Đăng bởi

Tết Cá của người Tày ở Hà Giang

Hàng năm cứ đến ngày 9/9 những gia đình người Tày ở xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang dù giàu hay nghèo cũng phải có một bưa cơm, cá tươm tất để mời anh em dòng họ.

Cư dân Tày ở xã Mậu Duệ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang tổ chức tết cá để cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, cũng là để tưởng nhớ đến công lao người đã mang tới cho cư dân Tày nơi đây nghề trồng lúa nước.

Bên cạnh nhu cầu thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh, đây cũng là dịp trẻ con trong làng, bản được bố mẹ sắm cho những bộ quần áo mới để đi chơi với chúng bạn; là dịp để thanh niên trai gái có cơ hội tìm hiểu nhau. Đồng thời cũng là dịp để anh em dòng họ có cơ hội gặp nhau, uống với nhau chén rượu, ăn các món cá và kể cho nhau nghe những chuyện làng nước, những kinh nghiệm sản xuất, chuyện đi săn…những khó khăn vất vả trong cuộc sống từ đó hiểu nhau hơn, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Cá được người dân tháo và bắt ở ruộng về từ ngày mùng 7 hoặc muộn nhất là sáng mùng 8. Không khí ngày tết bắt đầu khi cá được bắt về. Trẻ con được bố mẹ chuẩn bị đồ chơi tết rất đặc biệt, họ bắt những con cá nhỏ, xâu dây vào miệng, làm những bè nhỏ bằng cây chít rồi buộc cá vào. Sau đó được lũ trẻ mang xuống thả ở những dòng suối nhỏ quanh bản làng, chúng thi xem con nào kéo khỏe hơn, sau khi chơi xong chúng lại mang những con cá này về đưa bố mẹ nướng cho ăn, theo quan niệm của họ những con cá kéo bè khỏe mang nướng cho trẻ con ăn nó sẽ khỏe người và hay ăn chóng lớn.

Các món được chế biến xong chiều mùng 8 bắt buộc phải nấu chín vài món vào buổi chiều hôm đó để cúng. Trưa ngày mùng 9 cúng lại lần nữa rồi mới mời khách, những người đàn ông chỉ có nhiệm vụ là mang cá từ ruộng về, công việc mổ cá bắt buộc phải là mẹ chồng hoặc con dâu, cá phải được mổ dưới bàn thờ tổ tiên, trong khi mổ cá tuyệt đối không được nói chuyện, không cho ai được nhòm ngó vì theo quan niệm của người Tày, đây là một nghi thức thiêng liêng, nếu để người khác nhìn thấy thì cá chế biến để thờ sẽ không linh thiêng nữa, tổ tiên sẽ không phù hộ. Những gia đình nào mà không có cửa, nhà không kín đáo thì phải mắc màn dưới bàn thờ để mổ. Các món được chế biến từ cá khá phong phú và đa dạng, theo quan niệm truyền thống là phải chế biến cho được 12 món trong đó có các món như:

Cá nướng (Pẻ Pình): cá nướng bắt buộc khi làm món này phải có 12 con chá chép bằng nhau, mỗi con ít nhất là 100g. Cá được mổ lấy ruột, rửa sạch, ướp một chút muối (tuỳ theo khẩu vị), cá được nhét tỉ mỉ lá gừng vào miệng, sau đó lấy que chọc vào miệng thẳng thân, làm cách này cá không bị cong. Món cá nướng thường được chế biến từ mùng 8, thường là nướng sơ bộ, mùng 9 nướng lại.

Cá đồ măng chua (Pẻ Moọc): Cá đã được làm sạch, măng chua được bóp kiệt nước, tía tô rửa sạch phơi ráo nước, gia vị muối mì tuỳ theo khẩu vị trộn đều nhau, rồi gói là cây rừng đem đồ.

Gỏi (pẻ xả): Cá được đánh vẩy lọc lấy thịt thái chỉ cho vào giấy bản, đặt trên tro bếp cho thấm nước, đầu và đuôi được băn nhỏ rang vàng, thính được làm từ hạt bí hay đỗ tương, lá chua thái nhỏ, sau khi đã chuẩn bị xong trộn đều lên. đây là món ăn làm từ cá được người Tày và Nùng rất ưa thích.

Ruột đồ hạt kê (khẩu phạng): Cá được nuôi trong ruộng, thức ăn hoàn toàn từ tự nhiên, cá đã được bắt nhốt nên ruột rất sạch, chỉ bỏ mật là có thể sử dụng được. Món ăn này cách làm đơn giản lấy ruột trộn hạt kê vàng sau đó gói lá cây rừng đem đồ.

Cá nấu canh mang chua (bung): Cá được trích lấy nguyên mật ra cho cá trộn lẫn vào măng từ lúc còn nước lạnh, gia vị muối mì tuỳ theo khẩu vị, cho vào nồi cứ thế đun không cần đảo.

Nhân bánh trưng: là loại cá nhỏ bằng hai ngón tay, cá được mổ, làm sạch sau đó được đặt vào lẫn đậu xanh hoặc đậu tương một ít hạt tiêu, thảo quả, gừng. Khi ăn món bánh này rất thơm ngon không có mùi tanh của cá. Ngoài ra, còn có một số món như cá rán, cá nấu canh quả chám…
Nghi lễ được tiến hành trong tết Cá

Ngày mùng 9 là ngày chính của “tết Cá”, hầu như tất cả các gia đình người Tày thường ăn tết bắt đầu từ trưa. Sau khi các món ăn được chế biến xong, trước bữa ăn bao giờ cũng phải làm lễ cúng, người cúng là người đàn ông trụ cột trong gia đình, các món cúng bao giờ cũng có 2 món chính là cá nướng lá gừng (pẻ pình) và cá nấu canh măng chua (pẻ moọc).

Mọi người vui vẻ trong ngày lễ.

Trong khi người đàn ông cúng thì người phụ nữ lớn tuổi, có vai vế trong gia đình đi mời khách, khách được mời là anh em họ hàng xung quanh. Người Tày nơi đây ngày tết có phong tục là mỗi gia đình khi được mời phải cử một thành viên đi ăn, người Tày gọi là ăn “đổi công”, người đi thường là người đàn ông biết uống rượu. Nếu gia đình được mời không có thành viên đi, sẽ bị xem là coi thường gia đình người mời và tuyệt nhiên họ cũng không đến gia đình đó chơi trong ngày tết.

Mỗi gia đình, dòng họ khi cúng có cách xưng họ khi mời tổ tiên về ăn tết khác nhau. Nhưng nội dung bài cúng trong “tết cá” hoàn toàn giống nhau. “Ông làm thày về đến mời. Mời ông tổ tiên ăn sôi cúng. Mời ông ăn cá khô. Mời ông ăn cá nấu măng chua. Mời ông bà ăn cá khô tôi làm ngon. Mời ông bà uống no, cho ông bà uống đủ. Ông bà đỡ con cháu. Đỡ con đường xa, dắt cháu đi đương vắng. Đỡ cả nhà tôi được bình an.

Sau khi cúng xong, chờ hết một tuần hương, khách mời tới đông đủ gia đình bắt đầu ăn tết, trong khi ăn người lớn tuổi được ngồi mâm trên, gần bàn thờ tự; con cháu ngồi quây quần phía dưới. Trong bữa cơm họ uống rượu chúc nhau sức khỏe, chúc mùa vụ tới sẽ thu được nhiều thóc lúa hơn.

“Tết cá” là một trong những lễ tiết lớn của người Tày nơi đây. Nhìn chung trong “tết cá” người Tày không tổ chức các trò chơi, họ chỉ tổ chức ăn, uống tới nhà của nhau chơi và chúc nhau những điều tốt đẹp. Trước khi rời nhà gia chủ, những người khách thường hát tặng những bài “lượn” truyền thống của dân tộc họ, thể hiện sự cảm ơn tới gia đình đã cho một bữa ăn ngon và không quên gửi gắm vào đó những lời chúc./.

Hoàng Minh Thắng

Đăng bởi

Chợ phiên Bắc Hà Lào Cai

Chợ phiên Bắc Hà thuộc hàng lớn nhất Tây Bắc, đã níu giữ bước chân bao du khách khi có dịp lên với mảnh đất vùng cao này. Chủ nhật hàng tuần, ngày họp chợ phiên Bắc Hà nhộn nhịp đông vui và đầy màu sắc. Theo quan niệm của người dân bản địa, đi chợ cũng đồng nghĩa với đi chơi hội. Bởi, phiên chợ Bắc Hà (Lào Cai) không chỉ đơn thuần là nơi mua, bán trao đổi hàng hóa, mà còn mang yếu tố văn hóa tinh thần, là nơi gặp gỡ, giao lưu, tâm tình.

Người ta đi chợ phiên Bắc Hà từ rất sớm vì nhà xa cách mấy núi, mấy đồi mà đa phần là đi bộ, có khi phải đi từ ngày hôm trước đến hôm sau mới tới. Họ còn mang theo đủ thứ sản vật như hoa quả, chè shan, mật ong, rượu, váy áo thổ cẩm, đồ trang sức, hoa phong lan, cây giống; hay dắt theo những con ngựa, trâu, bò, lợn; hoặc khệ nệ vác những bao ngô, khoai… Nhưng cũng có nhiều người vượt hàng chục cây số về chợ phiên Bắc Hà cũng chỉ mang mỗi một cây khèn. Có người cắp nách chỉ một con gà trống, chú chim họa mi. Hoặc tay không đến chợ, không mua gì và cũng chẳng có gì bán, họ đi để 1 ngày được sống trong đông vui cho bõ cả tuần lặng thầm nơi sườn núi.

Chợ phiên Bắc Hà – phụ nữ Mông hoa háo hức đi chợ

Sáng sớm, trời vẫn bồng bồng mây trắng, mọi ngả đường về chợ phiên Bắc Hà đã họa lên sắc màu thổ cẩm. Nhóm 5, nhóm 3 gia đình, người già, trẻ nhỏ, chàng trai, cô gái ăn vận đẹp nhất xuống chợ. Khách du lịch trong và ngoài nước cũng xúm xít hòa vui. Cái chợ rộng nhanh chóng chật kín người. Làm nên vẻ đẹp ấn tượng của hội chợ Bắc Hà chính là chị em phụ nữ với những sắc phục đủ màu. Đẹp nhất vẫn là váy áo của phụ nữ Mông Hoa. Váy xòe rộng như đuôi công nổi bật hai màu vàng, đỏ. Mỗi cô gái như một bông hoa di động. Từng tốp, từng tốp, cười nói rôm rả, đi đến đâu là bừng sáng, cuốn theo những ánh nhìn mê đắm. Cả phiên chợ rực rỡ như một chợ hoa.

Chợ phiên Bắc Hà – khu bày bán nông sản

Chợ phiên Bắc Hà rộng lắm, chia thành nhiều khu với đặc trưng riêng của sản phẩm hàng hóa. Đầu tiên phải kể đến chợ thổ cẩm do chính người dân tộc nơi đây thêu, dệt thủ công. Những bộ váy áo, túi, ví, khăn… đầy màu sắc được trải, treo khắp các gian hàng. Đi kèm với trang phục là vòng, nhẫn, kiềng được đúc bằng bạc, bằng đồng… với những hình dáng và họa tiết mang đậm “cá tính” núi rừng, luôn cuốn hút sự chú ý của nhiều du khách.

