹ; Khóc vì sự giản dị, vĩ đại của một nhân cách ẩn chứa trong bộ dạng một người nghèo khổ, khóc vì mình ngu dốt khi  tạo ra  sản phẩm vượt quá tầm tay một ước mơ bình dị, ước mơ ấy xứng đáng được trân trọng. Khóc không có nghĩa là yếu đuối, khóc chỉ là vì muốn giải thoát một điều gì đó. Đôi khi, giọt nước mắt rơi vì tìm được chân lý  là giọt nước mắt hạnh phúc vì thế không có gì mà xấu hổ. 


Sau đó, CEO Hương Tâm Linh ngày đêm nghiên cứu pha chế ra công thức sản xuất mới với giá thành hợp lý hơn mà vẫn giữ được bản sắc, mùi thơm truyền thống. Đồng thời cắt giảm tối đa nhân sự bộ phận kế toán, kho, hành chính, giao hàng để giành quỹ lương cho thợ trực tiếp sản xuất. 


Hàng ngày, người dân Hà Thành vẫn thấy thấp thoáng  CEO Hương Tâm Linh cần mẫn chở hàng như một người thợ lặng lẽ giữa chốn phồn hoa đô thị. 




Trích lược “Sử ký Hương Tâm Linh”

Đăng bởi Để lại phản hồi

Đến với Phật là đến với niềm hy vọng, làm Thế Nào Để Đến Với Phật?

Kinh Phật không nói về chân lý, đúng-sai, yêu thương – hận thù hai mặt. Cho nên Phật không làm quan tòa để phán xử ai. Muốn biết đúng-sai, có tội hay không có tội xin tới tòa án, luật sư, đừng tới Chùa, đừng hỏi Phật.






Ngòai ra Đức Phât cũng không độc quyền về Chân Lý. Bởi vì Chân Lý từ sự vật đi lên. Khi mà “thị chư pháp không tướng” (1) tức thực tướng của muôn vật (vạn pháp) là Không thì Chân Lý cũng chỉ là hư ảo. Do đó, nếu bạn cứ nằng nặc cho rằng điều mà bạn đang tin là Chân Lý thì xin bạn đừng tìm đến Phật kẻo uổng công.


Phật không phải là một ông thần tạo ra trái đất rồi hủy diệt nó vì phẫn nộ. Trái đất và vũ trụ này tự vận hành bởi quy luật Thành-Trụ-Họai-Diệt mà không một quyền năng nào có thể ngăn cản nổi. Một tỷ năm nữa Ngày Tận Thế sẽ đến và đến một cách từ từ. Tất cả đều chết hết, chẳng ai cứu được ai. Chẳng ai có thể chết thế cho ai. Đó là sự thật rất “chân thật”. Cho nên đến với Phật là đến với lòng thành thật. Khi mình chưa thấy sự thành thật là cần thiết: Thành thật với mình và với người thì…cũng chưa nên vội đến với Phật.


Phật cũng không phải là một ông thần, bà thần giáng thế hoặc cha mẹ của thần để ban phúc giáng họa khi nhân loại thờ phượng ngài không đúng cách hoặc làm phật ý ngài vì thế mà nhân gian đã nói và sử sách đã ghi “Hiền như Bụt” cho nên không có gì phải sợ hãi Phật. Vì Phật “hiền như Bụt” cho nên hãy đến với Phật như tấm lòng của con đến với cha mẹ.


Vì Phật là ung dung tự tại do đó trong thế giới chứng đắc của thiền sư không có gì bí mật mà chỉ là những gì đơn sơ như hoa nở, suối reo, chim bay, cá lội, trẻ thơ nhớ mẹ, đói ăn khát uống… thật nhẹ nhàng và an lành.


Những cảm nghiệm đó không nảy nở từ những lâu đài tráng lệ, từ những bữa tiệc linh đình, từ nơi quyền thế, từ những trung tâm tài chánh của thế giới, từ những trung tâm quyền lực, từ kế họach, âm mưu bàn tính, từ kinh đô ánh sáng, từ những lễ nghi huyền bí hay những ngôn từ huyền hoặc, hoa mỹ, sấm truyền vu vơ.


Nó là những cảm nghiệm tinh khôi nhất thoát đi từ vũng lầy khổ đau của kiếp người. Đạo Phật vốn đi lên từ Khổ Đế (2) rồi thăng hoa lên từ Khổ để vượt thóat khỏi thân phận cay đắng, nghiệt ngã của kiếp người… từ đó nhìn thấy cuộc đời này có một chút ý nghĩa.


Do đó trong cuộc sống, người nào chưa từng nếm một chút mùi vị của khổ đau; chưa từng thấy ngoài thế giới vật chất; cuộc sống này còn bao hàm một niềm hoài vọng thiết tha về một cái gì đó vượt lên trên những tương tranh, đố kỵ, tỵ hiềm, những thành công hay thất bại, phú quý tựa như phù vân; những người như thế không thể hiểu Đạo Phật.


Ngoài ra, những ai tự trói buộc mình vào một tín điều, niềm tin, những cấm kỵ nào đó mà không thể thoát ra được – thì cũng không thể hiểu được Phật bởi vì Đạo Phật vượt lên trên mọi ràng buộc câu thúc – nhất là câu thúc về trí tuệ.


Khi bạn nghèo mà bạn không thấy tủi nhục, ray rứt vì nghèo – mà cần mẫn vươn lên trong đạo đức, tuân thủ luật pháp quốc gia và …lúc nào cũng hy vọng. Hiểu được như thế là bạn đã thấy Phật. Xưa kia Đức Phật còn nghèo hơn bạn rất nhiều. Tới bữa trưa ôm bình bát vào thành xin ăn, bữa đói bữa no. Thí chủ cho gì ăn nấy. Áo chỉ ba bộ và là loại áo tầm thường nhất của xã hội lúc bấy giờ, chân đi đất… mà Phật lại trở thành con người vĩ đại nhất hành tinh này. Do đó nghèo không phải là bước đường cùng của con người. Vậy thì đến với Phật là đến với niềm hy vọng.


Khi bạn là người trí thức mà bạn không coi thường người thất học hay người ít học mà tìm cách để giúp họ


(ST)

Đăng bởi Để lại phản hồi

Hành thiện không đúng cách dễ tạo nghiệp

Làm việc thiện mà không hiểu rõ đạo lý, cứ tự cho việc mình làm là hành thiện, ắt không khỏi tạo nghiệp, uổng phí mất tâm tư một cách vô ích…






Phương pháp tích thiện


1. Bàn luận rõ ràng về thiện:


Nếu xét một cách tinh tường mà nói, thì thiện có chân có giả, có ngay thẳng có khuất khúc, có âm dương, có phải hay chẳng phải, có thiên lệch hay chính đáng, có đầy có vơi, có tiểu có đại, có dễ hay khó, đều cần bàn luận rõ ràng.


Làm việc thiện mà không hiểu rõ đạo lý, cứ tự cho việc mình làm là hành thiện, ắt không khỏi tạo nghiệp, uổng phí mất tâm tư một cách vô ích.


Thế nào là chân thiện và giả thiện?


Xưa có một số nho sinh yết kiến Trung Phong hoà thượng (một vị cao tăng triều đại nhà Nguyên), mà hỏi: Nhà Phật bàn thiện ác báo ứng như bóng theo hình, tức làm lành gặp lành, làm ác gặp ác, nay có người nọ thiện mà con cháu không được thịnh vượng, mà kẻ kia ác thì gia đình lại phát đạt, vậy là Phật nói về việc báo ứng thực vô căn cứ sao?


Hoà thượng nói: Người phàm tâm tính chưa được tẩy sạch, chưa được thanh tịnh, tuệ nhãn chưa khai, thường nhận thiện làm ác, cho ác là thiện; người như vậy không phải là hiếm có, đã tự mình lẫn lộn phải trái cho ác là thiện, cho thiện là ác, điên đảo đảo điên mà không hay lại còn oán trách trời cho báo ứng là sai, là không công bằng ư.


Bọn nho sinh lại hỏi: Mọi người thấy thiện thì cho là thiện, thấy ác thì cho là ác, sao lại bảo là lẫn lộn đảo điên vậy?


Hoà thượng bảo họ thử thí dụ xem sự tình thế nào là thiện thế nào là ác. Một người trong bọn nói: mắng chửi đánh đập người là ác, tôn kính lễ phép với người là thiện.


Hoà thượng nói không nhất định là như vậy.


Một người khác cho là tham lam lấy bậy của người là ác, gìn giữ sự thanh bạch liêm khiết là thiện.


Hoà thượng cũng bảo không nhất định là như vậy.


Mọi người đều lần lượt đưa ra thí dụ về thiện và ác, nhưng Trung Phong hoà thượng đều bảo là không nhất định là như vậy.


Nhân thế bọn họ đều thỉnh hoà thượng giảng giải cho.


2. Định nghĩa chữ thiện


Hoà thượng Trung Phong chỉ dạy rằng: Giúp ích người gọi là thiện, chỉ vì ích mình gọi là ác. Vì giúp ích người cho nên dù có đánh mắng cũng vẫn là thiện, trái lại chỉ vì ích mình nên dù có kính trọng người cũng vẫn là ác.


(1). Vì vậy người làm thiện đem lại ích lợi cho người là công, mà công tức là chân, còn vì lợi mình ấy là tư, mà tư tức là giả.


Lại việc thiện tự lòng phát ra là chân, tập theo thói cũ là giả, không trước tướng mà làm chân, trước tướng mà làm giả…


Lại nữa làm việc thiện mà xuất phát từ tấm lòng thành là chân thiện, còn hời hợt chiếu lệ mà làm là giả thiện. Hơn nữa hành thiện mà không nghĩ đến một sự báo đáp nào cả là chân thiện, trái lại còn hy vọng có sự đền đáp là giả thiện, đó là những điều tự mình cần khảo sát kỹ lưỡng.


Thế nào là âm thiện, dương thiện?


Phàm làm việc lành mà người ngoài biết được là dương thiện, làm việc lành mà người ngoài không biết được là âm đức. Âm đức được phúc báo, dương thiện hưởng danh thơm. Nhưng danh thơm thường là điều đáng húy kỵ vì xưa nay biết bao nhiêu người vì háo danh thành thử bị danh làm hại, lâm vào cảnh tai họa, ngược lại những người không tội lỗi mà cứ bị thiên hạ chê oan, thì lắm lúc con cháu họ được phát đạt.


Cái lẽ âm dương như thế, phải để tâm nhiều mới hiểu hết.


Thế nào là phải và chẳng phải?


Nước Lỗ xưa có luật người Lỗ nào chuộc được người bị bắt làm kẻ hầu hạ ở nước khác về thì được quan phủ thưởng tiền. Tử Cống (học trò đức Khổng Tử tên là Tứ) chuộc người về mà không nhận tiền thưởng.


Đức Khổng nghe biết lấy làm buồn phiền mà bảo rằng: Tứ làm việc thất sách rồi. Ôi thánh nhân xử sự nhất cử nhất động có thể cải sửa phong tục thay đổi tập quán, làm gương mẫu cho bách tính noi theo, chẳng phải cứ nhiệm ý làm những việc thích hợp với riêng mình.