Kế đến là thế giới sắc màu của ớt đỏ tươi, rau xanh mướt, sáp ong vàng nghệ, cuốc xẻng đen đậm… bày ra thích mắt. Vòng ra sau là các khu vực rộng dành cho chợ ngựa Bắc Hà, chợ trâu Bắc Hà với quy mô hàng trăm con, cùng cánh đàn ông tụ tập đông đúc. Và không thể thiếu chợ chó Bắc Hà với các giống chó quý vùng cao, được giới yêu thú cưng săn đón. Hay như chợ chim Bắc Hà, nơi những “bản nhạc rừng” vang lên thánh thót…

Chợ phiên Bắc Hà – khu chợ trâu bò rộng lớn

Rộn rã nói cười hơn cả là chợ ẩm thực, nơi thắng cố không lúc nào vơi trong chảo cũng như rượu không lúc nào cạn trong bình, nơi người miền xuôi hay miền ngược cũng đều lạ thành quen, cùng hòa vào nhau bên bát rượu ngô nồng nàn, thơm nức. Người ta nói, rượu ngô bản Phố uống tại chợ phiên Bắc Hà dường như ngon hơn, cái cảm giác chông chênh, chếnh choáng men say dường như cũng dễ chịu hơn. Ở chợ ẩm thực, người ta còn được hít hà hương vị mèn mén, hoa quế, hoa hồi…, được “no con mắt” trước những mâm xôi ngũ sắc, những chiếc bánh dày xanh, tím…, được “lây” vẻ thích thú của trẻ con vùng cao bên hàng bánh rán giòn rụm, quán phở bốc khói nghi ngút, tiếng xì xụp ngon miệng…

Chợ phiên Bắc Hà rất cuốn hút khách du lịch

Chợ phiên Bắc Hà còn “cảm” du khách ở cái cách mua bán của người miền núi thật đặc biệt. Chân chất, thân tình, hiếm khi thấy tranh giành, to tiếng. Người mua thoải mái xem xét, lựa chọn. Người bán không nặng mời chào, nói thách. Dù cho món hàng có giá trị lớn đi nữa, một khi đã “ưng cái bụng” là cuộc giao dịch diễn ra nhanh chóng. Người bán phát giá, khách mua chỉ trả giá thêm 1, 2 lần là đồng thuận. Nếu không phải là những khuôn mặt thật thà, những nụ cười hồn hậu, thì chúng ta cũng bắt gặp ở họ cái vẻ an nhiên, tĩnh tại và điều đó đem lại cho khách du lịch chợ Bắc Hà cảm giác thật thoải mái như đang đi giữa chợ quê mình.

Có thể nói, thật đặc sắc chợ phiên Bắc Hà, nơi vẫn lưu giữ đậm nét sinh hoạt cộng đồng của các dân tộc vùng cao Tây Bắc, cùng những giá trị văn hóa truyền thống độc đáo đã làm nên sức hút đặc biệt với du khách gần xa. Dễ hiểu vì sao chợ Bắc Hà từng được bầu chọn là một trong 10 chợ hấp dẫn nhất Đông Nam Á.

* Chợ phiên Bắc Hà họp ngày nào : chủ nhật hàng tuần, từ sáng sớm đến tầm 14 giờ chiều thì tan dần.

– Từ cuối tháng 3/2015, chợ đêm Bắc Hà chính thức khai trương, diễn ra vào tối thứ 7 hàng tuần, nhằm chào đón vào giao lưu với khách du lịch bằng các tiết mục văn nghệ dân tộc đặc sắc như múa xòe, múa khèn, múa xênh tiền, hát đối…, cùng lửa trại tưng bừng, náo nhiệt đến tận khuya. Ngoài ra, tại chợ đêm Bắc Hà còn có khu ẩm thực và các gian hàng bán sản phẩm truyền thống địa phương như thổ cẩm, váy, áo, quà lưu niệm.

Nông Minh Biện

Đăng bởi

Tết của người Mông ở Mèo Vạc, Hà Giang .

Các cô gái, chàng trai trong những bộ trang phục rự rỡ đón Tết

Tết của người Mông ở xã Cán Chu Phìn của  huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang đến sớm hơn Tết nguyên đán khoảng 1 tháng. Người Mông đón Tết từ ngày 26/11 âm lịch và kéo dài trong 10 ngày. Thời gian này, người Mông không đi nương mà cùng nhau vui văn nghệ hát, múa, ném còn, hát đối giao duyên. Trong không khí rộn rã của tiếng khèn, tiếng chiêng, từng đoàn người, từ các cụ già đến các em nhỏ xúng xính trong những bộ áo, váy mới đi chơi Tết.


Những ngày cuối năm, ở xã Cán Chu Phìn, các gia đình người Mông tất bật chuẩn bị đón Tết của dân tộc mình. Cả năm làm ăn vất vả, vật lộn mưu sinh, Tết đến, người Mông dành hẳn 10 ngày để nghỉ ngơi.  Gia đình phải chuẩn bị từ 10 ngày trước. Từ ngày 20 tháng 11 âm lịch phải chuẩn bị rau cho bò, lợn, củi đun. Còn trước Tết một tuần thì đi chợ mua quà, quần áo mới. vì ngày Tết cả trẻ con và thanh niên trai gái khi đi chơi đều mặc quần áo mới của dân tộc mình”.

Không khí Tết rộn ràng nhất là ở chợ phiên cuối tuần. Chợ phiên vốn đã đông  nhưng đến với phiên chợ giáp Tết thì kẻ mua, người bán đổ về dường như không còn chỗ chen chân. Tất cả các quầy hàng đều chật kín người. Các món hàng được người Mông mua nhiều như quần áo, thịt lợn, mắm, muối, đường, vàng hương. Họ quan niệm cả năm có tiết kiệm thì Tết đến cũng phải sắm sửa đầy đủ mọi thứ dù là ít để làm lễ cúng mời tổ tiên. Tết thì trong gia đình mỗi người phải có quần áo mới. Vì vậy chờ đến phiên chợ giáp Tết, các bà, các mẹ mới tranh thủ sắm quần áo cho các thành viên trong gia đình. Số lượng hàng bán trong phiên giáp Tết thường phải gấp đôi phiên chợ thường. Trung bình một người mua 1 đến 2 bộ để mặc ngày Tết. Bà con mặc đẹp và rực rỡ, và luôn sắm cái mới. Dịp Tết mua nhiều hơn ngày thường vì lúc đó mới dành tiền để đi mua. Họ phải thử đi thử lại vừa và đẹp mới mua. Mẫu thay đổi, cứ có vải gì mới thì mang ra bán” – anh Tú nói.
Những mặt hàng cần thiết để dùng trong 10 ngày Tết đã được mang về nhà, lúc này mỗi gia đình tập trung dọn dẹp nhà cửa, vườn tược sạch sẽ. Đồ dùng trong nhà được lau chùi, sắp xếp ngăn nắp. Theo phong tục của dân tộc Mông, không chỉ có con người được nghỉ Tết mà các đồ vật phục vụ lao động, sinh hoạt cũng được nghỉ bằng cách được niêm phong. Đồ dùng như cày cuốc, dao, xẻng cũng được nghỉ vì nó đã giúp mình làm việc trong một năm rồi nên Tết cũng được nghỉ. Tôn trọng đồ đã lao động chung tay với con người,tất cả những thứ liên quan tới con người vào tối 30 đều được dán giấy. Cả xe máy cũng dán, những đồ cùng mình đi lao động trong một năm qua. 
Tết của người Mông, có ba món không thể thiếu là thịt, rượu và bánh ngô. Đêm 30 Tết, nhà nào cũng làm lễ cúng tổ tiên bằng một con lợn, một con gà trống còn sống để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cầu cho các thành viên trong gia đình khỏe mạnh, ai cũng đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Sáng sớm mùng 1 Tết, việc làm đầu tiên của người Mông là ra chuồng bò, lợn, gà gọi linh hồn của chúng về ăn Tết cùng với gia đình. Thức ăn cho các con vật trong nhà đều được làm mới như râu cho bò thì sáng ra mới thái, cám cho lợn thì cũng vừa nấu xong. Năm cũ qua đi năm mới đã về, trân trọng kính mời linh hồn của những con bò, trâu, gà, lợn mà đang đi lạc ở đâu đó xa xôi thì về ăn bữa cơm mới, bữa thức ăn mới đầu tiên thì phải  thái mới từ sáng chứ không thái từ hôm tước. con lợn thì ăn cám nấu mới, con gà về chuồng ăn chung thức ăn mới của ngày Tết
Người Mông rất hiếu khách. Họ quan niệm ngày Tết mà có nhiều anh em, bạn bè đến cùng ăn Tết và chúc nhau những điều tốt đẹp là năm đó gia chủ làm ăn sẽ có thêm nhiều tài lộc. Tết cũng là dịp để các chàng trai, cô gái người Mông có cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu và cũng từ đây nhiều đôi đã nên vợ thành chồng. 


Đăng bởi

Hát xoan Phú Thọ" – Âm vang dân tộc Việt (Đặng Ngọc Tân)

Hát Xoan là di sản văn hóa độc đáo của nhân dân Phú Thọ, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa cổ gắn với tín ngưỡng thờ cúng Tổ Hùng Vương.
Ngày 24/11/2013, Hát Xoan Phú Thọ chính thức được Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.


Làn điệu Hát Xoan “Bỏ Bộ – Mó Cá” được các nghệ nhân trẻ thể hiện.
Tục truyền, hát Xoan có nguồn gốc từ lễ hội thời Hùng Vương, các phường hát Xoan cổ đều nằm trên địa bàn trung tâm của nước Văn Lang thời Hùng Vương dựng nước. 
Đây là loại hình dân ca dân gian được lưu truyền dưới hình thức truyền khẩu. Đến nay, hát Xoan đã phát triển mạnh mẽ và có tiếng vang lớn trong nền âm nhạc nước nhà. 

Hát Xoan được trình diễn với 3 chặng: hát Thờ, hát Quả cách và hát Giao duyên. Ngày nay, hát Giao duyên của Xoan khiến những người nghệ sĩ như được trải qua hành trình từ “đạo” đến “đời”, càng về cuối càng hấp dẫn và háo hức…

Trải qua ngàn đời dưới những biến thiên của lịch sử, hát Xoan vẫn hiện diện, tiềm tàng sức sống mãnh liệt và ẩn chứa những giá trị văn hóa đặc sặc, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt. Với những đặc trưng về tín ngưỡng, âm nhạc, nghệ thuật trình diễn, hát Xoan vừa là sản phẩm, vừa là hiện tượng văn hóa dân gian mang dấu ấn đặc trưng của vùng Đất Tổ. 


 Đặng Ngọc Tân
Đăng bởi

Dẻo thơm xôi ngũ sắc người Tày

Xôi ngũ sắc là món ăn quan trọng không thể thiếu của dân tộc Tày trong các dịp lễ tết, hội hè…
Những nét đặc sắc về văn hóa của người Tày không những được thể hiện trong các hội làng, những điệu ca hát đối đáp, hát ví, hát then mà còn trong cả những nét văn hoá ẩm thực. Và xôi ngũ sắc là một sản phẩm đặc trưng của người Tày.