Nay nước Lỗ người giàu thì ít người nghèo thì nhiều,nếu nhận thưởng cho là tham tiền là không liêm khiết còn không lãnh thưởng thì người nghèo sao có tiền tiếp tục chuộc người? Từ nay về sau chắc không ai chuộc người ở các nước chư hầu về nữa.


Tử Lộ (tên Do, học trò đức Khổng) cứu người khỏi chết đuối, được tạ ân một con trâu, Tử Lộ nhận lãnh. Khổng Tử hay chuyện hoan hỷ bảo rằng:Từ nay về sau ở nước Lỗ sẽ có nhiều người lo cấp cứu kẻ chết đuối.


Cứ lấy mắt thường tình mà xem, việc Tử Cống không nhận tiền bồi thường là cao quí, Tử Lộ nhận trâu là thấp hèn, nhưng Ðức Khổng Tử lại khen Tử Lộ mà chê Tử Cống.


Vậy nên biết người không nên chỉ nghĩ đến lợi ích trước mắt mà cần xét xem hành động đó có ảnh hưởng tệ hại gì về sau nầy không.


Không nên bàn tới lợi ích nhất thời ở đời nầy mà phải nghĩ tới tương lai xa, mà cũng chẳng nên chỉ nghĩ riêng cho cá nhân mình mà phải nghĩ cho cả thiên hạ đại chúng nữa.


Việc làm hiện nay tuy bề ngoài là thiện nhưng trong tương lai lại di hại cho người, thì thiện mà thực chẳng phải thiện.


Còn việc làm hiện thời tuy chẳng phải thiện nhưng về sau nầy lại có lợi ích cứu giúp người thì tuy ngày nay chẳng phải thiện mà chính thực là thiện vậy.


Ở đời có nhiều sự tình tương tự,chẳng hạn như tưởng là hợp lễ nghĩa, là có trung tín, từ tâm mà thực ra lại trái lễ nghĩa, không phải trung tín hay từ tâm, đều phải quyết đoán chọn lựa kỹ càng.


Thế nào là thiên lệch và chính đáng?


Xưa ông Lã Văn Ý, lúc mới từ chức tể tướng , cáo lão về quê, dân chúng 4 phương đến nghênh đón như thái sơn bắc đẩu. Nhưng có một người làng say rượu mạ lỵ ông. Lã công điềm nhiên bất động bảo gia nhân: kẻ say chẳng chấp làm gì , đóng cửa lại mặc kệ hắn.


Qua một năm sau, người đó phạm tội bị tử hình. Lã công hay biết sự tình mới hối hận rằng: giá mà ngày ấy ta bắt hắn đưa quan nha xử phạt thì hắn có thể bị phạt một tội nhẹ mà tránh khỏi phạm trọng tội về sau.


Ta lúc đó chỉ muốn giữ lòng nhân hậu tha thứ cho hắn, không ngờ hóa ra nuôi dưỡng tính ngông cuồng của hắn để phạm tội tử hình như ngày nay vậy.


Đó là một sự việc do lòng thiện hóa ra làm ác. Cho hay có khi tâm lành mà hành sự lại ác, có khi tâm ác mà hành sự lại lành.


Thế nào là đầy và vơi (bán và mãn)


Kinh dịch nói việc thiện mà không tích lũy cho nhiều không đủ để được danh thơm tiếng tốt, việc ác mà không đọng lại nhiều chẳng đủ để mang họa sát thân.


Kinh thư có nói nhà Thương tội ác quá nhiều như nước vỡ bờ vì thế mà Trụ Vương bị diệt. Việc tích thiện cũng như lưu trữ vật dụng, nếu chăm chỉ cất giữ ắt sẽ đầy kho, còn biếng nhác không chịu tích lại thi vơi chứ không đầy. Chuyện làm thiện được đầy hay vơi bán hay mãn là vậy.


Xưa có một nữ thí chủ vào chùa lễ Phật, muốn cúng dường nhưng lại nghèo, trong túi chỉ còn hai đồng, đem cả ra để cúng.


Vị trụ trì đích thân làm lễ bái sám hồi hướng cho. Sau nữ nhân đó được tuyển vào cung, tiền tài phú quý có thừa, đến chùa lễ Phật đem cả ngàn lượng bạc cúng dường. Hòa thượng trụ trì chỉ sai đồ đệ thay mình làm lễ hồi hướng mà thôi. Nữ thí chủ nọ thấy vậy liền hỏi: Trước đây tôi chỉ cúng dường có hai đồng mà phương trượng đích thân làm lễ bái sám hồi hướng cho, nay cúng cả ngàn lượng bạc mà ngài không tự mình làm lễ là sao vậy?


Vị hoà thượng đáp: Trước kia tiền bố thí quả thật ít ỏi nhưng xuất phát từ tấm lòng thật chân thành, nếu bần tăng không đích thân làm lễ thì không đủ báo đáp được ân đức ấy. Nay tiền cúng dường tuy nhiều nhưng tâm bố thí thì không được chí thành như trước, nên bảo đồ đệ thay bần tăng làm lễ cũng đủ.


Với lòng chí thành bố thí cúng dường chỉ hai đồng mà việc thiện được viên mãn, còn bố thí cả ngàn lượng bạc mà lòng không được chí thiết thì công đức đó chỉ được bán phần mà thôi.


Chung Ly Quyền chỉ dạy cho Lã Đồng Tân cách luyện đan điểm sắt thành vàng có thể đem dùng để cứu giúp người đời.


Lã Đồng Tân hỏi rằng vàng đó sau có thể biến chất không?


Chung Ly Quyền bảo 500 năm sau vàng đó sẽ trở về nguyên bản chất là sắt, thì họ Lã nói: Như vậy sẽ gia hại cho người đời 500 năm về sau, ta chẳng học phép ấy làm gì.


Chung Ly Quyền bảo:Muốn tu tiên cần tích lũy công đức 3000 điều, nhưng chỉ một lời của nhà ngươi nói đó cũng đủ mãn 3000 công đức rồi.


Đây lại thêm một thuyết nữa về đầy vơi hay bán mãn vậy.


Lại làm lành mà tâm không chấp trước thì mỗi việc đều được viên mãn, trái lại tuy làm suốt đời mà việc lành cũng chỉ có được một nửa.


Ví như đem của giúp người mà trong không thấy mình giúp, ngoài không thấy người nhận, trung gian không thấy vật đem giúp thì được gọi là bố thí tam luân không tịch hay nhất tâm thanh tịnh.


Bố thí như vậy, dù một lon gạo cũng có thể gây vô lượng phước, một đồng bạc có thể tiêu ngàn kiếp tội. Nhược bằng tâm khư khư chấp trước, thời tuy bố thí cả thoi vàng, phước đức cũng chỉ có được một nửa.


Ðây lại một cách xét việc lành đầy, lưng, nửa, toàn vậy.


Thế nào là đại và tiểu?


Xưa Vệ Trọng Đạt, một quan chức ở Hàn lâm viện bị nhiếp hồn đưa xuống âm phủ. Diêm vương sai các phán quan trình những cuốn sổ ghi điều thiện và ác ra để xét. Nếu đem so sánh thì những sổ ghi điều ác chất đầy một đống còn sổ ghi điều thiện có mỗi quyển mỏng dính.


Diêm Vương cho đem lên bàn cân thì bên một cuốn sổ mỏng dính kia lại nặng hơn tất cả các cuốn ghi điều ác cộng lại.
Trọng Đạt nhân thế mới hỏi: Năm nay tôi mới chưa đến 40 tuổi đời mà sao tội lỗi lại có thể nhiều đến thế? Diêm Vương bảo: Mỗi một niệm ác kể là một tội không cần đợi đến lúc có thực sự phạm phải hay không.


Trọng Đạt lại hỏi trong cuốn sổ mỏng kia có ghi việc thiện gì vậy.


Diêm Vương bảo: triều đình đã từng dự tính khởi đại công tác tu sửa cầu đá ở Tam Sơn, nhà ngươi dâng sớ can gián, sớ văn đó có ghi chép vào sổ vậy. Trọng Đạt thưa: Bản chức tuy có dâng sớ,nhưng triều đình không y theo lời tấu trình, thì sự việc đâu có ích gì? Thì Diêm Vương lại bảo cho hay là tuy triều đình không y theo lời tấu, nhưng một niệm thiện đó của nhà người là vì lợi ích của toàn dân muốn cho họ khỏi bị đi lao công vất vả, khỏi bị sưu cao thuế nặng, nếu mà lời tấu trình được triều đình y theo thì công đức nhà người thật vô cùng lớn lao. Cho nên nếu có chí nguyện làm việc lợi ích cho quốc gia thiên hạ , cho đại chúng thì tuy việc làm đó có nhỏ mà công đức lại lớn, còn nếu chỉ nghĩ làm lợi riêng cho thân mình thì tuy có làm nhiều mà công đức lại nhỏ vậy.


Thế nào là khó và dễ?


Các vị tiên nho xưa có nói muốn khắc phục mình, muốn thắng được tâm mình thì nên bắt đầu từ chỗ khó khắc phục mà khởi tâm trước.


Đức Khổng Tử bàn về nhân ái cũng nói bắt đầu từ chỗ khó mà thi hành trước, tức là từ chỗ phải thắng được lòng mình vậy, bởi lẽ khó mà làm được thì dễ ắt cũng làm xong.


Chẳng hạn như ở Giang Tây có ông già họ Thư làm nghề dạy học, nhân gặp một người nghèo thiếu tiền quan, vợ người ấy sắp bị quan bắt làm tôi tớ, ông liền bỏ số tiền nhập học của học trò mà ông đã dồn được trong hai năm ra chuộc, nhờ đó vợ chồng người kia khỏi bị ly tán. Ông già họ Trương ở tỉnh Trực Lệ, nhân gặp một người bị nợ khốn, phải đem cầm vợ con. Ông liền bỏ số tiền mình để dành được trong 10 năm ra chuộc, nhờ đó vợ con người kia được an toàn. Bỏ tiền cứu người như hai trường hợp trên thật là hiếm có, ít ai làm nổi. Lại như ông già họ Cận ở Trấn Giang tuổi đã cao, không có con nối dõi, lân gia có người đem đứa con gái còn trẻ đến nạp cho làm thiếp, nhưng ông không nhẫn tâm thu nạp mà đem hoàn trả lại. Đó là chỗ khó có thể nhẫn mà nhẫn được.


Vậy nên phúc báo trời cho hưởng sẽ hậu.


Phàm những người có tiền tài, có quyền thế mà họ muốn làm phúc thì thực là dễ , dễ mà chẳng làm là tự hủy hoại mình. Người nghèo hèn khốn cùng muốn làm phúc thật là khó, khó nhưng mà làm được, đó mới thực là đáng quý vậy.


3. Tuỳ duyên hết sức tu thập thiện


Tùy lúc gặp duyên lành cứu giúp người, hay tùy hỷ công đức mà hành thiện, nếu phân biệt ra từng loại thì rất nhiều, nhưng đại khái có mười loại như sau: trợ giúp người cùng làm thiện, giữ lòng kính mến người, thành toàn việc thiện của người, khuyến khích người làm thiện, cứu người gặp nguy khốn, kiến thiết tu bổ có lợi ích lớn, xả tài làm phúc, gìn giữ bảo hộ chánh pháp, kính trọng tôn trưởng, thương tiếc mạng sống loài vật.


Thế nào là trợ giúp người cùng làm thiện?


Xưa vua Thuấn lúc chưa tức vị thấy những người đánh cá ở đầm Lôi Trạch, đều tranh chiếm chỗ nước sâu dầy nhiều cá, còn người già yếu phải tìm chỗ nước nông cạn chảy xiết ít cá mà đánh, nên có lòng trắc ẩn bất nhẫn, bèn cùng tới đánh cá. Thấy người nào tranh dành chỗ thì ông im lặng không đá động gì đến tánh xấu ấy, còn thấy người nào mà có lòng nhường chỗ thì ông hết lời khen ngợi mà theo gương đó cũng nhường chỗ cho người khác. Một năm sau những người đánh cá ở chỗ nước sâu ai cũng có lòng nhường chỗ cho nhau mà không tranh dành nữa.


Ôi vua Thuấn thực sáng suốt, há chẳng phải mất lời mà khuyên bảo giáo hóa được người sao! Tuy không dùng lời mà dùng chính bản thân mình làm gương mẫu cho người khác sửa đổi. Đây là chỗ khổ tâm và khéo dụng công của vua Thuấn vậy.


Bọn chúng ta ở thời mạt pháp nầy chẳng nên thấy mình có chỗ sở trường mà khinh khi chèn ép người, chẳng nên lấy chỗ hay giỏi của mình mà đem so sánh xét người. Ẩn ác dương thiện tức là thấy người ta dở, có lỗi lầm thì gặp riêng khuyên bảo đừng ra ngoài nói xấu làm người ta mất hết danh dự, gặp được việc làm tốt của ai thì nên ghi nhớ mà học theo đồng thời hết sức ca ngợi để mọi người cùng được biết.


Thế nào là thành toàn việc thiện của người?


Một hòn đá trong có ngọc nếu bị ném bỏ ắt sẽ vỡ tan như hòn ngói, nhưng nếu đem mài dũa chạm trổ ắt sẽ thành khuê trượng hốt ngọc. Cho nên phàm thấy người làm việc thiện hoặc thấy ý chí và tư chất của họ có thể tiến thủ thành công thì đều nên khuyến dụ trợ giúp họ; hoặc khen ngợi khích lệ hoặc gìn giữ bảo bọc họ; hoặc biện bạch hộ cho họ hay chia xẻ cùng họ nỗi oan ức bị người ghen tị mà vu họa phỉ báng họ, cốt sao giúp cho họ được thành công mà thôi.


Đại khái con người thường không ưa thích những người không giống như mình, chẳng hạn như ác không ưa thiện, tiểu nhân không thích quân tử. Người trong một xóm làng, thiện thì ít mà xấu ác thì nhiều, vì thế người thiện ở đời bị kém thế khó có thể tự lập được vững vàng.


Hơn nữa người hào kiệt, thông minh tài cán, tính tình cương trực không trọng bề ngoài, không ưa tiểu tiết nên hay bị người ta hiểu lầm mà chỉ trích phê bình; vì thế cho nên việc thiện thường dễ bị hư hỏng mà người thiện thường bị nhạo báng, cười chê, chỉ duy có người trưởng giả nhân hậu mới hiểu rõ được sự tình mà khuông phù trợ giúp cho họ được thành công. Thành toàn cho người thì công đức thực là lớn lao vô cùng.


Thế nào là khuyến khích người làm thiện?


Con người ta sinh đã sinh ra làm người, ai mà không có lương tâm.


Đường đời mênh mông mù mịt rất dễ bị sa đọa chìm đắm vì lợi danh.


Đối với những người còn mải mê tham danh tham lợi tạo thành nghiệp ác, ta nên tìm cách cảnh tỉnh họ cho thoát khỏi sự mê hoặc, cũng giống như họ đang trải qua một giấc mộng lớn trong đêm dài mà ta giúp họ đoạn diệt, bạt trừ hết thì ân huệ đó thật vô biên vô lượng.


Hàn Dũ đời nhà Đường có nói: dùng lời thì khuyên người được một đời, làm sách thì khuyên người được trăm đời. Việc khuyên người làm lành ở đây đem so với việc cùng người làm lành ở trên có phần sút kém, song theo bệnh cho thuốc, theo thời khuyên răn vẫn thâu được hiệu quả rất nhiều. Còn như dùng chính bản thân mình hành động làm mẫu mực, làm gương cho người trông thấy để họ tự nhiên tỉnh ngộ biết được lỗi lầm mà sửa đổi thì hiệu quả cũng chẳng kém mà không để lại hình tích gì; có hai phương tiện nầy đều chẳng thể bỏ qua. Muốn giúp người, khuyên người cần phải thông minh sáng suốt, biết tùy thời, tùy người không để mất lời tức phí lời mình nói mà người không nghe, cũng không để mất người, tức là gặp người có thể khuyên cải được mà mình không hành động để lỡ mất dịp làm lành, như thế là kém hiểu biết không có trí tuệ vậy.


Thế nào là cứu người nguy cấp?


Người ta ai cũng có lúc gặp phải sự tai ương hoạn nạn xảy ra. Vậy khi gặp ai lâm cảnh ách nạn hãy xem như chính mình lâm nạn mà lo vội vã cứu trừ, hoặc lấy lời biện bạch an ủi, hoặc dùng phương chước khôn ngoan giải trừ. Thôi Tử có nói: Làm ân không cần phải đợi lớn lao mới làm, chỉ cần cứu kịp người lúc cấp nạn là quý.

Ðó thật là lời của kẻ có lòng nhân vậy.



Người đời lấy cơm ăn áo mặc làm mạng sống, cho nên rất quý trọng đồng tiền, nay chúng ta có thể xả bỏ được tức là trong lòng bỏ được tính keo kiệt, ngoài mặt thì cứu giúp được người lúc cần cấp; lúc mới bắt đầu thì có vẻ miễn cưỡng mà làm, nhưng rốt cuộc xả bỏ quen rồi thì an nhiên tự tại hành động, có thể rửa sạch được lòng riêng tư, vị kỷ, trừ bỏ được tính biển lận.


Thế nào là giữ gìn bảo hộ chánh pháp?


Góp phần công đức xây dựng chùa chiền, chăm làm việc Phật sự, ấn tống kinh điển, lưu truyền sách báo bài giảng của quý thầy là bảo hộ chánh pháp.


Bản thân mình thì học, hiểu và thực hành đúng chánh pháp rồi đem chánh pháp đó lan truyền đi cho những người khác, ấy cũng là bảo hộ chánh pháp.


Hoà Thượng Thích Thiện Siêu (trích Liễu Phàm Tứ Huấn)

Đăng bởi Để lại phản hồi

Phương pháp thờ cúng trong gia đình, phước đức lâu bền cho gia đình, cho dòng họ được hưng thịnh muôn đời.

Việc khấn vái phải theo trật tự trên dưới rõ ràng. Phật có nguồn gốc từ con người, cho nên dù có phép thần thông quảng đại đi chăng nữa, thì cũng không ngoài vòng cương tỏa của Trời – Đất. Vậy thì khi khấn vái phải lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ trước, rồi mới đến Phật. Tham khảo các bài sớ cúng của các dòng họ, tôi thấy các cụ xưa cũng thường theo trật tự: Chư Thiên – Chư Địa – chư Thần – Chư Phật – Chư thánh – Thành hoàng làng – Gia Tiên, không phải như con cháu bây giờ để Phật lên trước trời đất? Ví dụ: Con sám hối lạy chín phương trời, năm phương đất, chư Phật mười phương chẳng hạn…







Quay lại vấn đề chính đã nêu ra ở trên, để thờ cúng trong nhà bà con cần chuẩn bị những gì? – Xin thưa chúng ta cần:


1. Rường thờ


2. Hương án


3. Bài vị


4. Bát hương


5. Hoành phi


6. Đối liễn


7. Lễ vật (hương, đăng, hoa, quả, nước)


8. Sớ cúng


Và tôi sẽ giải thích ý nghĩa, phương cách thực hiện từng mục trên như sau:


1. Rường thờ: có nơi gọi là giường thờ, gọi là giường thờ vì giường thờ vốn có mành hoặc rèm che, là nơi nghỉ ngơi của linh hồn tiên tổ. Nhưng vì giường là thứ dành cho người phàm tục, sợ phạm húy với tổ tiên, nên nhân dân gọi chệch thành “rường” chỉ khi cần thắp hương mới vén rèm lên. Khi xong rồi thì phải kéo rèm che kín lại không cho khách khứa nhìn thấy hương án, ngoại trừ ba ngày tết.


Phía trước cửa rường thờ, hai bên là hai câu đối, bên trên cùng là hoành phi, bên trong là hương án (bàn thờ), rường thờ được chia làm hai bậc cao thấp, trái phải, bên trái cao hơn một chút thờ ngũ vị tài thần, bên phải thấp hơn một chút thờ gia tiên; Hoặc phía sau cao hơn thờ tài thần, phía trước thấp hơn thờ gia tiên.


2. Hương án: “Án” là cái bàn, “hương án” là cái bàn để bày lễ vật thắp hương, nhân dân gọi nôm na là bàn thờ. Hiện nay các nhà ít khi có mành che nên có thể nói là không còn rường thờ mà chỉ có bàn thờ (hương án).


3. Bài vị 


“Bài” là cái thẻ bằng gỗ mỏng hay bằng giấy cứng có viết chữ trên đó. “Vị” là chỗ đứng. “Bài vị” còn được gọi là “Thần chủ”, là một tấm thẻ, trên đó có ghi đầy đủ tên họ người chết, năm sinh, ngày chết, chức tước, quê quán, dùng để tế lễ và thờ phụng.


Cách viết chữ lên bài vị:


– Chức danh của vị gia tiên được thờ phụng, ví dụ: Cao tổ khảo (kị), hoặc Tằng tổ khảo (cụ), Tổ khảo (ông); Hiền khảo (cha)


– Chức tước và công danh (nếu có) của vị gia tiên được thờ phụng;


– Tuổi thọ: nếu từ 60 tuổi đổ lại thì ghi hưởng dương, từ 61 trở lên mới ghi hưởng thọ


– Vai vế trong dòng họ: Con trưởng thì ghi họ rồi thêm “mạnh công”, nếu là con thứ thì ghi họ rồi thêm “quý công”, sau đó mới tên huý của vị gia tiên.


Ví dụ:


– Hiền khảo / tiền đảng viên ĐCSVN-Đại tá quân đội nhân dân VN – Liệt sĩ chống Mỹ – Huân chương chiến công hạng nhất / hưởng dương ngụ tứ tuần Trần Mạnh Công tự Văn An phủ quân 1915 – 1968);


Xem thêm ở bài: “Cấu trúc thờ cúng trong nhà thờ họ và tổ chức tề lễ ”


4. Bát hương: Phương pháp làm bát hương hiện nay trong nhân dân thường phụ thuộc vào thầy cúng, hoặc thầy chùa. Có người nói sau khi làm bát hương phải được thầy chùa đem “Mật tông kinh” cầu nguyện làm phép mới linh, tôi e là không phải đối với những gia đình không là đệ tử cửa Phật?