Xôi ngũ sắc là món ăn quan trọng không thể thiếu của dân tộc Tày trong các dịp lễ tết, hội hè… Mỗi đĩa xôi ngũ sắc mời khách trong những ngày lễ, tết là cả tấm lòng mến khách chân thành, chứa đựng biết bao giọt mồ hôi và công sức của chủ nhà, và còn là những ước mơ về hạnh phúc, khát vọng ngàn đời no đủ, mong ước mưa thuận gió hòa để mùa màng tốt tươi.
Xôi thường có 5 màu nên người ta gọi chung là “xôi ngũ sắc”. Điểm đặc biệt của món xôi này là màu sắc độc đáo. Những hạt xôi thơm dẻo được đồ bằng gạo nếp cái hoa vàng. Màu xôi đẹp tự nhiên và hấp dẫn, với 5 màu chính là trắng, đỏ, xanh, tím, vàng. Trắng là màu nguyên của gạo, các màu còn lại được tạo nên bằng cách ngâm gạo với nước của các loại lá và củ cây rừng. Để xôi có màu đỏ, màu tím, bà con lấy lá cây “Bẩu khẩu đăm đeng” (lá cây đỏ đen) giã nhỏ, hoà với nước đun sôi rồi lấy nước để ngâm gạo. Sau 5-6 tiếng, vớt gạo ra cho vào chõ đồ chín, cơm xôi sẽ có màu đỏ hoặc tím rất đẹp.
Tiếp đến, xôi có màu vàng chính là nhờ nghệ. Người Tày lấy 2 -3 củ nghệ tươi đem giã cho nhỏ mịn, đem hòa nước để ngâm gạo rồi đồ chín. Cuối cùng là xôi màu xanh. Khác với những dân tộc khác, bà con dân tộc Tày thôn Lèn, xã Việt Lâm (huyện Vị Xuyên, Hà Giang) dùng những nguyên liệu như lá cây và rơm nếp để tạo màu xanh cho xôi. Các bà, các chị chỉ cần lấy một nắm lá đỏ đen, giã nhỏ với ít tro rơm nếp rồi hòa nước để ngâm gạo, khi xôi chín sẽ có màu xanh đậm trông rất lạ mắt.
Theo quan niệm của người xưa, xôi ngũ sắc tượng trưng cho ngũ hành. Người ta quan niệm rằng sự tồn tại của ngũ hành làm nên sự tươi tốt của Thiên – Địa – Nhân. Với người Tày, những ai ăn xôi ngũ sắc trong các ngày lễ, tết thì họ sẽ gặp nhiều điều may mắn, tốt lành.
Xôi ngũ sắc cũng chính là niềm tự hào của chị em phụ nữ dân tộc Tày, bởi nó thể hiện sự khéo léo, đảm đang của họ. Xôi 5 màu được chế biến từ những nguyên liệu thiên nhiên nên ăn rất ngon và bổ dưỡng.

Đăng bởi

Gà nấu canh gừng – Món ăn dân tộc Tày ở Lào Cai (Hoàng Thị Lân)


Lào Cai là một tỉnh trung du miền núi phía Tây Bắc có 16 dân tộc với 23 nhóm ngành dân tộc, đã tạo cho Lào Cai sự phong phú về sắc thái văn hoá của một tỉnh biên cương. Trong các dân tộc anh em sinh sống ở Lào Cai, người dân tộc Tày có lịch sử cư trú lâu đời và phân bố rải rác ở các huyện trong tỉnh như: Sa Pa, Bảo Yên, Văn Bàn….

Cùng với quá trình phát triển của lịch sử và dân tộc đã hình thành nên nhiều phong tục, tập quán, những nét văn hoá riêng biệt so với các dân tộc khác, trong đó văn hoá ẩm thực là điển hình. Các món ăn của người dân tộc Tày rất phong phú và đặc sắc, đặc trưng của dân tộc như các món: vịt lam, cơm lam, thịt trâu sấy, nộm thịt nạc, nộm hoa chuối… Món ăn mà chúng tôi muốn giới thiệu và viết bài đó là món gà nấu canh gừng của người dân tộc Tày.

Gà nấu canh gừng theo tiếng Tày gọi là “cáy keng ké”. (Cáy là gà, keng là canh và ké là gừng). Đây là món ăn rất được người Tày ở Bảo Yên coi trọng và được nấu thường xuyên trong các dịp tiếp khách quý hoặc trong nhà có người ốm và cũng là món ăn phổ biến của họ trong những ngày đông giá.
Tác dụng của món ăn:
Trong đời sống hàng ngày của người dân tộc Tày ở Bảo Yên, vào những ngày đông giá, với họ món canh gà nấu gừng trở nên rất phổ biến trong các gia đình. Bởi vì về mặt y học món canh gà gừng rất có tác dụng đối với mọi người, từ người già, người trẻ, người khoẻ và người ốm… đều có thể ăn được món ăn này. Gừng có tính vị cay, tính ấn, chữa cảm mạo, phong hàn, nhức đầu, nghẹt mũi, do đờm, nôn mửa, kích thích tiêu hoá, giải độc… chính vì thế các món ăn chế biến với gừng thường xuyên góp mặt trong các bữa ăn của họ điển hình nhhư món canh gà gừng. Thịt gà có tính ấm, không độc, dễ hấp thụ rất tốt cho người bệnh trị phong thấp, bổ ngũ lão, liền xương, an thai, tê bại… Nhất là đối với các gia đình có người ốm, họ thường nấu món này để bồi bổ cho mau lai sức với các lý do: Thứ nhất, món ăn này có mùi vị rất hấp dẫn khiến cho người ốm ăn cảm thấy ngon miệng và ăn được nhiều và như vậy đã tiếp thêm ca lo cho cơ thể, nhờ vậy người ốm có thể mau khoẻ lại. Thứ hai, gừng trong món ăn có tác dụng giải cảm, giải nhiệt ăn vào sẽ cảm thấy nhẹ người và sảng khoái hơn rất nhiều.
Nguyên liệu chế biến:
Để nấu món gà canh gừng cho khoảng 6 người ăn phải chuẩn bị những loại nguyên liệu gồm có:
–    1 con gà khoảng 1,2 kg
–    0,5 lạng gừng
–    1 nhúm lá kiệu
–    20 lá mùi tàu
–    4-5 hạt dổi (hoặc hạt tiêu) 
Cách chọn và tác dụng của mỗi loại nguyên liệu: 
Gà phải chọn loại gà dò (gà trống mới biết đạp mái, gà mái bắt đầu nhảy ổ). Bởi vì nếu chọn những con gà trống già và gà mái già thì khi ăn miếng thịt sẽ thô, dai và ăn không ngon.
Lá kiệu: Chọn ngững lá bánh tẻ (nếu chọn lá non quá khi nấu món canh sẽ chua còn lá già thì lại dai). Nếu không có lá kiệu có thể dùng bằng lá hành củ (hành hoa), nhưng món ăn sẽ ngậy mùi của vị hành không ngon như lá kiệu, bởi vậy tốt nhất là dùng bằng lá kiệu để đảm bảo mùi vị của món ăn.
Gừng không nên chọn củ non quá, gừng vừa làm cho món ăn có mùi thơm ngon lại có vị cay nóng trong khi ăn.
Hạt dổi làm cho món ăn có mùi thơm và hấp dẫn người ăn hơn. Trong khi nấu nếu không có hạt dổi có thể thay thế bằng hạt tiêu, nhưng hạt tiêu chỉ dùng trong trường hợp không thể kiếm được hạt dổi vì chỉ có hạt dổi mới đem đến cho món ăn có thơm ngon theo đúng mùi vị của món ăn.
Nếu thiếu một trong những thứ trên sẽ ảnh hưởng đến mùi vị thơm ngon của món ăn và sức hấp dẫn của canh gà gừng đối với người ăn sẽ bị giảm đi.
Cách chế biến:
Gà cắt tiết, làm sạch lông, mổ moi nội tạng rửa sạch rồi chặt thành những miếng nhỏ vừa phải (miếng nhỏ hơn khi chặt để rang), nội tạng làm sạch. Trong khi cắt tiết gà lấy 2/3 bát nước rồi cắt tiết vào đó để khi cho vào nấu canh sẽ tạo cho màu nước canh hơi nâu nâu có sức hấp dẫn đối với người ăn hơn.
Gừng thái thành lát mỏng, nhúm lá kiệu thái nhỏ thành từng đoạn 1cm, lá mùi tàu thái nhỏ cho vào một cái âu hoặc cái bát to sau đó cho thịt gà đã được chặt nhỏ vào. Cho 1 thìa cà phê muối, thêm một lượng nước mắm vừa đủ để dậy mùi thơm của nước mắm (lưu ý không cho nhiều quá sẽ đặm mặn làm cho món canh mất ngon). Hạt dổi cho vào một cái bát, gắp mấy viên than củi đỏ cho vào, cầm bát lắc đều, lắc đến khi nào có mùi thơm của hạt dổi là được, sau đó say nhỏ (cối say hạt tiêu, hạt rổi) rắc vào âu thịt.
Sau khi cho đầy đủ các thứ vào âu, dùng tay bóp đều để cho các gia vị thẩm thấm đều vào các miếng thịt gà. Bóp trộn đều xong có thể cho vào nấu luôn hoặc để một lúc khoảng 5 phút thì càng tốt.
Cách nấu món canh gà gừng:
Đối với người dân tộc Tày, từ xa xưa việc đun nấu các món ăn đều dùng bằng bếp củi. Cho đến ngày nay khi điều kiện kinh tế của các gia đình đẫ khá hơn trước rất nhiều, có rất nhiều nhà đun nấu bằng bếp ga, bếp điện… nhưng đun nấu bếp củi vẫn đem đến cho món ăn ngon hơn.
Trước tiên đặt nồi lên bếp củi để cho khô ráo hết nước, cho vào khoảng 3 – 4 thìa cà phê mỡ, phi cho mỡ thật nóng già rồi cho món thịt gà đã được ướp gia vị, gia giảm đầy đủ vào và đảo thật đều tay sau đó lấy vung nồi úp lại để khoảng 2- 4  phút thì mở vung ra. Khi thấy miếng thịt gà hơi xoăn lại thì đổ nước lã hoặc nước đun sôi để nguội vào (lưu ý để miếng thịt hơi xoăn, đổ nước vào không nên để miếng thịt xoăn quá sẽ làm cho thịt gà săn cứng lại hoặc nếu cho nước vào sớm quá miếng thịt gà sẽ bị nhớt). Lượng nước cho vào nấu canh tuỳ thuộc vào số người ăn, để cho khoảng 6 người ăn cho khoảng 1,5 bát tô nước. Cho càng ít nước thì món canh càng đậm đặc còn nếu cho món canh loãng sẽ giảm đi chất lượng thơm ngon của món canh gà gừng.
Sau khi cho nước vào, đun sôi, nước bắt đầu sôi đều thì cho lá kiệu đã thái nhỏ vào, đảo đều và đậy vung lại khoảng 2-3 phút bắt nồi canh xuống. Để thử  xem món canh đã đạt yêu cầu chưa? Với họ thường dùng đôi đũa đảo nồi canh rồi nếm thử xem độ mặn nhạt ra sao để còn xử lý (với người thích ăn canh đắng thì lấy bột lá đắng sấy khô tán nhỏ thành bột cho vào đảo đều món ăn sẽ chuyển sang vị đắng). Về mùa hè người Tày ở bảo Yên thường cho thêm bột đắng vào rất hợp bởi vì khi thưởng thức người ăn sẽ cảm thấy sảng khoái và nhẹ người rất nhiều.
Yêu cầu đối với món ăn này, khi nấu gắp miếng thịt ra thấy ở trong ống xương tuỷ còn hơi hồng hồng là đạt yêu cầu, ăn sẽ rất ngon, miếng thịt không bị nhão.
Cách lưu truyền món ăn: 
Trong cộng đồng người Tày ở Bảo Yên, món canh gà gừng đã trở nên phổ biến trong các gia đình vào mùa đông giá lạnh và khi tiếp khách quý đến nhà. Bởi vậy món ăn này đã được họ truyền dạy sâu rộng trong mỗi dòng họ, mỗi gia đình, không ngoại trừ con gái hay con trai đều có thể nấu được món ăn ngon này.