Còn thầy cúng thì chẳng ai có thể kiểm nghiệm nổi thần thông quảng đại của thầy ở mức nào, mà chỉ thấy bát hương đắt đỏ thôi rồi, cho nên nhiều gia đình cũng than vãn “tiền mất tật mang”. Bởi vậy tôi mạnh dạn đưa lên đây phương pháp sắm sanh bát hương, ai tin tôi cứ theo mà làm. Thiết nghĩ, đạo nghĩa đã dạy việc thờ cúng phải làm theo tiếng gọi từ lương tâm, linh hồn có thể xâm nhập được vào trong trí não của mình để lắng nghe hư thực, nên có thờ ắt có thiêng mà không nhất thiết phải có “Mật tông kinh”. Chỉ cần ấn định danh phận cho vị gia tiên muốn thờ trong bát hương là đủ, cách làm bát hương như sau:


Chọn mua bát hương: Tuỳ theo khả năng tài chính có thể chọn đồ gốm hoặc đồ đồng. chữ khắc trên bát hương nên chọn chữ “Phước”. Hình con vật nên chọn một cặp rồng – phượng cùng châu vào biểu tượng của thái cực (vòng tròn âm dương). Chọn như vậy thì âm dương mới hài hoà, mới hỗ trợ cho sự sinh tồn vững bền của dòng tộc. Nếu bát hương chưa có biểu tượng âm dương thì vẽ nó lên giấy rồi dán bên dưới bát hương. Bát hương mua về phải rửa sạch bằng nước thơm ngũ vị hương (có bán tại tiệm bán bát hương), lau khô;


Bỏ gì vào trong bát hương?


– Thần sa, chu sa : theo quan niệm của người xưa, thần sa, chu sa có khả năng từ tà khí, nghĩa là bát hương thỉnh cho vị gia tiên nào thì vị gia tiên đó hiển nhiên là chính khí hiển linh, tà khí không vào phá bát hương được. Thần sa, chu sa bà con có thể tìm đến tiệm thuốc đông y để mua, tuy nhiên tuyệt đối không được bỏ nhiều, mỗi bát hương chỉ khoảng 1 – 2gr


– Tro: Dùng rơm sạch để đốt lấy tro, ở thành phố không có rơm thì mua thật nhiều hương về đốt lấy tro.


– Một chùm tua rua ngũ sắc nhỏ kết bằng 5 sợi chỉ năm màu;


– Một tờ giấy mộc nhuộm đỏ viết nội dung giống như trên bài vị, nếu vị gia tiên được thờ phụng có mộ thì tốt nhất xin một chút đất mộ và rút ba chân hương ở mộ rước về càng linh; Nếu là bát hương chung thì lập danh sách tất cả những người muốn thờ cũng theo nội dung bài vị, hoặc ghi chung “Gia tộc hoặc chi tộc…(họ: Nguyễn Văn, Lê Huy…) bài vị linh thần”, rồi ghi thêm “Phúc lộc thọ toàn”;


– Đối với “thất bảo”, tôi chỉ thấy ở miền Nam ảnh hưởng của đạo Cao Đài, còn như Xứ Nghệ An đổ ra thì không có món này.


Gấp bài vị cho vuông vắn lại, rồi dùng một mảnh giấy trang kim (giấy kẽm tráng kim tuyến vàng mục đích là nhỡ có bị cháy cội hương, lớp giấy kẽm sẽ bảo vệ để bài vị không bị cháy lẫn vào cốt tro bên ngoài) gói tất cả các thứ: đất mộ, tiền, chỉ ngũ sắc, giấy bài vị, thần sa, chu sa tán bột mịn để vào, gói tờ giấy trang kim lại cho vuông vắn, để xuống dưới đáy bát hương, sau đó mới đổ tro lên cho đầy. Cắm 3 cội hương rước tứ ngoài mộ về, lau sạch bên ngoài và để trang nghiêm lên hương án, phía trước bài vị.


Chú ý: bát hương mỗi khi được định vị trên hương án rồi thì kiêng kỵ bị xê dịch vị trí, gia đạo sẽ gặp chuyện chẳng hay. Do đó, nếu cẩn thận thì nên dùng keo hai mặt dính chặt xuống. mỗi năm chỉ được sửa sang bát hương từ sau 23 – 30 tháng chạp mà thôi.


Bát hương thờ ngũ vị tài thần theo phong tục thuần Việt hoàn toàn không giống với Trung Quốc, ngũ vị tài thần của Việt Nam là Hoàng thiên, Hậu thổ, là vua trời vua đất của nước Việt và ba vị tam tài Đông trù tư mệnh Táo chủ thần quân chủ về cơm no áo ấm, sức khoẻ; Thổ địa long mạch tôn thần chủ về đất đai long mạch và sự tiềm ẩn của cải sinh sôi; Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần chủ về tiền tài, thóc gạo đã thu hoạch, gặt hái về (tôi đã có nói trong bài thờ cúng táo quân).


Đối với bát hương thờ ngũ vị tài thần, đứng trong khuôn viên nhà mình mà nhìn ra cổng thì bên trái là long mạch, đào sâu xuống đến khi đụng phải nước, lấy một chút đất lẫn nước ở đó, cùng với một chút tro giữa lòng bếp hợp lại trộn với thần sa, chu sa rồi cũng gói vào tờ giấy trang kim với tiền âm dương, tua rua ngũ sắc mà để xuống đáy bát hương trước khi đổ tro lên cho đầy.


Lập bát hương cho người mới mất: Thủ tập lập bát hương như đã hướng dẫn trên. Sau đó giờ Tý nửa đêm, đem bát hương ra để trên nóc nhà để gọi nhập hồn. Cách khấn như sau:


– Kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ


– Kính lạy Đông trù tư mệnh Táo chủ thần quân Thổ địa long mạch tôn thần Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần


– Kính lạy Thanh hoàng bản xứ… (tên địa phương cư ngụ)…


– Kính lạy Gia tiên nhà….. (Nguyễn Trọng, Lê Huy….chẳng hạn)…


Cho phép hồn về nhập nơi cư ngụ!


Tiếp đến, cầm năm hương lạy bốn phương tám hương xong thì bắt đầu gọi hồn:


– Hú ba hồn bảy (chín) vía …(họ tên người chết)… về nơi cư ngụ! (một lần gọi xong thì tách một cây hương huơ một vòng tròn lên trời rồi cắm vào bát hương. Nếu người chết là nam thì gọi 7 lần; nếu người chết là nữ thì gọi 9 lần. Gọi đủ số lần thì đem bát hương để vào vị trí bàn thờ lập cho người mới chết).


Bát hương của người mới chết phải chờ hết khó mới được nhập vào bàn thờ gia tiên.


Thủ tục nhập bát hương của người hết khó vào bàn thờ gia tiên:


Bước 1: Làm lễ cẩn cáo với gia tiên để xin phép


Bước 2: Hoặc là đem nguyên bát hương của người hết khó để lên vị trí được quy định cấp bậc trên bàn thờ gia tiên; hoặc là chỉ rút phần cốt hương và ba cội hương từ bát hương của người mới chết nhập vào bát hương thơ chung của gia tiên. Bát hương cũ đem thả xuống sông, hoặc chôn xuống đất. Coi như hoàn tất thủ tục nhập.


Mỗi nhà chỉ nên có 2 – 3 bát hương trên một rường thờ mà thôi: Một bát thờ ngũ vị tài thần để ở vị trí cáo nhất; Một bát thờ gia tiên, Một bát hương thờ bà cô ông mãnh; gia đình nào mà dân chủ thì lập thêm một bát thờ đàng ngoại, bát hương này để ở vị trí thấp hơn một chút so với bên nội. Tuy nhiên tôi cung nói rõ, nếu gia đình cư ngụ trên đất hương hoả của nhà nội, thì không thờ ngoại được, mà chỉ có những cặp vợ chồng tự mua đất tạo dựng cơ nghiệp thì mới có thể thờ ngoại.


Việc lập bát hương thờ phụng phải chọn ngày lành tháng tốt. Có nhiều cách để chọn ngày, nhưng kinh nghiệm của tôi thì lấy ngũ hành tương khắc tương sinh làm trọng. Trước hết bà con căn cứ vào ngũ hành để chọn ngày sinh nhập cho gia chủ. Ví dụ gia chủ mạng kim thì chọn ngày thổ, gia chủ mạng thổ thì chọn ngày hoả, gia chủ mạng hoả thì chọn ngày mộc. Chọn ngũ hành thôi chưa đủ, ngày ngũ hành đó còn phải là ngày có ngôi sao hoàng đạo, riêng đối với việc lập bát hương thờ phụng này ta nên chọn ngày / giờ có ngôi sao Tư mệnh chủ về sự phúc đức để khởi sự sẽ được phúc đức lâu bền. Đặc biệt việc khởi tạo thờ phụng mà vòng định sinh của gia chủ rơi vào cung phúc đức hay thiên y thì sự linh thiêng sẽ tăng gấp bội.


5. Hoành phi: là vật trang trí bên ngoài cho thêm phần trang trọng, cho nên có thì đẹp đẽ hơn lên, còn như chưa có điều kiện thì cũng không ảnh hưởng gì đến việc thờ cúng cả, đối liễn cũng vậy. Hoành phi còn gọi là “biển”, “bức hoành”, vốn là một bức thư họa. thay vì đối liễn được viết dọc, thì hoành phi được viết ngang, dạng như một câu khẩu hiệu ngắn khoảng 3 – 5 chữ treo ở phòng khách, nhà thờ…Thông thường hoành phi trang trí ngang bên trên, còn hai câu đối được treo dựng hai bên, ví dụ bức hoành phi dưới đây được treo ở bàn thờ gia tiên, hoặc ở nhà thờ tổ:

Đức lưu quang


(Đức độ tỏa sáng)


6. Đối liễn: Hay còn gọi là câu “đối liên” là những câu chữ Hán hay chữ Nôm, có nơi dùng chữ quốc ngữ viết từng cặp dọc đi đôi, và ý nghĩa cũng đi đôi, thể hiện trên chất liệu vải, gỗ, hoặc giấy, ví dụ như một số câu đối sau đây:


Mộc xuất thiên chi do hữu bản


Thủy lưu vạn phái tổ tùng nguyên


(Cây chung ngàn nhánh sinh từ gốc


Nước chảy muôn dòng phát tại nguồn)


Hoặc là:


Nhật nguyệt quang chiếu thập phương


Tổ tông lưu thùy vạn tuế


(Vầng nhật nguyệt mười phương rạng rỡ


Đức Tổ Tông muôn thuở sáng ngời)


Ái Quốc mạc vọng Tổ


Nhân dân tiên mục thân


(Yêu nước chớ nên quên Tổ tiên


Thương dân trước phải hòa thân thích)


7. Lễ vật:


– Thứ bắt buộc phải có khi thắp hương : Hương – đăng (đèn) – hoa – ngũ quả – nước (5 chén + một bình)


– Vàng tiền thì cúng đốt vào các dịp trọng đại như tết, giỗ, ngoài ra thì rằm tháng giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng mười. Khi cúng tiền vàng, phải ghi rõ tên của vị gia tiên được hưởng lộc trước khi hoá vàng.


– Đối với cỗ mặn, to nhỏ tuỳ tâm và tuỳ khả năng tài chính của gia chủ, nhưng chỉ nên bày lên mâm, đặt lên một cái bàn riêng rẽ để phía trước bàn thờ với đầy đủ bát, đũa, thìa, muỗng, chén uống rượu như thể dọn mâm tiệc đãi khách. Chờ cho cháy hết 2/3 chân hương thì con cháu được phép phá cỗ.


8. Sớ cúng: Tôi có xem dăm ba cái sớ cúng của các dòng họ ở Nghệ Tĩnh, Tất cả đều một phom mẫu như nhau nội dung thế này:


Sớ Khấn lạy Trời Phật Thần Thánh


(mẫu)


Duy!


Việt Nam Cộng Sản Hoàng Triều


Nhâm Thìn Niên tuế, Đinh Mùi nguyệt (tháng), ……Nhật (ngày), …..Khắc (giờ)….


… tỉnh, … huyện, … phố,…(số nhà)…cư gia (nếu ở Từ đường thì đọc …(họ)…Từ đường gia tộc)


Con kính lạy Việt Nam Hoàng thiên Hậu thổ (một vái)


Con kính lạy! Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân – Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần – Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chính Thần (một vái)


Con kính lạy các Chư vị Việt Nam Thánh Quốc


Con kính lạy Thành hoàng bản địa…. (tên địa phương)…


Tín chủ con là:


…. và gia quyến, cùng nhất tâm cúi lạy Chư Thiên, Chư Địa, Chư Thần, Chư Phật, Chư Thánh;


Cúi lạy Thành hoàng bản thổ đại vương thần thánh gia ân, cho phép gia quyến chúng con được mời Tổ tiên của chúng con về tại địa chỉ: … tỉnh, … huyện, … phố,…(số nhà)…cư gia (nếu ở Từ đường thì đọc Lê / Nguyễn / Trần…. Từ đường gia tộc) để bàn bạc việc gia đình đại sự là …


Lòng thành lễ mọn, hương đăng, hoa quả, trà rượu, thanh tước chi nghi, dâng bày ra trước hương án, kính cẩn lạy dâng, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét cho chúng con được thể theo sở nguyện. Đồng thời cúi xin linh thiêng phù hộ độ trì cho chúng con khởi sự dược hanh thông mọi bề, phúc đức an lành, gia đạo vẹn toàn như ý.


Cẩn cáo ! (Ba lạy)


Sớ khấn gia tiên


(Mẫu: Sau khi khấn Trời Phật Thần Thánh)


Cận di phỉ lệ chi nghi cảm kính cáo vu:


(Hoặc nói theo Quốc Ngữ: Hương đăng hoa quả thanh tước chi nghi lên trước linh đài kính cẩn báo cáo!)


– Tằng Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê (Nguyễn/Võ/Trần…) mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy cố nội)…thụy chất trực phủ quân


– Tằng Tổ tỉ y phu chức Lê mạnh công chính thất…(họ tên của Bà cố nội)…từ thuận phu nhân


– Nội Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy ông nội)…thụy chất trực phủ quân


– Tằng Tổ tỉ y phu chức Lê mạnh công chính thất…(họ tên của Bà nội)…từ thuận phu nhân


– Nội Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy ông nội)…thụy chất trực phủ quân


– Hiền khảo (cha) ….xướng như trên bài vị….


– Hiền tỉ (mẹ)… xướng như trên bài vị


Hậu duệ con là Lê/Nguyễn/Bùi quý công … (tên đệm và tên chủ nhà)…cùng toàn thể gia quyến. Nay nhân …( lý do cúng: giỗ / rằm…)…


Cây có cội, nước có nguồn, ơn Tiên Tổ vun trồng công đức.


Lòng thành lễ mọn, hương, đăng, hoa, quả, thanh tước chi nghi, dâng bày ra trước hương án, kính cẩn lạy dâng. Cúi xin các Vị Cao, Tằng, Tổ, Khảo / Cao, Tằng, Tổ, Tỉ, cùng các vị Đường Bá (bác), Đường Thúc (chú), Đường Cô (cô), Bào Huynh (anh trai), Bào Đệ (em trai)… chứng giám lòng thành, âm phù dương trợ, sở nguyện tòng tâm, cho phép tín chủ được cử hành lễ …


Muôn vàn đội ơn Gia tiên linh thiêng phù hộ độ trì cho hậu duệ cháu con được muôn đời Tấn phúc, tấn lộc, tấn tài, tấn bình an, gia đạo vạn sự vẹn toàn như ý!


Cẩn cáo !


9. Ai thì được thờ ai? Tôi đã có bài về tại sao người Việt Nam nhận mình là con của Rồng, nhân đây tôi cũng nói luôn vì sao chúng ta lại là cháu tiên?


Chúng tai ai mà không thường được nghe hàng ngày hai chữ “gia tiên”. Vậy thì thiết nghĩ cũng nên có kiến thức hiểu biết xem “tiên” là ai?


Tiên của người Việt không phải là các tiên nữ ở trên thượng đế. Người Việt gọi chức danh của những người đã khuất trong bài sớ như sau:


– Cha/mẹ thì gọi là hiền khảo/hiền tỉ


– Ông/bà thì gọi là tổ khảo/tổ tỉ


– Cụ thì gọi là tằng tổ khảo/tằng tổ tỉ


– Kị thì gọi là cao tổ khảo/cao tổ tỉ


– Và từ vị thân sinh của cao tổ khảo đồ về trước đến đời thứ 2 được gọi là tiên tổ khảo


– Đời thứ nhất gọi là thuỷ tổ


Như vậy thì đã rõ tiên là ai, và tập quán người Việt quy định cấp bậc được phép thờ phụng tiên tổ như sau:


– Trưởng tộc: phải thờ tất cả từ thuỷ tổ – tiên tổ – cao – tằng – tổ – khảo đổ xuống,


– Trưởng chi họ: phải thờ 4 đời gồm : Cao tổ – tằng tổ – tổ – khảo (cao tổ được lên tiên khi trong chi họ có thế hệ thờ cúng mới, ví dụ khảo chết thì con trưởng đảm nhiệm ngôi vị thờ cúng, lúc đó Cao tổ khảo được rước bài vị sang nhà thờ tộc để làm lễ lên tiên. Nếu dòng họ nào chưa có nơi thờ tự dòng tộc chính thống, thì bài vị tiên tổ được xếp cất vào một hòm gỗ không tiếp tục thờ phụng nữa);


– Con trưởng trong gia đình thì thờ 3 đời: Tằng – tổ – khảo


– Con thứ trong gia đình thì chỉ thờ khảo, hoặc tổ – khảo mà thôi


Như vậy là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ giới thiệu về phương pháp thờ cúng trong gia đình. Hy vọng ai đã quan tâm thì nên đọc cho kỹ, hiểu cho thấu đáo để thờ phụng cho đúng ý nghĩa, thoát khỏi sự u mê của các thầy cúng bày trò dị đoan lừa tiền dân chúng. Tu tâm mà giữ lấy cái chân thiện mỹ, cái phước đức lâu bền cho gia đình, cho dòng họ được hưng thịnh muôn đời


(Sưu Tầm)

Đăng bởi Để lại phản hồi

Đức Phật dạy thế nào về một người bạn chân thật

Người bạn là bóng mát bên đường mà ta có thể nghỉ chân, là cốc nước trong lành giữa trưa hè oi bức, là chiếc dù che ta dưới cơn mưa và là chiếc áo ấm khi mỗi mùa đông đến. Với giá trị tinh thần lớn lao đó, nên dân gian có câu ‘Ăn cơm có canh, tu hành có bạn’. Đây là câu nói đơn sơ, mộc mạc; thế nhưng, đầy đủ nghĩa tình. Không có canh, ăn cơm nghẹn lắm, khó nuốt làm sao; cũng vậy, con đường tu hành như thuyền chèo ngược nước, ai từng đi mới thấy cái khó của nó.






Cho nên, đi trên con đường đó, nếu không có người bạn song hành, chúng ta sẽ vất vả hơn nhiều. Vất vả không có nghĩa là không đến đích, cũng như không có canh không có nghĩa là không nuốt được mà là khó nuốt thôi.


Tuy nhiên, dù bạn là gì gì đi nữa thì mỗi chúng ta cũng phải tự nỗ lực một mình trên con đường đi tới, đó là con đường của độc cư thiền định, mà đức Phật đã từng dạy trong bài kinh cuối cùng trước khi nhập Niết bàn ‘Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi’.


Một con đường tự khám phá bản thân để tìm ra câu giải đáp cho cả vũ trụ nhân sinh. Đó là một con đường không phải giản đơn, mà mỗi người tự đối diện với chính tham ái và chấp thủ của tự thân, phủ nhận và không sống cùng với nó.


Trong cuộc sống thường nhật, việc chọn cho mình một người bạn tốt, một người bạn chân thật là điều quan trọng và cũng là cần thiết đối với mỗi một chúng ta. Dù bạn là tu sĩ hay không phải tu sĩ thì vẫn phải xem việc trui rèn nội tâm, sửa đổi tật xấu là điều cấp thiết. Khi nói đến tu, người ta thường chỉ nghĩ đến những người tu sĩ. Không, tất cả mọi người đều phải tu, vì tu là sửa, sửa đổi những thói hư tật xấu đó chính là tu.


Xã hội được cấu tạo từ những nhân tố bé nhỏ như chúng ta, nếu nhân tố đó thiếu tính thiện thì xã hội sẽ rơi vào đen tối, căng thẳng, và sẽ không bao giờ có hạnh phúc, an lạc.


Vậy thì thế nào là một người bạn tốt, một người bạn chân thật?


Ở đây, xin lược trích lời đức Phật dạy ở trong Trường Bộ, kinh Giáo thọ Thi ca la việt, số 31, về một mẫu người chân thật cần nên làm bạn . Đây là bài kinh được đức Phật dạy cho gia chủ Thi ca la việt tại Ràjagaha (Vương Xá thành):


Này Gia chủ tử, có bốn loại bạn này phải được xem là bạn chân thật: Người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật; người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là bạn chân thật; người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là bạn chân thật; người bạn có lòng thương tưởng phải được xem là bạn chân thật.


1. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật: Che chở cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, che chở của cải cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, là chỗ nương tựa cho bạn khi bạn sợ hãi, khi bạn có công việc sẽ giúp đỡ cho bạn của cải gấp hai lần những gì bạn thiếu. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là người bạn chân thật.


2. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật: Nói cho bạn biết điều bí mật của mình; giữ gìn kín điều bí mật của bạn; không bỏ bạn khi bạn gặp khó khăn; dám hy sinh thân mạng vì bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật.


3. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật: Ngăn chận bạn không làm điều ác; khuyến khích bạn làm điều thiện; cho bạn nghe điều bạn chưa nghe; cho bạn biết con đường lên cõi chư Thiên. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật.


4. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật: Không hoan hỷ khi bạn gặp hoạn nạn; hoan hỷ khi bạn gặp may mắn; ngăn chận những ai nói xấu bạn; khuyến khích những ai tán thán bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật.