 Hoàng Thị Lân
Đăng bởi

9 Trải Nghiệm Nên Thử Ở Hà Giang

Đến Hà Giang mùa này, không chỉ ngắm tam giác mạch hay đắm mình giữa khung cảnh đất trời rộng mở ở Mã Pì Lèng, bạn vẫn còn rất nhiều trải nghiệm khác đang chờ bạn khám phá nơi miền cao nguyên đá.
Hà Giang là một điểm đến với nét đẹp vừa hoang sơ vừa hùng vĩ luôn có sức hút với dân du lịch khắp Việt Nam.

1. Đến vào mùa hoa
Vào mùa hoa, cao nguyên đá được tô điểm thêm những sắc màu tươi mới. Màu tím của hoa tam giác mạch, màu hồng của hoa đào, màu trắng hoa mận, hoa lê. Mùa tam giác mạch kéo dài từ cuối tháng 9 tới đầu tháng 12. Mùa hoa mận, hoa đào, hoa lê nở rộ vào sau tết Nguyên đán.
 Tháng 10 bắt đầu cũng là thời điểm nở rộ của hoa tam giác mạch
2. Đặt chân đến địa đầu của Tổ quốc
Đến Hà Giang, bạn không nên bỏ qua Lũng Cú, điểm cực Bắc của Tổ quốc. Đứng trên cột cờ Lũng Cú, nhìn lá cờ Tổ quốc phấp phới bay trong gió, tận mắt thấy điểm đầu tiên đặt nét bút vẽ nên bản đồ hình chữ S là lúc lòng tự hào dân tộc và tình yêu quê hương đất nước dâng tràn.
3. Trải nghiệm cuộc sống người H’Mông
Người H’Mông nổi tiếng hiếu khách và chiếm đa phần dân số ở Hà Giang. Bạn sẽ có nhiều cơ hội để trải nghiệm cuộc sống trong một gia đình người H’Mông. Ở trong nhà, ăn cơm, ngủ nghỉ và trò chuyện cùng người H’Mông là một trải nghiệm văn hóa bạn sẽ không bao giờ quên.
4. Ném đá chạm vách núi trên đèo Thẩm Mã
Ở Hà Giang có một vách núi đá cao nằm ngay trên đèo Thẩm Mã, người ta vẫn thách đố xem ai ném đá chạm được vào thành của vách núi. Nhìn thì rất gần, nhưng ném thế nào đá cũng chỉ bay đến nửa đường là rơi xuống vực sâu. Nếu bạn có dịp đi qua, nhớ thử xem mình có ném được không nhé!
Vách núi đá trên đèo Thẩm Mã
5. Thưởng thức rượu ngô và các món ăn đặc sản Hà Giang
Rượu ngô Hà Giang nặng nhưng thơm. Ăn một bát cháo ấu tẩu, hay thắng cố và uống chén rượu ngô ấm nồng trong những ngày cuối thu se lạnh ở cao nguyên đá thì thật tuyệt vời.
6. Bay trên Mã Pì Lèng
Mã Pì Lèng được mệnh danh là vua của những con đèo ở miền Bắc. Không phải bởi khó đi, mà bởi cảnh quan hùng vỹ và câu chuyện thanh niên cảm tử phá đá mở đường trên con đèo hiểm trở này. Đứng trên đỉnh Mã Pì Lèng, dang rộng cánh tay đón gió, cảm giác như đang bay lơ lửng trên bầu trời. Mã Pì Lèng luôn lôi cuốn những người trẻ đầy say mê bởi vẻ đẹp của đất trời và cảnh vật có sông có núi, hùng vĩ và hòa quyện với nhau.
Mã Pì Lèng – điểm dừng chân ưa thích của dân du lịch ở Hà Giang

7. Đi hết con đường Hạnh Phúc
Đường Hạnh Phúc bắt đầu từ Hà Giang, chạy xuyên qua cao nguyên đá Đồng Văn, đỉnh Mã Pì Lèng tới Mèo Vạc. Dài gần 200 km, con đường này là máu xương, là huyền thoại về sức trẻ của thanh niên từ 16 dân tộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Nam Định và Hải Dương. 8 năm, hơn 2 triệu ngày công, 1.000 thanh niên xung phong, 1.200 dân công, 9 triệu tấn thuốc nổ và biết bao công sức đã đổ xuống để mở ra con đường này. Đi trên con đường không chỉ để thưởng ngoạn cảnh đẹp, mà còn để tri ân những người đã nằm xuống cho từng lối ta đi.

8. Chinh phục đèo, dốc ở Hà Giang
Hà Giang nổi tiếng với những con đèo, dốc hiểm trở. Những dốc Bắc Sum, Cổng Trời, Thẩm Mã, Chín Khoanh, Mã Pì Lèng… thử thách người đi là thế, nhưng đổi lại bạn sẽ được đền đáp bằng cảnh đẹp mê hồn khi đứng ngắm trên đỉnh đèo.

9. Đi phiên chợ vùng cao
Nếu là người thích khám phá và tìm hiểu những nét đẹp văn hóa vùng cao, bạn nên đi chợ phiên vùng cao ở Hà Giang. Đến chợ phiên để ngắm nhìn những người dân tộc áo quần tươm tất, háo hức bán mua. Hay chỉ đơn giản là đi chợ để ăn cái kẹo, uống chén rượu ngô. Các phiên chợ thường diễn ra vào sáng thứ bảy và chủ nhật hàng tuần (trừ một số phiên chợ đặc biệt như chợ tình Khau Vai chỉ tổ chức một lần duy nhất trong năm).
Chợ tình Khâu Vai

Đăng bởi

Tục vỗ mông chọn bạn đời của người dân tộc Mông ở Hà Giang.

Dân tộc Mông ở Hà Giang có rất nhiều phong tục độc đáo trong hôn nhân nhưng đặc sắc nhất vẫn là tục vỗ mông chọn bạn đời.
Vỗ mông để chọn bạn đời là một phong tục độc đáo của người Mông ở Hà Giang.
Vỗ mông để chọn bạn đời là một phong tục đã có từ xa xưa của đồng bào dân tộc Mông ở Hà Giang. Thông thường, việc vỗ mông để chọn bạn đời chỉ diễn ra vào những ngày đầu xuân năm mới.

Các chàng trai cô gái người Mông vừa chơi vừa tặng cho nhau những lời chúc may mắn, mời nhau những chén rượu ngô ấm nồng và đưa mắt tìm kiếm đối tượng cho riêng mình. Người con trai sẽ dùng ánh mắt của mình để “phát tín hiệu”. Nếu ưng thuận, cô gái sẽ đưa mắt liếc lại. Cả hai sẽ cùng “tán nhau” qua ánh mắt suốt cả buổi chơi. Khi men rượu đã say, men tình đã ngấm, sơn nữ rời khỏi đám bạn đi ra một chỗ vắng và liếc mắt nhìn người đàn ông mà mình đã ưng như mời gọi. Chỉ chờ có thế, chàng trai nhanh chóng tiếp cận, vỗ nhẹ vào mông cô gái và trao lời ong bướm, thiếu nữ thẹn thùng vỗ lại vào mông chàng trai rồi e lệ đáp lời đường mật…Trước sự chứng kiến của nhiều người xung quanh, đôi trai gái nắm nay nhau lên núi tìm chỗ tâm sự, trao gửi những lời yêu thương, hứa hẹn mặn nồng. Cách tỏ tình của các chàng trai dân tộc Mông chỉ nhẹ nhàng, mộc mạc thế thôi nhưng cũng không kém phần lãng mạn và ý nghĩa.


Theo các bậc bô lão trong làng kể lại, trò vỗ mông chọn bạn đời vô cùng độc đáo chỉ có trong đời sống của đồng bào dân tộc Mông. Thực ra các đôi nam nữ nên duyên không phải do vô tình tìm được nhau mà thường đã có sự tìm hiểu từ trước. Tham gia trò vỗ mông trong ngày đầu xuân chỉ là cơ hội để hai người tìm gặp lại nhau, lúc này chàng trai có dịp thể hiện tình cảm và bản lĩnh của mình với người con gái mà mình muốn gắn bó trọn đời trước sự chứng kiến của những người xung quanh. Theo phong tục, đôi nam nữ phải vỗ mông nhau đủ 9 lần mới hợp lệ và lời tỏ tỉnh mới chính thức được công nhận, chỉ chờ người mai mối là có thể tổ chức cưới hỏi, chính thức thành vợ thành chồng.
Thông thường, đàn ông người Mông chọn vợ ngoài việc biết thêu thùa, dệt vải còn phải có dáng người to khỏe, bắp chân săn vồng lên trong cạp bít tất, đôi mông to mẩy. Theo quan niệm truyền thống, các cô gái như vậy vừa chăm chỉ làm nương rẫy, vừa mắn đẻ và khéo nuôi con.
Dân tộc Mông ở Hà Giang có rất nhiều phong tục truyền thống nhưng đặc sắc nhất vẫn là tục vỗ mông chọn bạn đời. Đây không chỉ là một cách tỏ tình độc đáo của các chàng trai, cô gái miền sơn cước mà còn là nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc cần được duy trì và phát huy.

Đăng bởi

Bí ẩn dòng họ Ma – Dòng họ lâu đời nhất Việt Nam?

Thanh đao của dòng họ Ma (trái) và biển hiệu đền Trù Mật.

Tộc trưởng dòng họ Ma ở Phú Thọ cho rằng dòng họ mình đã có từ thời vua Hùng, là dòng họ lâu đời nhất Việt Nam, có nhiều công lao dựng nước và giữ nước nổi bật trong dòng họ là Ma Tộc Thần Tướng – Ma Xuân Trường.