Bài kinh đã nêu ra bốn loại người bạn và được xem là người bạn chân thật. Mỗi loại người bạn như vậy bao gồm bốn trường hợp khác nhau để nói lên những đức tính cần thiết của mỗi loại người bạn. Sống với một trong bốn loại người bạn đó, chắc chắn chúng ta sẽ được lợi ích lớn, được hạnh phúc lớn và được an lạc lớn. Vấn đề hạnh phúc của tự thân và tha nhân luôn được xem là mục đích cuối cùng của cuộc sống.


Trong việc ‘chọn bạn mà chơi’, ai cũng mong muốn người bạn của mình là một người tốt, một người chân thật. Điều đó nói lên rằng, chúng ta là người yêu thích sự chân thật, yêu thích sự lành mạnh, yêu thích cái gì mang đến lợi ích lớn cho tự thân và tha nhân. Quen thân với bạn hiền thì như đi trong sương móc, tuy không ướt áo nhưng lúc nào cũng thấm đậm hơi sương, “Thân phụ thiện giả, như vụ lộ trung hành, tuy bất thấp y, thời thời hữu nhuận”.


Ngược lại là một sự tối tăm, không bao giờ thấy được điều hay lẽ phải. Vì thế, ngài Quy Sơn dạy, đi xa thì phải nhờ bạn tốt để luôn lọc sạch tai mắt, trú ở thì phải chọn bạn hiền để nghe điều chưa nghe, “Viễn hành yếu giả lương bằng, sác sác thanh ư nhĩ mục, trú chỉ tất tu trạch bạn, thời thời văn ư vị văn”. Cho nên mới nói, sinh ra ta là cha mẹ, tác thành ta là bạn bè, “sinh ngã giả phụ mẫu, thành ngã giả bằng hữu”.


Sự cần thiết của một người bạn trong cuộc sống chính là điều mà ai trong chúng ta cũng cảm thấy như vậy. Sự cần thiết của tâm hồn chính là điều mà chúng ta cần chứ không phải cần một người bạn thể xác. Khi người bạn đó trong trường hợp hội tụ đầy đủ những đức tính cần thiết trên thì có thể nâng cao lên thành Tri âm, tức là một sự hài hòa cảm thông lớn.


Tri âm có nghĩa là cùng hiểu nhau, cùng thông cảm nhau để hướng về cùng một hướng. Ở đây chữ Tri nói lên sự cần thiêt của trí tuệ trong bất cứ sự việc gì dù đó chỉ là một người bạn. Một người bạn như vậy thì đó thật sự là một thiện hữu tri thức, là một pháp lữ quý kính trong cuộc sống hiện tại và mai sau.


“Bạn sẵn sàng giúp đỡ,
Bạn chung thủy khổ vui,
Bạn khuyến khích lợi ích,
Bạn có lòng thương tưởng.
Biết rõ bốn bạn này,
Người trí phục vụ họ,
Như mẹ đối con ruột”.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chữ viết Ai Cập

   

Từ khi xã hội có giai cấp bắt đầu hình thành, chữ viết ở Ai Cập đã ra đời. Chữ viết của Ai Cập lúc đầu là chữ tượng hình, tức là muốn viết chữ để biểu thị một vật gì thì vẽ hình thù của vật ấy. Vì vậy, nhìn vào các bản chữ viết Ai Cập cổ đại, ta thấy các hình vẽ như người, các loại động vật (chim, gia súc, dã thú, côn trùng), cây cối, mặt trời, mặt trăng, sao nước, núi non…

     Đối với các khái niệm trừu tượng hoặc phức tạp thì phải dùng phương pháp mượn ý. Ví dụ muốn viết chữ khát thì vẽ hình con bò đứng bên cạnh chữ nước, chữ chính nghĩa thì vẽ lông đà điểu, vì lông đà điểu hầu như dài bằng nhau. Tuy nhiên, hai phương pháp ấy chưa đủ để ghi mọi khái niệm, vì vậy dần dần xuất hiện những hình vẽ biểu thị âm tiết. Những hình vẽ biểu thị âm tiết này vốn là những chữ biểu thị một từ nhưng đồng âm với âm tiết mà người ta muốn sử dụng. Ví dụ, con mắt trong tiếng Ai Cập là ar, do đó hình con mắt biểu thị âm tiết ar. Dần dần, những chữ chỉ âm tiết biến thành chữ cái, ví dụ “hòn núi nhỏ” đọc là “ca” được dung để biểu thị âm k. Tổng số chữ tượng hình của Ai Cập cổ đại có khoảng 1000 chữ, trong đó số chữ cái có 24 chữ.
Giấy papyrus viết văn tự cho người chết
      Chữ viết cổ của Ai Cập thường được viết trên đá, gỗ, đồ gốm, vải gai, da… nhưng chất liệu dùng để viết phổ biến nhất là giấy papyrus. Vốn là ở hai bên bờ sông Nil có loại cây tên papyrus, người Ai Cập lấy thân loại cây nè chẻ thành từng thanh mỏng, ghép các thanh ấy thành những tờ giấy, ép mỏng rồi phơi khô. Đó là loại giấy sớm nhất thế giới. Do vậy, về sau trong ngôn ngữ nhiều nước châu Âu, giấy được gọi là papier, paper… Để viết trên loại giấy đó, người Ai Cập cổ dùng bút làm bằng thân cây sậy, còn mực thì làm bằng bồ hóng. Loại chữ tượng hình này được dùng trong hơn 3000 năm, sau đó, không còn ai biết đọc loại chữ này nữa.
Giấy cói papyrus
     Năm 1798, Bônapác (tức Napoleon sau này) viễn chinh sang Ai Cập. Tại một địa điểm gần thành phố Rosetta, trong khi đào chiến hào, binh lính Pháp đã phát hiện được một tấm bia, đặt tên là tấm bia Rosetta, trên tấm bia này khắc hai thứ chữ: phần trên khắc chữ Ai Cập cổ, phần dưới khắc chữ Hy Lạp. Ngay sau đó, các học giả tìm cách giải mã thứ chữ đó nhưng kết quả vẫn chưa hơn gì những lần trước. Mãi đến năm 1822, Champollion, một nhà ngôn ngữ học người Pháp 32 tuổi mới tìm được cách đọc thứ chữ này. Chính từ đó, một môn khoa học mới ra đời, đó là môn Ai Cập học. Học giả nhiều nước như Pháp, Đức, Anh… đã nghiên cứu ngôn ngữ Ai Cập, biên soạn sách tiếng Ai Cập cổ, đặc biệt biên soạn cuốn Từ điển tượng hình Ai Cập. Nhờ đọc được chữ Ai Cập cổ, người ta mới biết được nhiều tư liệu quý giá thuộc các lĩnh vực như lịch sử, văn học, thiên văn, toán học…của Ai Cập cổ đại.



Tấm bia Rosetta
H thng ch viết
      Cùng một ký hiệu có thể, tuỳ theo ngữ cảnh, được dịch theo các cách khác nhau: như một tín hiệu ngữ âm (đọc Ngữ âm), như một dấu tốc ký, hay như một biểu tượng (semagram; “từ hạn định“) (đọc Ngữ nghĩa). Từ hạn định không được đọc như một thành phần ngữ âm, nhưng được làm cho dễ hiểu bằng cách phân biệt từ với các từ phát âm giống khác.
Đc ng âm
 
    Các chữ tượng hình được viết từ phải sang trái, từ trái sang phải, hay từ trên xuống dưới, hướng thông thường là từ trái sang phải. Người đọc cần phải xác định hướng của chữ tượng hình để biết thứ tự đọc chính xác. Ví dụ, khi các chữ tượng hình người và động vật quay mặt về phía trái (ví dụ họ nhìn về phía trái), họ phải đọc từ trái sang phải, và ngược lại, ý tưởng là chữ tượng hình quay mặt về nơi bắt đầu dòng chữ.
    Giống nhiều hệ thống chữ viết cổ khác, các từ không được chia tách bởi các khoảng trống hay bởi các dấu chấm câu. Tuy nhiên, một số chữ tượng hình rất thường xuất hiện ở cuối các từ nên có thể nó là các từ phân biệt.

Chữ tượng hình thời Graeco-Roman
       Chữ tượng hình Ai Cập gồm 24 dấu hiệu đơn (các biểu tượng thay cho các phụ âm đơn, giống các chữ tiếng Anh). Có thể viết toàn bộ các chữ Ai Cập bằng những dấu hiệu này, nhưng người Ai Cập không bao giờ làm như vậy và không bao giờ đơn giản hoá hệ thống chữ viết phức tạp của họ thành một bảng chữ cái thực sự.
Bảng chữ cái tượng hình



Đăng bởi Để lại phản hồi

Hoa hậu Tiểu Vy với nghi thức hầu đồng tại Miss World

Trong phần thi đầu tiên tại Miss World 2018Hoa hậu Tiểu Vy đã lựa chọn thể hiện điệu múa chầu văn – một loại hình nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam.



  Miss World 2018 đã chính thức khởi động với phần thi đầu tiên “Top of the World” nhằm chọn ra những điệu múa đặc sắc từ các nước để biểu diễn chính tại đêm chung kết. Đến với phần thi này, Hoa hậu Tiểu Vy đã thể hiện điệu múa chầu văn – một loại hình nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam gắn liền với nghi thức hầu đồng – đến với Miss World.  Đây được xem là tiết mục đậm chất văn hoá và khá phức tạp. Tiểu Vy phải tập múa với đuốc nến trên 2 bàn tay, các động tác đòi hỏi sự mềm dẻo, tinh thần, ánh mắt phiêu lãng mang tính chất tâm linh của đạo Mẫu.  “Vy cảm thấy hơi tiếc vì phần đặc sắc nhất trong điệu múa chầu văn này là việc múa với lửa, nhưng để đảm bảo an toàn, ban tổ chức đã hạn chế phần này” – Hoa hậu Tiểu Vy chia sẻ.  Trang phục của Hoa hậu Tiểu Vy cho phần thi này cũng được đánh giá cao. Cô và êkíp trong chuyến công tác Hà Nội đã lặn lội đến các khu phố cổ, các nghệ nhân chuyên may thêu trang phục cho các nghi lễ hầu văn để nhờ tư vấn trang phục.  Sắc xanh của miền rừng núi được thể hiện trên nền gấm có hoa văn tinh xảo sang trọng. Các hoạ tiết cỏ cây, hoa lá và chim công đang múa được thêu bằng chỉ ngũ sắc, chỉ vàng kim tinh xảo để tạo nên sắc màu rực rỡ, bắt mắt cho bộ trang phục.  Năm nay Tiểu Vy được đích thân đạo diễn Hoàng Nhật Nam tư vấn cho tiết mục “Cô đôi thượng ngàn” trên nền ca của ca nương Kiều Anh và dàn nghệ sĩ hát văn cùng dàn nhạc cụ dân tộc độc đáo.  Tiết mục mang đến sự tươi vui, rộn ràng với giá Cô đôi dạo chơi miền rừng núi với muôn thú, cỏ hoa cây trái chốn tiên cảnh.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Truyền thuyết lễ Vu Lan: “Mùa hiếu hạnh”

CÔNG CHA NHƯ NÚI THÁI SƠN
NGHĨA MẸ NHƯ NƯỚC TRONG NGUỒN CHẢY RA
MỘT LÒNG THỜ MẸ, KÍNH CHA
CHO TRÒN CHỮ HIẾU, MỚI LÀ ĐẠO CON

Truyền thuyết dân gian cho rằng từ mùng 2/7, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan và đến rằm tháng 7 thì “thả cửa” để cho ma quỷ ra tứ phương, đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì kết thúc và các ma quỷ phải quay lại địa ngục.Cũng còn tháng nữa là tới tháng 7 rồi dân gian ta hay nói vui đó là tháng cô hồn và tháng này cũng là tháng Vu Lan báo hiếu. Vậy có ai biết về truyền thuyết tại sao lại có tháng cô hồn và Vu Lan báo hiếu này. Mọi người cùng đọc nha! chắc chắn khi đọc xong bạn sẽ thấy tâm hồn thư thái và thanh nhàn..,Truyền thuyết dân gian cho rằng từ mùng 2/7, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan và đến rằm tháng 7 thì “thả cửa” để cho ma quỷ ra tứ phương, đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì kết thúc và các ma quỷ phải quay lại địa ngục.