Thời điểm hiện tại, dòng họ Ma là dòng họ duy nhất tại Việt Nam còn lưu giữ được Ngọc Phả chứng minh cụ tổ của dòng tộc mình đã được sinh ra từ thời Hùng Vương, có công giúp vua Hùng dựng nước và giữ nước.
Dòng họ đã có 79 đời
Ông Ma Ngọc Bảo, tộc trưởng thứ 77 của dòng họ Ma tự hào chia sẻ: “Nếu đến năm 2015 mà dòng họ Nguyễn và dòng họ Cao không tìm được thấy ngọc phả của mình, thì dòng họ Ma sẽ được ghi nhận là dòng họ lâu đời nhất Việt Nam
Ông Bảo năm nay đã ngoài 70 tuổi chia sẻ cuốn gia phả của dòng họ kéo dài hàng nghìn năm đã chuyển thành chữ quốc ngữ. Ông là tộc trưởng đời thứ 77 của dòng họ, tộc trưởng đầu tiên là ông tổ Ma Khê, mất năm 259 trước công nguyên thọ 95 tuổi. Người trẻ nhất trong gia phả là cháu đích tôn của ông Bảo: Ma Tân Thành, năm nay 7 tuổi, thuộc về đời thứ 79.
Ông Bảo cho biết: “Trong mười tám chi họ Hùng tồn tại ở Việt Nam với gần chín mươi đời vua thì cụ tổ Ma Khê của dòng họ là con Hùng Nghị Vương thứ ba năm 354 trước Công nguyên, thuộc đời Hùng Vương thứ 17. Họ Ma là người dân tộc Tày, định cư chủ yếu ở vùng núi Đọi, ven sông Thao, nay thuộc đất Cẩm Khê, Phú Thọ. Cụ tổ Ma Khê là người tài đức song toàn, từ nhỏ đã bộc lộ nhiều khả năng xuất chúng. Năm 18 tuổi, ông đã thay cha giữ chức tộc trưởng đứng đầu bộ tộc Tày núi Đọi. Đến đời Hùng Vương thứ 18, gặp lúc trong nước có giặc, ông đã mang dân binh Ma tộc về giúp vua Hùng đánh giặc, lập nên nhiều chiến công lớn, được Hùng Duệ Vương yêu mến và phong chức Đại tướng quân. Sau đó, ông được giao nhiệm vụ trấn thủ đất Phong Châu, đóng quân ở ngã ba sông Bạch Hạc. Với nhiều công lao to lớn, Ma Khê được Hùng Duệ Vương thứ hai phong cho đến chức Phụ Quốc Ma Vương Đại Thần, Đại Tướng Quân và triệu về triều đình giúp vua trị nước an dân.
Đền thờ Trù Mật ở thị xã Phú Thọ (tỉnh Phú Thọ) thờ tộc trưởng thứ 43 của dòng họ Ma 
Nhân dân bộ tộc núi Đọi rất tự hào về ông và dần dần người ta tự đổi tên vùng đất mình sống thành đất Ma Khê. Bất cứ ai, đi đến đâu chỉ cần nói là người vùng Ma Khê thì thiên hạ cúi đầu nể phục. Trải qua hàng nghìn năm, vùng đất này được mở rộng và thành tên Ma Khê. Đến thời đất nước chia nhiều quận huyện thì gọi là huyện Ma Khê, có triều đại đổi thành huyện Hoa Khê, và cuối cùng là cái tên Cẩm Khê như ngày nay.”
Cụ tổ Ma Khê là một trong bốn vị tướng quốc nổi tiếng thời đại Hùng Duệ Vương. Ba vị còn lại bao gồm Cao Sơn, Quý Minh và Nguyễn Tuấn. Tuy nhiên, do dòng họ Nguyễn và dòng họ Cao chưa tìm thấy ngọc phả của mình nên trên danh nghĩa thì dòng họ Ma vẫn được ghi nhận là dòng họ lâu đời nhất Việt Nam cho đến nay.
Dòng họ duy nhất còn giữ ngọc phả từ thời Hùng Vương
Cụ Ma Văn Thực (1917-2004), thân sinh của ông Bảo, vừa theo Hán học, vừa theo Tây học, là người được cha mình là cụ Ma Văn Thị (1878-1950) giao cho giữ tộc phả và hàng năm lo việc cúng tế giỗ chạp tổ tiên.
Ông Ma Ngọc Bảo tiếp tục chia sẻ: “Thời chiến tranh, các bản gốc của gia phả bị hủy hoại hoặc thất lạc. Nhưng cha tôi đã kịp chuyển thành chữ quốc ngữ” . Sau này ông Bảo sao ra nhiều bản để gửi cho các chi nhánh dòng họ Ma ở Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang…
Có rất nhiều điều mang tính truyền thuyết xung quanh cuốn gia phả dòng họ này, nhưng có những dấu tích vẫn nằm trong dư địa chí miền trung du Phú Thọ. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Phú Thọ, Nguyễn Hữu Nhàn cho biết: “Truyền thuyết về dòng họ Ma gắn liền với thời Hùng Vương thứ 18, đồng thời cũng gắn liền với những ngôi đền thờ, tên núi, tên sông nay vẫn còn tại tỉnh Phú Thọ. Đó là đền Kim Giao thờ ông Ma Khê, tại xã Văn Khúc, huyện Cẩm Khê. Tương truyền bộ tộc người Tày họ Ma dưới chân núi Đọi Đèn ở đây đã triệu tập binh mã giúp Hùng Vương đánh thắng giặc, giữ yên bờ cõi cho nước Văn Lang”.
Thời điểm ấy, họ Ma xây thành trì của riêng mình, lấy tên là Ma Thành, nhưng để tránh từ “ma” trong tiếng người Việt nên gọi là thành Mè. Hiện nay ở  Phú Thọ vẫn còn những dấu tích có tên chợ Mè, bến (sông) Mè…
Theo lời kể trong Ngọc Phả dòng họ Ma, kể từ sau đời cụ tổ Ma Khê, họ Ma lui về ẩn dật, làm ruộng. Mãi cho đến đời thứ 43, một người con của dòng họ là Ma Xuân Trường (930-966) đã đi vào sử sách nước nhà. Thời điểm đó là thời nhà Ngô tan rã, đất nước rơi vào loạn 12 sứ quân. Vùng phía Bắc do một người là Kiều Thuận cai quản với một vị tướng dưới quyền là Ma Xuân Trường.
Trong cuộc chiến 12 sứ quân, Ma Xuân Trường có công giải cứu Kiều Thuận khi đã bị thương. Sau đó Ma Xuân Trường đưa cả họ tộc chạy lên Tuần Quán, Yên Bái thì qua đời tại đây, thọ 36 tuổi. Hiện ở Tuần Quán vẫn còn miếu thờ ông.
Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên làm vua, lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng. Ông đã không trị tội Kiều Thuận, mà để an dân, ông còn phong danh hiệu “Trung quân ái quốc”, và ban cho dân lập đền thờ.
Ngôi đền ấy giờ đây nằm bình yên, nép bóng bên con đường làng xanh tươi ở làng Trù Mật, thị xã Phú Thọ. Ngôi đền gắn liền với lch s  Phú Th được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia này được xây dựng năm 970 và nay đã được trùng tu nhiều lần. Nơi đây thờ “Cương nghị đại vương” Kiều Thuận và “ Ma tộc thần tướng” Ma Xuân Trường.


Những câu chuyện về ông tổ Ma Khê và dòng họ lâu đời nhất Việt Nam có từ thời vua Hùng thuộc về dạng truyền thuyết mà nhà sử học Đào Duy Anh gọi là “truyền thuyết khuyết sử”, nhưng lại trở nên rất thiêng liêng, là niềm tự hào của con cháu dòng họ Ma bây giờ.
Tuy nhiên, nhiều người đã thay đổi họ của mình, ông Bảo chia sẻ:  “Hiện nay, tồn tại một sự việc đáng buồn, đó là: Nhiều người thuộc dòng họ Ma, nhưng do các cụ sinh sống trước đây hiểu biết còn hạn chế đã nghĩ rằng họ Ma là xấu, là xui xẻo nên đã đổi thành họ Mai… Tuy nhiên, lịch sử một dòng họ vẫn còn đầy đủ ngọc phả chứng nhận đã có từ thời Hùng Vương là một niềm tự hào. Mỗi người dòng họ Ma trên đất nước Việt Nam hãy đừng quay lưng với chính niềm tự hào của mình
Tuy nhiên, những người họ Ma – dòng họ lâu đời nhất Việt Nam vẫn rất đông và sinh sống khắp cả nước, ông Bảo cho biết thêm: “Vì dòng họ Ma rất đông, sinh sống ở khắp nơi nên năm 1902 các cụ đã họp lại, chia nhỏ thành ba nhóm cho tiện bề sinh hoạt cúng tế tổ tiên. Nhóm trưởng giữ ngọc phả của dòng họ, nhóm thứ hai giữ thanh đao thờ, còn nhóm thứ ba giữ ngựa gỗ thờ của tổ”.
Con ngựa gỗ giờ đã thất lạc, nhưng thanh đao sắt thì vẫn còn ở đn Trù Mt, nơi con cháu dòng họ Ma hàng năm vẫn tụ hội về đây để tưởng nhớ cha ông.
 Trần Vinh Chí

Đăng bởi Để lại phản hồi

Ngày Tết Thanh Minh Của Đồng Bào Các Dân Tộc Bắc Kạn

Ngày tết Thanh Minh của đồng bào các dân tộc Bắc Kạn
Tuy rằng có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng ở Việt Nam, ngày tết Thanh Minh đã được “Việt hoá”, trở thành một ngày lễ đặc trưng trong văn hóa Việt. Mỗi địa phương, mỗi vùng miền lại có một phong tục đón tết riêng.

Cúng tổ tiên – Ảnh: Sưu tầm
Với đồng bào các dân tộc vùng cao Bắc Kạn, ngày tết Thanh Minh được coi là dịp lễ thiêng liêng, thể hiện lòng thành kính của con cháu với tổ tiên. Vào dịp này, người dân Bắc Kạn có tục đi tảo mộ. Mâm lễ cúng tảo mộ được chuẩn bị chu đáo, gồm có:
Thiếu nữ Bắc Kạn 
Chai rượu, gà, xôi Đăm Đeng (loại xôi nhiều màu sắc, đặc trưng của khu vực miền núi phía Bắc), các loại bánh trái đặc trưng của vùng cao: Bánh trứng kiến, bánh lá ngải, bánh mật, bánh gai…. Tết Thanh Minh là dịp duy nhất trong năm đồng bào dân tộc nơi đây sửa sang, quét dọn mộ phần của gia đình, dòng họ.
Khám phá Bắc kạn – Ảnh: Sưu tầm
Bên cạnh lễ tảo mộ, ngày này, gia đình nào cũng làm một mâm cơm đầy đủ bánh trái, xôi, thịt, hoa quả để cúng gia tiên. Người dân Bắc Kạn dù đi xa cũng cố gắng trở về sum họp, đoàn tụ với gia đình, bên mâm cỗ ngày tết Thanh Minh, để hướng về tổ tiên và cầu mong bình an trong cuộc sống.
Bạn hãy đến và thưởng thức
Ngày tết Thanh Minh – mùng 3 tháng 3 đã được đồng bào dân tộc vùng cao Bắc Kạn gìn giữ và lưu truyền qua bao thế hệ, trở thành một nét đẹp văn hóa không thể phai nhạt cho tới ngày nay.

 Việt Hà
Đăng bởi Để lại phản hồi

Kì lạ tục đặt tên con của người Giáy ở Lào Cai

Ở mỗi dân tộc lại có những phong tục, tập quán riêng đặc trưng cho dân tộc đó đặc biệt là những dân tộc thiểu số. Đối với dân tộc Kinh thì việc đặt tên con rất đơn giản còn đối với dân tộc Giáy thì đặ tên con rất quan trọng và phải làm một nghi lễ độc đáo. Cùng khám phá những điều kì lạ trong tục đặt tên con của người Giáy ở Lào Cai cùng chúng tôi.