Bởi vậy, vào đêm 14/7, người ta thường đốt nến, hóa vàng bạc hoặc giết gà vịt cúng quỷ đói để cầu được bình an và những điều tốt đẹp, không bị ma quỷ hại phá, đó chính là nguồn gốc của tên gọi Tết Quỷ. Nguồn cội của Tết Quỷ gắn liền với văn hóa Đạo giáo của Trung Quốc, bởi Phật giáo không có chủ trương sát sinh hoặc đốt vàng bạc hàng mã để cúng tế quỷ thần. Đạo giáo gọi Thiên – Địa – Thuỷ là “Tam Nguyên”. Nguyên tức là sự khởi đầu của tất cả, Trời – Đất – Nước là ba nguyên khí căn bản tạo ra và nuôi dưỡng con người cùng vạn vật. Nếu đem Tam Nguyên này xếp vào ba ngày âm lịch trong năm, thì sẽ có “Tam Nguyệt Nhật”: 15/1 là Thượng Nguyên, 15/7 là Trung Nguyên và 15/10 là Hạ Nguyên. Theo truyền thuyết, Tam Nguyên Nhật là sinh nhật của Tam Quan Đại Đế trong Đạo giáo, địa vị của ba đại đế này chỉ đứng sau Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ngày Thượng Nguyên là sinh nhật của “Thiên quan tứ phúc đại đế”, ngày Trung Nguyên là sinh nhật của “Địa quan xá tội đại đế”, còn ngày Hạ Nguyên là sinh nhật của “Thủy quan giải nguy đại đế”. Ba đại đế chia nhau cai quản khắp nơi, cho nên Tam Nguyên Nhật trở thành ba ngày lễ lớn quan trọng của Đạo giáo. 


Trong dân gian có rất nhiều truyền thuyết về Tam Quan, và thường người ta ghép Thiên Quan, Địa Quan, Thuỷ Quan vào Tam Hoàng: Nghiêu, Thuấn, Vũ. Thiên Quan (Nghiêu Đế) chủ về ban phúc cho nên rất được dân gian tín phụng. Thuỷ Quan (Vũ Đế) chủ về trị thủy, làm cho dân chúng được an cư lạc nghiệp. Còn Địa Quan (Thuấn Đế) chia Trung Quốc thành 12 châu, làm cho dân chúng có cuộc sống ổn định, hơn nữa vua Thuấn lại là người con chí hiếu, cho nên Tam Nguyên Nhật cũng còn được gọi là “Lễ báo hiếu”. Thời cổ, vào ngày lễ báo hiếu, người Trung Quốc giết dê, gà và đốt hương, hóa vàng để tế ông bà tổ tiên, rồi dần dần được mở rộng ra thành ngày phổ độ cho cả cô hồn và từ đó mang tên gọi “Trung Nguyên phổ độ”.Nhưng ngày 15/7 cũng chính là Lễ Vu Lan của Phật giáo, như vậy Lễ Vu Lan của Phật giáo và Tết Quỷ trong dân gian Trung Quốc là không hoàn toàn giống nhau. Ở Trung Quốc, Lễ Vũ Lan đầu tiên được bắt đầu từ thời Lương Vũ Đế, đến đời Đường (thế kỷ 7-10) đã rất thịnh hành. Vu Lan là dịch ý từ tiếng phạn Ullambana, nghĩa là giải thoát khỏi sự “khốn khổ vì bị treo ngược”. Mẹ của tôn giả Mục Kiền Liên từng sống sa đọa, gây nhiều ác nghiệp, khi chết bị đọa địa ngục làm quỷ đói và chịu hình phạt treo ngược người như vậy. 




Ý nghĩa và nguồn gốc Lễ Vu Lan được ghi chép và giải thích rõ trong Vu Lan Bồn Kinh: Lễ Vu Lan với nghi thức bông hồng cài áo là nét văn hóa đẹp có ý nghĩa giáo dục lòng hiếu thảo và tình người cho đại chúng.”Thời Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế,trong số 10 đại đệ tử của ngài có một vị tôn giả tên Mục Kiền Liên. Sau này Mục Kiền Liên đắc quả A La Hán thoát khỏi nghiệp sinh tử và có pháp lực thần thông cao cường. Trước khi Mục Kiền Liên tu thành chánh quả, cha mẹ của ngài đều đã mất sớm và trở thành quỷ đói bị đọa vào địa ngục. Sau khi đắc đạo, Mục Kiền Liên muốn báo ân phụ mẫu bèn dùng thiên nhãn quan sát khắp nơi, thấy song thân ngài đang bị giam hãm dưới âm ty với hình dạng quỷ đói hết sức đáng sợ: bụng to như núi, mà cổ họng chỉ nhỏ như cây kim, không thể ăn uống gì được, thân thể hai người chỉ còn da bọc xương mà thôi. Mục Kiền Liên thấy vậy vô cùng đau xót bèn cầm một bát thức ăn dùng thần lực mang xuống âm phủ cho mẹ, nhưng thức ăn vừa đưa sát miệng liền hóa thành tro bụi. Mục Kiền Liên đành chịu bất lực, vội đi bái kiến và thuật chuyện của mình cho Phật Thích Ca nghe. Đức Phật nói: “Cha mẹ ngươi thời còn sống đã tạo ra vô số tội lỗi, cho nên sau khi chết phải bị đọa vào địa ngục làm quỷ đói để chịu quả báo, một mình ngươi không thể đủ sức cầu độ cho họ được, mà phải dựa vào uy lực của tăng chúng mười phương mới mong giải thoát nổi. 


Vào ngày rằm từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm, tất cả tăng chúng đều cùng tụ họp tinh tiến tu hành, đến ngày rằm tháng 7 thì kết thúc và trong ngày này sẽ có nhiều tăng chúng đắc chánh quả. Ngày ấy, nếu ngươi muốn cứu song thân khỏi khổ quỷ đói, phải cúng dường cơm chay cho tăng chúng, như vậy công đức rất lớn, không những việc làm đó có thể giải thoát cho song thân ngươi khỏi khổ quỷ đói, mà thậm chí còn có thể khiến 7 kiếp của song thân người còn được hưởng phúc trên trời. Giá như cha mẹ ngươi còn tại thế, thì việc cầu cúng ấy cũng có thể khiến họ được thêm phúc đức và trường thọ”. Mục Kiền Liên làm theo lời Phật dạy, quả nhiên cha mẹ của tôn giả thoát được kiếp quỷ đói và siêu thăng”. Dân gian tin rằng dằm tháng 7 là ngày Quỷ Môn Quan mở để ma quỷ được tự do về dương thế, đó cũng là ngày “âm khí xung thiên”, cho nên ngoài việc cầu cúng, người ta cũng đặt ra nhiều điều kiêng cấm để bảo vệ bản thân mình. 

Đăng bởi Để lại phản hồi

Mẹo trị trẻ khóc đêm

Mình vì có tật…: “LÀM BIẾNG BẨM SINH” nên làm cái gì cũng luôn luôn tìm con đường ngắn nhất. Nhận thấy, thay vì phải làm Bùa, thắt Chỉ , hơi mất công, mình biết cách này rất dễ: KHÔNG CẦN DÙNG BÙA, AI AI CŨNG LÀM ĐƯỢC, VÀ KẾT QUẢ 100%, xin viết ra trình với các bạn:







CÁCH TRỊ TRẺ KHÓC ĐÊM
1/- Mua Hương,Hoa, Trà, Quả cúng Phật, trường hợp không có bàn Thờ Phật, thì sắp lễ vật trên 1 cái bàn, Nghĩ đến bất cứ 1 Vị Phật nào cũng được.
2/-Đặc biệt Hoa phải có đủ 5 loại Hoa, hoặc 5 màu khác nhau. Không dùng Hoa có gai.
3/-Sau khi dâng lễ vật Cúng Phật xong, khi Nhang gần cháy hết, thì lại bàn Thờ Phật thầm Khấn:
-“Cho con xin Hoa của Phật trị trẻ khóc đêm”
Rút ra 5 nhánh Hoa, cầm cành, nhúng Hoa vào ca nước lạnh, xong vỗ 5 đóa Hoa đó trên trán của Trẻ, rồi nói:
-“Ngoan nhé, tối nay ngủ ngon nhé, không được khóc đêm nữa nhé”
Vỗ nhẹ 3 lần vào trán và nói như thế là xong.
Ngay đêm đó trẻ sẽ hết khóc liền.
Cách này tôi đã chỉ cho rất nhiều người tự làm, đều đạt kết quả. Hôm nay xin post lên để chia xẻ với các bạn bốn phương.


Trân Trọng



Đăng bởi Để lại phản hồi

BÀI THUỐC LOẠI TRỪ CHẤT ĐỘC TRONG CƠ THỂ

Bài thuốc này có tác dụng loại bỏ những chất độc trong cơ thể , giúp chúng ta không bị nhiễm độc và phòng chống rất tốt những căn bệnh hiểm nghèo . Ai cũng có chất độc trong cơ thể , đây là bài thuốc loại trừ chất độc đơn giản nhất và hiệu quả nhất mà dienbatn đã gặp và sử dụng . Đặc đểm của bài thuốc này rất rẻ tiền và đơn giản , chừng vài chục ngàn là đã thấy có hiệu quả rõ rệt .







Bài thuốc chỉ gồm có 2 vị : Bách Hoa Xà và Bán Liên chi .


Khi sử dụng , tính theo khối lượng : Bách Hoa Xà 2 phần và bán Liên Chi 1 phần .
Cách dùng : Trong tuần đầu sắc tương đối đặc , uống 3- 4 lần / ngày .
Các tuần sau có thể nấu uống thay nước .
Đặc điểm : Vị thơm , mát rất dễ uống .
Hiệu quả : Thấy rõ rệt , nhất là với những chứng bệnh về gan , ung thư dạ dày , vàng da .
Kiệng cữ : Không cần kiêng cữ gì cả .