Trong cuộc sống, dân tộc Giáy luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho trẻ nhỏ. Mỗi đứa trẻ ra đời mang lại một niềm vui lớn cho dòng họ và sự kỳ vọng ấy thể hiện ở một nghi lễ đặc biệt đậm đà bản sắc: Lễ đặt tên cho trẻ.
Lễ đặt tên cho con của người Giáy thường được tổ chức khi trẻ đã đầy tháng (nếu là con đầu lòng) hoặc chỉ ba ngày sau khi trẻ ra đời (nếu là con thứ).
Tục đặt tên con của người Giáy


Dân tộc Giáy không quá “trọng nam, khinh nữ”, không phân biệt đối xử giữa trẻ trai hay trẻ gái, nhưng là con đầu lòng thì lễ đặt tên thường được tổ chức long trọng hơn đối với con thứ.
Lễ vật gồm có thịt lợn, thịt gà, vịt, hương, hoa, rượu đỏ, một bát gạo và một quả trứng gà sống. Sau khi nấu nướng xong thức ăn và sắp xong lễ vật, trước sự chứng kiến của họ hàng nội ngoại, nghi lễ đặt tên cho trẻ chính thức bắt đầu. Đứa trẻ được ông bà nội hay bác gái bế ra vái trước bàn thờ để trình diện tổ tiên. Khi cúng xong, mọi người đang ăn uống thì chủ nhà chuẩn bị sẵn một khay rượu màu đỏ gồm có 8 chén, một bát to đựng gạo và một quả trứng gà sống đặt trên bát gạo (đầu nhỏ quả trứng ở phía trên), thắp một nén hương rồi bê đến mâm ông nội hoặc cụ ông cao tuổi nhất ngồi để xin đặt tên cho cháu. Ông nội sẽ bốc một nhúm gạo trong bát, nói tên muốn đặt cho trẻ, hỏi chủ nhà và họ hàng nội, ngoại xem có đồng ý không rồi thả nhúm gạo xuống đầu quả trứng. Gạo đậu ở đầu nhỏ quả trứng nhiều thì đồng nghĩa với việc sẽ lấy tên đó đặt cho đứa trẻ. Nếu gạo đậu ít thì sẽ lần lượt chuyển đến cho người khác, mâm khác làm thủ tục đặt tên tương tự. Tên nào hay, được họ hàng đồng ý và gạo đậu trên quả trứng nhiều sẽ được chọn để đặt cho trẻ. Khi đó, mọi người trong mâm nhận rượu đỏ uống và tặng cho trẻ những món quà cùng lời chúc may mắn. Quà cho trẻ có thể là chiếc địu, đôi vòng tay, đồng bạc trắng hoặc tiền mặt, quà bánh… thể hiện sự quan tâm của họ hàng, anh em, hàng xóm tới cháu nhỏ. Cuối cùng, mâm lễ vật được đặt lên bàn thờ tổ tiên để tổ tiên chứng giám cho đứa trẻ từ nay đã có tên gọi theo đúng nguyện vọng của họ hàng nội, ngoại.

>>>>Xem thêm: Tìm hiểu tục kéo vợ của người H’mông ở Sapa
Nghi lễ đặt tên cho con của người Giáy chứa đựng nhiều ý nghĩa thiêng liêng chứ không chỉ là một thủ tục đặt tên gọi cho trẻ bình thường. Khi đứa trẻ đã có tên gọi, nếu là cháu đầu tiên trong họ thì tên của ông bà nội, ngoại và tên của bố mẹ đứa trẻ từ giây phút ấy được gọi theo tên của trẻ. Người Giáy lấy việc được gọi theo tên con, cháu là một niềm tự hào, nên nếu có ai vô tình hay cố ý mà gọi theo tên cũ thì coi như đó là sự xúc phạm. Việc đặt tên cho trẻ phải là do ông bà nội, ngoại hoặc người cao tuổi bên họ nội đặt chứ không phải bố, mẹ đứa trẻ thể hiện sự chuyển giao nối tiếp thế hệ già – trẻ, nền nếp và trật tự trong dòng tộc. Tham khảo thêm tour du lịch Sapa 2 ngày 3 đêm của chúng tôi để khám phá thêm nhiều điều thú vị.
Nghi lễ bế trẻ trình diện tổ tiên chính là sự ra mắt một thế hệ mới và hướng về nguồn cội cha ông. Tên của trẻ cũng không chỉ có ý nghĩa phân biệt người với người mà còn mang trong đó bao hi vọng vào tương lai của thế hệ kế cận và của chính đứa trẻ sau này. Được lớn lên trong vòng tay yêu thương và sự quan tâm của họ hàng, cộng đồng như thế, trẻ sẽ hiểu được những giá trị quý báu của tình cảm gia đình, tình cảm làng xóm để sau này biết giữ gìn và phát huy nét đẹp văn hóa dân tộc mình, lưu truyền đến các thế hệ tiếp theo.
Lễ đặt tên con của người Giáy đã có từ rất lâu đời, tồn tại qua nhiều thế hệ và đến nay vẫn giữ được bản sắc riêng cũng như những ý nghĩa thiêng liêng vốn có. Đây là một phong tục đẹp góp phần làm giàu thêm cho kho tàng văn hóa phong tục của dân tộc Giáy nói riêng và cộng đồng người Việt Nam khu vực Tây Bắc nói chung. Người Giáy ở Lào Cai còn nhiều phong tục độc đáo khác, có cơ hội đến Sapa bạn hãy khám phá thêm nhiều phong tục khác ở Sapa nhé.

 Lý Thị Ninh
Đăng bởi Để lại phản hồi

Lễ Cấp Sắc của dân tộc Dao ở Tuyên Quang

Cấp sắc là một thủ tục không thể thiếu của đàn ông dân tộc Dao. Lễ Cấp sắc cũng tương tự như lễ thành đinh của một số dân tộc khác. Đối với người đàn ông dân tộc Dao được cấp sắc mới được coi là người đàn ông đã trưởng thành, được làm nghề cúng bái và được giao tiếp với cõi âm.

Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, dân tộc Dao có 9 ngành gồm: Dao đỏ, Dao Tiền, Dao Coóc Mùn, Dao Quần Chẹt, Dao Ô Giang, Dao Coóc Ngáng, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao Quần Dài. Phong tục tập quán, nghi lễ của dân tộc Dao là yếu tố quan trọng phản ánh trình độ phát triển tộc người và tạo nên bản sắc văn hóa, đóng góp quan trọng vào kho tàng chung của bản sắc văn hóa các dân tộc ở Tuyên Quang.
Sự ra đời của một con người là một việc lớn, theo tục lệ xưa, thường sau khi sinh 3 ngày, đứa con được làm lễ cúng Mụ, đặt tên và khi đến tuổi thành đinh để trở thành một con người xã hội, họ phải trải qua một nghi thức rất phổ biến của dân tộc Dao, đó là Lễ Cấp sắc. Người thanh niên qua lễ Cấp sắc mới được nhận tín đồ Đạo giáo, được thánh thần công nhận, được cấp âm binh, tu luyện pháp thuật, khi sống làm ăn, sinh hoạt được may mắn; lúc chết mới được về với tổ tiên nơi Dương Châu, không phải sa xuống địa ngục.
Nghi lễ Cấp sắc của các ngành Dao ở Tuyên Quang rất phong phú, đa dạng và độc đáo, không gian hành lễ của mỗi ngành Dao cũng mang những nét đặc trưng riêng của mình. Lễ cấp sắc thường được tổ chức từ tháng mười năm trước đến tháng giêng năm sau. Tuổi quy định được cấp sắc thông thường từ 12 đến 16 tuổi, nhưng ở một số ngành cũng có sự khác biệt như ở người Dao Tiền, con trai được cấp sắc trong độ tuổi muộn hơn, từ 15 đến 18 tuổi. Người Dao Quần Trắng không làm lễ Cấp sắc cho con trai dưới 10 tuổi. Ngược lại người Dao Thanh Y lễ Cấp sắc có thể tiến hành từ lúc người con trai mới 8 tuổi. Những người khác dân tộc, nhưng đã làm con nuôi của người Dao thì cũng được cấp sắc.
Ngoài yếu tố tín ngưỡng lễ cấp sắc còn có ý nghĩa giáo dục. Lễ Cấp sắc vừa là công việc riêng của gia đình, vừa là sinh hoạt mang tính cộng đồng của dòng họ, bản làng, bởi vì xưa kia đại bộ phận trai tráng đều phải qua lễ Cấp sắc. Người thanh niên phải qua lễ Cấp sắc mới được coi là người đã trưởng thành, mới có thể dạy chữ, làm nghề thầy cúng. Người con trai nào không được cấp sắc thì dù chết già cũng không được về với tổ tiên và lúc sống không được cúng bái cha mẹ, không được công nhận là con cháu Bàn Vương.
Trong không gian của lễ Cấp sắc có các điều răn dạy được linh thiêng hóa và trở thành những giá trị đạo đức mà con người phải gìn giữ, phấn đấu. Các nội dung thể hiện trong đạo sắc đều hướng con người tới cái thiện. Đó là sự kính trọng tổ tiên, thần thánh, biết ơn cha mẹ, thủy chung với bạn bè, sống chân thành, không lừa lọc, phải có lòng dũng cảm, biết trọng nghĩa, khinh tài, ngay cả việc con người chấp hành luật lệ cũng được đề cập tới. Với truyền thống giáo dục mang tính tộc người, trong đó có một phần tham gia của tục lệ cấp sắc đã tạo nên sự đằm thắm, thận trọng, kín đáo của người Dao.
Bên cạnh những ý nghĩa đó, trong lễ Cấp sắc của đồng bào Dao ở Tuyên Quang còn chứa đựng những điệu múa, bài hát, trò diễn dân gian… đã gắn bó với đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người Dao từ bao đời nay, là sản phẩm tinh thần quý báu cần được tôn trọng, giữ gìn và tiếp tục phát triển. Trong những năm gần đây, lễ Cấp sắc đã được khai thác thành các tiết mục thông qua hoạt động của các tổ, đội văn nghệ quần chúng ở các thôn, bản và các xã, góp một phần rất quan trọng trong việc gìn giữ, phát huy và phát triển các giá trị văn hóa phi vật thể như các đội văn nghệ của đồng bào dân tộc Dao Đỏ ở thôn Khau Hán (Bình Phú – Chiêm Hóa), thôn Bản Lục (Đà Vị – Na Hang), đội văn nghệ của đồng bào Dao Tiền ở thôn Nà Coòng (Tri phú – Chiêm Hóa)… 
Phạm Hương
Đăng bởi Để lại phản hồi

Hát giao duyên của người Tày (Triệu Quỳnh Nga)

Hát giao duyên hay còn gọi là hát Quan làng là tiếng hát tình yêu trai gái Tày. Hát giao duyên là lối hát trong một không gian xã hội rộng lớn và chỉ có một tục thức hát theo mùa không tuỳ hứng. Đây là sự khác biệt giữa hát giao duyên với các loại hát thông thường. Hát giao duyên là hát phong tục cùng với phong tục hát cưới, hỏi của đồng bào Tày.

Hát giao duyên phổ biến vào mùa xuân, từng nhóm trai gái gặp nhau đi chơi xuân, nếu người con trai muốn làm quen với người con gái mới nhìn thấy lần đầu trong một đám hội, hay bỗng dưng gặp nhau trên một đoạn đường thì không cần phải có người giới thiệu cứ tới gần rồi cất lên giọng hát vu vơ: “Em gái mặc áo màu hồng/ Hỏi xem em đã có chồng hay chưa”. Cô gái mặc áo hồng biết rằng chàng hỏi mình, bởi trong đám con gái chỉ có mình mặc áo ấy. Người con gái nếu muốn làm quen thì lựa một câu cho hợp, nhưng cố gắng sao cho ăn vần với từ cuối của câu chàng trai hỏi: “Em nay mười tám cặp kê/ Họ chê em xấu nên chưa có chồng”. Thế là đám bạn của cả hai bên hát phụ hoạ vun vào cho hai người làm quen. Nếu cô gái đã có bạn trai hoặc đã có chồng thì không thể ngồi lặng thinh mà cũng phải hát câu “đuổi” khéo: “Lúc đi cha mẹ dặn rồi/ Phận con con giữ đừng ngồi gần ai”
Hát giao duyên là hát đường trường, trên nương đồi hoặc chợ phiên. Tiếng hát âm u, tâm sự, điệu trong sáng vút cao, điệu thì thầm như nói, chỗ lên giọng đối đáp… Sau cuộc hát về đêm, tiếng hát lắng dần im lặng. Hát giao duyên, tiếng hát hưng phấn trai gái yêu nhau, tự do lựa chọn, giải phóng con người. Nội dung hát giao duyên thường phong phú tình cảm, lời ca giàu hình ảnh văn chương. Tiếng hát bày tỏ tâm sự, tình yêu nam nữ, nội dung của hát giao duyên thể hiện trong các loại Lượn cọi, Lượn sli, Lượn Nàng ới…
Hát giao duyên có nội dung bày tỏ tình yêu, tâm sự nam nữ. Lối hát tự nhiên, đầy bản sắc thiên nhiên con người. Nội dung nhiều điệu lượn có hình ảnh mộc mạc, dung dị, tình cảm. Như bài Sli bốc gần nguyên lời cổ sau:
“Nhi an hai cô
Nhi an à lên
Đáo a chiều hố a sâu sân
Nhi an a mong
Có a thuồng luồng a che
Núi a lấy bóng dâm.
Ư nhi an hai anh
Nhi an chúng em lê móng ứ sao cho ơ núi kia
Nhi an chim phượng a đến trúc châu
Ồ lê a na lú nơi nhi an…”
Lời bài ca là phiên âm ngôn ngữ Tiếng Việt, nhưng còn đầy chất dân giã tự nhiên của lời hát tình yêu. Lời hát tâm tình gần gũi với một không gian xã hội, thiên nhiên con người, tình yêu đằm thắm đẹp như hoa cỏ núi rừng.
Trong lễ hội, hát giao duyên thường là từng đôi, từng nhóm trai gái gặp nhau qua mấy câu chào hỏi, đối đáp sau đó mới hát. Đầu tiên là vào hát mở sau đó mới đến phần hát đối, hát đối cũng có nhiều cách hoặc hát tập thể, hoặc nữ hát trước, hoặc nam hát trước. Nhiều buổi hát chợ phiên hay đi trên đường, họ dừng lại sau mấy câu chào hỏi, trò chuyện tâm sự, bỗng cả nhóm bên nữ hát điệu Sli bốc. Hình thức hát giao duyên bao gồm: Tỏ tình (hát giao duyên tỏ tình), hát đố và hát đối.
Hát giao duyên tỏ tình là lời bày tỏ tình cảm của nam, nữ Tày trên không gian xã hội khi thiên nhiên và con người hoà hợp, mùa xuân hoa thơm trái ngọt, sương sớm long lanh hoà cùng điệu sli lượn say đắm. Hình thức hát tỏ tình là nam hát trước, hoặc nữ hát trước mang tính đối ca, bên này hỏi bên kia đáp. Một số vùng dân tộc có kiểu hát tập thể nữ hát trước, tập thể nam trả lời, hoặc một nam, một nữ đối đáp.
Hát đố có lề lối hát thông minh, trí tuệ, thử tài văn chương, trí thông minh trong việc trả lời những câu hỏi mỗi bên đưa ra. Cả tập thể đang hát thì bỗng nhiên im lặng, một thiếu nữ ra câu đố, bên nam hát tập thể rồi tất cả cũng im lặng sau đó một nam đáp lời. Qua đó, nam nữ thích nhau và yêu nhau. Họ yêu nhau qua câu hát, sắc đẹp ánh mắt nụ cười. Ngày xưa, sau khi nghe hát song họ tách ra từng đôi đi riêng. Nên hát đố chính là hình thức hát để người Tày tìm thấy người yêu của mình.
Hát đối đáp, nằm trong hình thức hát đố, nhưng khác đôi chút. Hát đố đôi khi chỉ là đối đáp thông thường, mới vào đầu câu chuyện tâm sự. Qua hát đối dần hiểu nhau, thích nhau, họ có tình cảm hợp nhau cùng ứng xử trong đối ca. Nam hát, nữ đối hoặc nữ đối, nam đáp. Đôi điệu chia hai, nam nữ hai bên cùng đối đáp, sau đối đáp tập thể là hát đôi… Hát đối đáp nhiều điệu tâm sự kể chuyện, thi tài, qua đó tìm hiểu tâm sự yêu đương. Hát đối đáp trong tình yêu như là để thăm dò cả về bản thân lẫn gia cảnh, thay vì phải nhỏ to tâm sự bằng lời. Nếu nói thật, nói thẳng với nhau e rằng khó nói hơn là dùng câu sli, câu lượn để giãi bày. Tuy nó văn hoa thật nhưng cốt lõi vẫn hướng về cái mình muốn nói. Buổi đầu dùng tiếng hát lời ca rất dễ làm quen, đã yêu rồi dùng ca từ càng dễ dàng bày tỏ. Có cuộc tình từ khi quen đến khi cưới mỗi chàng trai, cô gái phải hát tới cả ngàn câu. Không ai có thể thuộc sẵn cả ngàn câu đâu nhưng lúc hát phải sáng tạo ra. Sáng tạo hay thì được người yêu yêu nhiều hơn vì “anh là người có học cao, hiểu rộng, thông minh…” vì những lẽ đó mà hát giao duyên Tày rất phong phú. Sự phong phú về nội dung đã kéo theo sự phong phú về hình thức biểu hiện.
Hát giao duyên thể hiện tình yêu người dân tộc tự nhiên như thiên nhiên hoang dã, tình cảm nhiều mà nói chẳng bao nhiêu, mang đậm âm vị hương sắc của núi rừng.
Triệu Quỳnh Nga
Đăng bởi Để lại phản hồi

Mười lăm (15 ) món ngon Bắc Kạn ăn một lần nhớ mãi (Minh Thắng)

Tôm chua Ba Bể
Tôm chua và cá nướng Ba Bể, miến dong Na Rì, chuối hột rừng, thịt lợn gác bếp, bánh pẻng phạ, rau sắng có thể nói là những món ngon riêng có của vùng núi Bắc Kạn.
Tôm chua Ba Bể.
Ở Ba Bể, người dân thường ăn tôm chua với thịt chân giò hoặc ba chỉ luộc kèm đĩa khế chua, chuối xanh, đinh lăng… Giữa khung cảnh thiên nhiên nên thơ, nhấm nháp tôm chua cùng chén rượu ngô cay nho nhỏ, du khách sẽ có cảm giác lâng lâng êm ái, thấm thía vị béo chua chua của thịt, cảm nhận phần tỏi ớt cay cay cùng mùi thơm riềng…