Thảo dược chữa ung thư


Không chỉ chữa được viêm da, sỏi mật, viêm gan…, cỏ lưỡi rắn trắng còn giúp phòng trị nhiều loại ung thư. Dân gian từng truyền tụng một bài thuốc chữa ung thư gan hiệu nghiệm được cho là của một tử tù, với 2 cây thuốc là cỏ lưỡi rắn trắng và bán biên liên.


Trong Đông y, cỏ lưỡi rắn trắng có tên là bạch hoa xà thiệt thảo, còn có tên là bồi ngòi bò, xà thiệt thảo, xà châm thảo, long thiệt thảo. Tên khoa học là Hedyotis diffusa Willd, thuộc họ cà phê. Đây là loại cỏ mọc bò, sống hàng năm, có thể cao tới 30-40 cm. Lá mọc đối, hơi thuôn dài, không có cuống lá, có khía răng ở đỉnh. Hoa mọc đơn độc hoặc thành đôi ở kẽ lá, có màu trắng. Quả nang khô dẹt ở đầu, có nhiều hạt màu nâu nhạt. Cây thường mọc hoang nơi đất ẩm ướt. Ngay tại Hà Nội cũng thấy cây này. Nó được dùng toàn cây làm thuốc.


Trong y học cổ truyền, bạch hoa xà thiệt thảo được dùng chữa các bệnh viêm họng, viêm đường tiết niệu, viêm gan, sỏi mật, lỵ trực trùng, mụn nhọt, rôm sảy, rắn cắn; dùng ngoài chữa vết thương, côn trùng đốt, đau lưng, đau khớp… Thời xưa, Tuệ Tĩnh thường dùng nó chữa rắn cắn, sởi…


Theo y học hiện đại, do tăng cường khả năng của đại thực bào trong hệ thống lưới- nội mô và bạch cầu nên bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng chống viêm. Cây này cũng ức chế tế bào ung thư lymphô, bạch cầu hạt và bạch cầu đơn nhân, tế bào carcinom; ức chế hiện tượng gây đột biến do aflatoxin B1 tạo ra. Nó hỗ trợ điều trị bệnh ung thư nhờ tác dụng ức chế miễn dịch. Trung Quốc dùng bạch hoa xà thiệt thảo chữa bệnh ung thư dạ dày, thực quản, cổ tử cung, bàng quang, trực tràng, đại tràng, thực quản, hạch…


Tại Ấn Độ, bạch hoa xà thiệt thảo còn được dùng chữa các bệnh viêm gan virus, sốt, lậu… Tương đồng với y học Ấn Độ, một số nước cũng dùng bạch hoa xà thiệt thảo chữa bệnh viêm gan. Trung Quốc đã bào chế một loại thuốc từ thảo dược với tên Ất can ninh, thành phần có bạch hoa xà thiệt thảo, hoàng kỳ, nhân trần, đảng sâm, hà thủ ô?… Theo các nhà khoa học, Ất can ninh có tác dụng ức chế miễn dịch, ngăn ngừa sự phát triển của virus và phục hồi chức năng gan, có tác dụng tốt trong điều trị bệnh viêm gan virus B. Thảo dược này cũng có mặt trong Lợi đởm thang bên cạnh các thành phần nhân trần, kim tiền thảo, dùng chữa sỏi mật, viêm đường mật ở Trung Quốc.


Trong dân gian, cây chủ yếu được dùng dưới dạng thuốc sắc, có thể dùng tươi hoặc phơi khô. Liều dùng có thể tới 60 g thuốc khô, tương đương với khoảng 250 g dược liệu tươi. Dùng ngoài không kể liều lượng. Ở nước ngoài, bạch hoa xà thiệt thảo còn được bào chế thành dạng thuốc tiêm để chữa các bệnh ung thư và viêm nhiễm như viêm phế quản, viêm phổi, viêm họng, viêm ruột thừa…


Một số bài thuốc Nam đơn giản 


Chữa ung thư gan: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, chó đẻ răng cưa 30 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa ung thư dạ dày: Bạch hoa xà thiệt thảo 60 g, bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 60 g, hạt bo bo 40 g, đường đỏ 40 g. Sắc uống ngày một thang.


Chữa viêm họng: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, bồ công anh 20 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa phù thũng: Bạch hoa xà thiệt thảo 40 g, rễ cỏ tranh 30 g, râu ngô 20 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa viêm gan vàng da: Bạch hoa xà thiệt thảo 60 g, chó đẻ răng cưa 30 g, nhân trần 20 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa sỏi mật: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, kim tiền thảo 20 g, màng trong mề gà sao cách cát cho vàng 16 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Hoặc: Bạch hoa xà thiệt thảo 40 g, nhân trần 40 g, kim tiền thảo 40 g. Sắc uống ngày một thang (lợi đởm hợp tễ). Bài thuốc này đã được Trung Quốc áp dụng trên lâm sàng, có tác dụng lợi mật, tăng bài tiết mật. Thường được áp dụng cho bệnh sỏi mật, bệnh đường mật…


Chữa lỵ trực trùng: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, rau sam 20 g, lá mơ tam thể 20 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa lỵ, viêm phần phụ: Bạch hoa xà thiệt thảo 40 g. Sắc uống ngày một thang. (Phúc kiến trung thảo dược).


Chữa nhọt lở: Bạch hoa xà thiệt thảo 30 g, kim ngân hoa 20 g, bồ công anh 20 g, bèo cái 20 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa rôm sảy: Bạch hoa xà thiệt thảo, cúc liên chi dại. Hai vị lượng bằng nhau. Dùng để nấu nước tắm.


Chữa vết thương sưng đau: Bạch hoa xà thiệt thảo 200 g. Sắc uống ngày một thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa mụn nhọt: Bạch hoa xà thiệt thảo 60 g, bồ công anh 20 g, bèo cái 20 g. Sắc uống ngày một thang, chia uống 2-3 lần trong ngày.


Chữa rắn cắn: Bạch hoa xà thiệt thảo 100 g, giã nát, cho thêm nước, bã đắp vào chỗ rắn cắn, còn nước uống.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Màu sắc là phương tiện mạnh mẽ để truyền tải những thông điệp trong các tôn giáo.

Màu sắc đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống chúng ta, chúng là phương tiện mạnh mẽ để truyền tải những thông điệp và ý nghĩa. Khi bạn nhìn thấy màu đen, bạn nghĩ đến điều gì? Cái chết? Tang lễ?
Thật ra câu trả lời phụ thuộc rất nhiều vào nơi bạn đang sinh sống vì có những nơi màu đen không chỉ tượng trưng cho sự mất mát mà chúng còn là đại diện của sự giàu có, sức khỏe và những điều huyền bí. Điều đó có nghĩa là ở những nền văn hóa khác nhau, mỗi màu sắc sẽ được quy định những ý nghĩa khác nhau.
Để tìm hiểu rõ hơn, mời các bạn theo dõi infographic sau đây!



Màu sắc và văn hóa
Màu sắc và tôn giáo
Đăng bởi Để lại phản hồi

CHỮ TÌNH TRONG CUỘC SỐNG


Thành công là đích đến của rất nhiều người. Tuy nhiên, để có thể vươn tới cái đích ấy, nhất định cần phải có “tĩnh khí”. Bình tĩnh sẽ giúp bạn rèn luyện bản lĩnh vững vàng. Ngay cả khi sóng gió ập tới trước mặt, thậm chí gặp phải chuyện tưởng như không thể cứu vãn được, sự bình tĩnh vẫn sẽ mang đến cho bạn cách giải quyết tốt nhất.


   


Chuyện kể rằng, khi xưa có một phú thương vì thời thế loạn lạc nên muốn về quê sinh sống. Bấy giờ, ông đem tất cả gia sản đổi thành chi phiếu, sau đó cất công đặc chế một chiếc ô (dù) có cán rỗng để nhét tất cả ngân lượng vào ngăn bí mật trong đó.


Sau khi chuẩn bị hành lý, phú thương thay đổi y phục giống dân thường, mang theo chiếc ô có chứa tất cả tài sản và lên đường hồi hương. Không ngờ rằng, con đường về quê của ông lại đột nhiên xảy đến một biến cố bất ngờ.


Khi đó, phú ông vì mệt mỏi nên dừng chân tại một ngôi đình và ngủ một giấc. Nào ngờ sau khi tỉnh dậy, chiếc ô cất chứa gia tài của ông đã “không cánh mà bay”.


Nhưng phú thương dẫu sao cũng từng là một kẻ lão làng trên thương trường, khi biến cố đột nhiên xảy đến, ông dù hốt hoảng nhưng rất nhanh đã lấy lại bình tĩnh.


“Sao phải lo lắng về những thứ bạn không thể thay đổi? Hãy buông bỏ và tiếp tục tiến lên vì cuộc sống không chờ đợi ai”. Vị phú thương nhận thức được rằng của đã mất đi là có thật, công việc tiếp theo của ông không phải là hốt hoảng, than thân, mà tìm cách lấy lại được những gì đã mất.


Vị phú thương cẩn thận quan sát xung quanh. Thấy bọc tay nải mình mang theo vẫn không thiếu thứ gì, ông kết luận rằng có người lấy cây dù kia để che mưa chứ không nhằm mục đích trộm của cải.


Tiếp tục suy nghĩ sâu xa hơn, ông lại khẳng định người lấy ô có tới tám, chín phần sống ở khu vực lân cận. Người này hẳn là trên đường đi về nhà gặp phải cơn mưa và trú dưới mái đình, khi thấy chiếc ô của ông thì tiện tay mang đi.


Vì vậy, vị phú thương ấy quyết định tạm hoãn chuyến hồi hương của mình, mua một ít đồ nghề, ở lại đó mở một sạp chuyên sửa chữa ô dù.


Thoáng chốc đã một năm kể từ ngày chiếc ô biến mất không tung tích. Vị phú thương vẫn kiên trì chờ đợi ở ngôi đình, nhưng chưa hề gặp lại chiếc ô năm ấy.


Trong lòng chất chứa nhiều thất vọng, nhưng ông vẫn không nản chí. Cẩn thận suy nghĩ thêm một chút, ông nhận ra rằng, khi ô đã cũ, có nhiều người sẽ mua một chiếc mới thay vì mang chúng đi sửa.


Nghĩ vậy, ông quyết định mở một sạp bán ô, lại viết thêm một tấm bảng hiệu có ghi: “Đổi ô cũ lấy ô mới, không phải bù thêm tiền”.


Quả nhiên số người tới đổi ô đông không đếm xuể. Không lâu sau đó, có một người đàn ông trung niên cầm theo một chiếc ô làm từ giấy dầu đã cũ tìm đến vị phú thương ấy.


Chỉ vừa nhìn thoáng qua một cái, ông đã biết chiếc ô cũ nát trên tay người kia chính là thứ cất chứa gia tài tích cóp cả đời của mình. Chiếc ô không còn mới, nhưng phần cán ô chẳng hề có lấy một chút suy chuyển nào.


Phú thương trong lòng dù mừng vui khôn xiết, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ ra điềm tĩnh, từ tốn đổi cho người đàn ông nọ một chiếc ô mới rồi nhận lại ô cũ.


Người kia vừa rời đi, phú thương liền thu dọn sạp hàng, hồi hương sống một cuộc đời giàu sang, phú quý.


Bài học thành công c