Món ăn được bán khá nhiều ở các bản Bó Lù, Pác Ngòi… Ngoài tôm, các loại tép hay cá nhỏ được bắt tươi ở hồ, ăn không hết, người dân cũng muối vào lọ, để ăn dần.
Chuối hột rừng
Chuối hột hồ Ba Bể được bán nhiều ở đường lên ao Tiên, khu vực đón khách từ cổng vào xuống hồ… Vì trồng trên những quả núi quanh hồ nên thân chuối vươn cao, quả căng tròn trông rất hấp dẫn, vừa tạo cảnh quan đẹp lại dùng để làm thuốc và quà biếu.
Thịt lợn gác bếp
Khác với một số dân tộc khác, người Tày sống quanh hồ Ba Bể thường bỏ thịt vào sọt hoặc gùi đi rừng rồi mới treo lên bếp. Khói từ bếp củi hằng ngày hun lên làm thịt có màu vàng đen.
Thịt treo như vậy để được cả năm mà không hỏng. Ngày nay, dù không phải tích trữ thịt treo gác bếp làm lương thực để dành nhưng trong nhà người Tày ở quanh hồ vẫn luôn có một ít, dùng trong những dịp đón khách quý, lễ tết hay ngày quan trọng khác.
Bánh Pẻng phạ
Bánh pẻng phạ thường xuất hiện trong dịp người Tày vùng Ba Bể đón mừng năm mới hay lễ hội xuống đồng. Hình dáng chiếc bánh không có gì đặc biệt, viên bánh tròn tròn cỡ trái nhãn lồng.
Bên ngoài có lớp bột trắng che lớp bột nâu bên trong. Bánh pẻng phạ là một trong những món ăn truyền thống của dân tộc Tày để dâng trời đất.
Bánh pẻng phạ chế biến không cầu kỳ nhưng mùi vị thơm ngon. Nguyên liệu chính để làm bánh là bột gạo nếp được nhào với nước chè mạn pha đặc để lấy màu nâu và vị chát, một chút rượu trắng cho dậy mùi.
Khâu nhục
Khâu nhục là món ăn đặc biệt mang đậm tính dân tộc của người dân Bắc Kạn. Khâu nhục được làm rất công phu, khoai được chọn phải là khoai môn Bắc Kạn, bên trong lòng khoai có vân màu tím. Thịt lợn phải là thịt ba chỉ ngon, luộc sơ qua, dùng tăm tre chọc bì thật kĩ, tẩm ướp gia vị rồi đem quay, vừa quay vừa quết mật ong cho vàng bì. Khoai cũng phải rán vàng. Mọi thứ được xếp vào bát, cứ một miếng khoai, một miếng thịt, cho nhân được làm bằng thịt, nấm hương, mộc nhĩ …đã xào lên trên hấp cách thuỷ khoảng 5 tiếng đồng hồ. Thành phẩm khi xong được cho ra đĩa rất đẹp. Món khâu nhục làm cầu kì nhưng ăn lại rất ngon nên nhân dân Bắc Kạn thường dành vào những dịp đặc biệt như lễ tết, cưới hỏi và vào nhà mới.
Rau sắng (rau ngót rừng)
Không giống như các loại rau khác chỉ cần trồng ngày một ngày hai là được hái lá, rau sắng từ khi trồng đến khi được hái lá lần đầu tiên phải sau ít nhất là 3-5 năm, và sau 10 năm mới được thu hoạch với số lượng lớn.
Lá rau sắng dùng để nấu canh với thịt hoặc cá. Mùi vị của loại rau này rất đậm đà, chỉ cần một vài cọng cũng đã đủ để có thể nấu bát canh thơm ngon cho 4 người ăn.Theo kinh nghiệm của người dân, phải ăn canh rau sắng nấu suông, nêm một chút muối, chậm rãi nhai kỹ từng chiếc lá nhỏ, thưởng thức thật sâu, thật kỹ vị ngọt, vị bùi khó tả của nó thì mới cảm nhận được hương vị đặc biệt của cây rau sắng. Những cây rau sắng đực cho những chùm rồng rồng. Loại này có thể nấu canh và ngon hơn nữa là xào với thịt bò.
Quả sắng hình bầu dục, to như quả nhót, khi chín có mầu vàng sẫm, ăn có vị ngọt đượm như mật ong. Hạt của quả sắng sau khi bóc vỏ đem ninh với xương rất thơm ngon, có vị ngọt, bùi.
Xôi Đăm Đeng
Món xôi này rất độc đáo vì được nấu từ gạo nếp nương và tất cả màu sắc của xôi không tạo ra bằng phẩm màu mà bằng hương sắc của cây cỏ. Người ta lấy lá của cây cẩm và vài loại lá khác đun lên, chắt nước ra, ngâm gạo nếp vào khoảng vài giờ rồi mang đồ trên chõ gỗ. Nước ngâm gạo phải nóng già thì khi chín xôi mới có độ dẻo.
Xôi Đăm Đeng có một mùi thơm đặc trưng của cây cỏ, không thể lẫn với bất cứ loại xôi nào khác. Hạt xôi bóng đẹp nhưng không ướt, khi nguội hạt xôi se lại nhưng vẫn mềm, dẻo và thơm.
Xôi Đăm Đeng thường được ăn với muối vừng hoặc ruốc tùy theo khẩu vị từng người. Người dân miền núi quan niệm rằng ăn xôi này sẽ mang lại nhiều may mắn và tốt lành.
Nếu có dịp lên Bắc Kạn vào những ngày lễ, tết hãy thưởng thức món xôi “Đăm Đeng” để tận hưởng hương sắc của núi rừng nơi đây.
Miến dong Na Rì
Miến dong là đặc sản nổi tiếng của Na Rì, Bắc Kạn, được làm thủ công từ những củ dong riềng trồng trên đèo Áng Toòng ở độ cao trên 1.000 m. Sợi miến được làm từ bàn tay khéo léo của người dân nơi đây nên giữ nguyên màu sắc tự nhiên vốn có. Sợi miến có màu vàng hoặc trong đục, sợi dai và giòn để lâu cũng không bị nát, đây cũng là nét đặc trưng khiến nhiều người yêu thích món ăn dân dã này.
Sợi miến có màu tự nhiên do không dùng hóa chất, sợi miến khi nấu có vị dai, giòn và thơm của dong riềng. Từ miến dong có thể chế biến nhiều món ngon và dễ ăn.
Măng vầu
Rừng Bắc Kạn có rất nhiều loại măng như: măng tre, măng trúc, măng nứa, măng mai… nhưng nếu nói là đặc sản phải kể đến thứ “măng vầu” hay còn gọi là “măng đắng”. Theo kinh nghiệm của những người đi hái măng, vào đầu vụ những mầm măng vầu mới nhú còn có vị ngọt xen lẫn vị hơi hơi hơi đắng, còn từ sau tháng 2 Âm lịch, măng lại chuyển sang vị đắng gắt hơn.
Ở Bắc Kạn, người ta có thể chế biến măng thành rất nhiều món ngon nhưng hấp dẫn hơn cả có lẽ là măng luộc chấm mắm tôm chanh ớt. Những người sành ăn măng thì hay chọn ăn loại măng luộc thật đắng vì như vậy mới cảm nhận hết được sự thú vị của món ăn này. Cái cảm giác đắng, chát cứ mất dần khi nhai kỹ, thay vào đó là cảm giác thoang thoảng ngọt, nhẹ nhẹ cay, rất lạ.
Rau dớn
Rau dớn là một loại cây thuộc họ quyết, giống như cây dương xỉ, cành dài lá nhỏ, mặt lá có màu xanh nhẵn, cuống lá có lông. Ở Bắc Kạn, rau dớn thường mọc ở vùng núi cao, nơi ngọn nguồn của các con sông, con suối và thường mọc ở bờ suối, bờ khe, nơi có độ ẩm ướt cao.
Rau dớn ăn ngon nhất là sau mùa lụt đến cuối mùa xuân. Lá rau dớn non uốn cong như vòi voi, có nhựa nhớt. Đồng bào thường chỉ hái ngọn cong non, lá bánh tẻ để ăn.
Rau bồ khai (rau dạ hiến)
Rau bồ khai (bò khai) thường mọc trên những vùng núi đá cheo leo, ngọn rau giống như cây tầm gửi, thân bám vào những cây gỗ lớn để vươn lên đón lấy cái trong trẻo của ánh sáng và khí trời. Ngọn rau thoạt nhìn giống ngọn mướp hương nhưng mảnh mai hơn và có màu xanh non tơ như lá cành mới nhú. Khoảng mùa xuân, bồ khai bắt đầu trổ ngọn xanh tốt. Người dân trong vùng đã quen với mùa đi hái bồ khai. Vào dịp này, ở khắp các phiên chợ vùng cao nơi đây đều có bày bán rau bồ khai.
Bồ khai mang về chẳng phải chế biến cầu kì gì nhiều, chỉ cần nhặt sạch, phi tỏi thơm trên bếp rồi đổ rau vào xào to lửa là đã có một món ăn hấp dẫn. Bồ khai còn được dùng làm phở, mì xào hay xào lẫn với thịt bò. Rau bồ khai có một mùi vị rất riêng, không thể tìm được sự tương đồng ở bất cứ loại mùi vị nào khác.
Lạp sườn hun khói
Lạp sườn được làm từ thịt lợn bản nên thịt thơm và chắc. Điểm độc đáo của lạp sườn Bắc Kạn là được tẩm ướp bằng gừng đá, một loại gừng chỉ mọc trên đá của người dân tộc nên có mùi thơm rất đặc biệt, không giống gia vị nào của miền xuôi.
Lạp sườn được làm bằng tay của người Bắc Kạn có mùi của nắng vùng cao, mùi của khói bếp, thoảng mùi gừng, mùi rượu, mắc mật, thơm một cách đặc biệt. Vị dai của lòng, vị ngọt của thịt nạc, vị béo của mỡ hòa quyện với nhau, ăn thật ngon miệng. Nhấp thêm chút rượu nữa thì càng khoái khẩu.
Cá nướng Ba Bể
Cá trong hồ Ba Bể có rất nhiều, thường được người dân đánh bắt thủ công, số lượng cá không nhiều nhưng chất lượng thì tuyệt vời vì thịt cá trắng, chắc và có vị ngọt. Người ta chọn lấy loại cá chỉ nhỏ bằng ngón tay cái, loại cá này vừa giống như cá bống, vừa giống con cá nẹp ở xuôi để làm món cá nướng.
Không gì khoái bằng ngồi bên bờ hồ Ba Bể, nhâm nhi đĩa cá nướng chấm tương ớt với vài chén rượu ngô. Vị cá thơm lừng, thịt cá bùi và dai. Rượu ngô cay cay nhưng vẫn có vị ngọt đâu đây nơi cuống lưỡi. Cùng ngắm cảnh hồ Ba Bể, thần tiên và thăng hoa hơn bất cứ mâm cao cỗ đầy nào khác.
Bánh ngải
Mỗi dân tộc đều sáng tạo ra những loại bánh có hương vị khác nhau, có một loại bánh mà chỉ người Tày mới có đó là bánh ngải. Bánh ngải có màu xanh đặc trưng của thiên nhiên, hình thù và cách làm gần giống với bánh dày của người miền xuôi.
Muốn bánh thơm, dẻo phải chọn loại nếp nương và không được lẫn dù chỉ một hạt gạo tẻ. Bánh ngải là thứ bánh rất dễ ăn, mát và không ngấy, nếu ai đã từng ăn một lần sẽ không quên mùi vị của loại bánh dân dã này. Vị hăng hăng, thơm thơm là lạ của lá ngải như dung hòa cái dẻo, cái ngọt của nếp, của đường, miếng bánh có sự tươi non của đồi nương, cái hoang dã của lá rừng.
Mứt mận

Món mứt mận ở Bắc Kạn được người dân coi là đặc sản. Vì nó có những hương vị đặc trưng riêng và rất hấp dẫn. Hầu như người dân Bắc Kạn đi đâu xa đều mang món mứt mận để làm quà biếu và giới thiệu sản phẩm của quê hương mình.
 Minh Thắng
Đăng bởi Để lại phản hồi

Then cổ cấp Sắc của dân tộc Tày – Bắc Kạn (Hoàng Thị Lân)

Lễ cấp shắc then là nghi lễ tôn giáo của những người làm nghề Then và chỉ khi được cấp shắc thì người làm nghề này mới được phép hành nghề của mình. Ở mỗi vùng, lễ cấp shắc đều có những qui định cụ thể cho từng dòng then, về phẩm hàm cũng như các nghi lễ. Khi thực hiện lễ cấp shắc, người được cấp shắc phải biết chính xác tổ tiên nhà mình thờ dòng thánh nào để mời số thầy Then tương ứng trợ giúp cho thầy Tào khi hành lễ. Thầy then trước khi nhận lời phải xem mệnh của mình có hợp với mệnh của người muốn được cấp shắc hay không, nếu hợp thì mới làm.

Căn cứ vào ngày tháng đã định, chủ nhà nhờ con cháu trong gia tộc đi đón thầy. Gần cổng nhà, người ta dựng một cái lán tạm dùng làm chỗ nghỉ chân cho các thầy trước khi vào nhà. Người được cấp shắc phải làm lễ đón thầy.
Trong tất cả các lễ cúng của người Tày, lễ cúng các bà mụ bao giờ cũng là nghi lễ rất quan trọng, bà mụ ở đây theo quan niệm cổ xưa chính là bà mẹ sinh sản, bà mẹ nông nghiệp và hiện nay là bà mụ sinh ra tất cả mọi thành viên trong dòng họ.
Lễ cấp shắc được thực hiện bởi 1 ông thầy Tào và hai ông thầy Then. Thầy Tào là đạo sĩ dân gian, mang tính chất chính qui với sách cúng, sớ tấu bằng chữ Hán và phải có những người phụ giúp để thực hành các nghi thức. Còn thầy Then là ông thầy Saman – người diễn xướng Then trong các nghi lễ. Họ vừa là nghệ nhân hát dân ca vừa có khả năng thoát và nhập hồn khi vào các cửa Then. Trong lễ này, thầy Then Quan Làng giữ vai trò chỉ đạo khi đi qua các cửa then để chiêu binh mã và chia binh mã cho người được cấp sắc. Còn thầy Tào có nhiệm vụ tấu trình với các vị thần linh.
Thầy Then với cây đàn tính thỉnh qua các cửa Then như: thổ công, thổ địa, táo quân, cửa tổ tiên, cửa bà mụ, cửa Phật, Khảm Hải, cửa tướng và cuối cùng là cửa Rinh Nam.
Người Tày cho rằng nghề Then phải do trời giao phó mà đại diện Ngọc Hoàng Thượng Đế. Vì vậy, khi tiến hành cấp shắc, ngoài những thủ tục trên, người được cấp sắc phải làm lễ khai quang – nghĩa nôm là mở ánh sáng.
Đối với nhiều lễ cấp sắc, các thủ tục đều được tiến hành tuần tự như chiêu binh mã, đưa lễ vật qua các cửa Then tấu trình với Ngọc Hoàng để xin cấp shắc. Trong lễ này, thầy Tào và thầy Then lại tính giờ tốt theo tuổi của chủ nhà để cấp shắc, sau đó sẽ tiến hành lễ Shán dẻn có nghĩa là đưa lễ vật lên trình các cửa Then. Trước khi kết thúc lễ cấp shắc, thầy Then dâng mâm hào quang cho các vị thần linh bằng hành động bê mâm lễ để giữa nhà tiến hành nghi thức bói cầu may.
Để trở thành thầy Then có âm binh, ấn tín cùng các vật thiêng hành nghề để đi làm phúc cho dương gian, bản làng, được chứng nhận là người có khả năng tiến hành tổ chức nghi lễ cúng bái, cầu an trong đời sống tâm linh của cộng đồng thì thầy then phải trải qua các nghi lễ cấp shắc theo đúng phong tục truyền thống của dân tộc. 

 Hoàng Thị Lân
Đăng bởi Để lại phản hồi

Các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên hát mừng mùa Lễ hội hoa Ban (Triệu Kim Bắc)

Múa nón dân tộc Thái – Mùa Ban trắng
Tối 14/3, tỉnh Điện Biên tổ chức chương trình trình diễn dân ca, dân vũ các dân tộc. Đây là hoạt động Các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên hát mừng mùa Lễ hội hoa Ban, truyền tải những nét đẹp, nét riêng của đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh tới du khách thập phương.

Trong khoảng thời gian 90 phút, đã có 17 tiết mục đến từ 12 đoàn huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Các tác phẩm có nội dung xoay quanh những hoạt động đời thường, mô tả lại các lễ hội, những nét đẹp của đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên, như: Thái, Mông, Khơ Mú, Lào, Hà Nhì… đã mang lại cho người xem nhiều cảm xúc mới lạ về nét văn hóa đặc trưng của mỗi dân tộc, mỗi địa phương, vùng miền.
Một số hình ảnh tại đêm trình diễn dân ca, dân vũ các dân tộc tỉnh Điện Biên:

Múa Sắc màu Tây Bắc
 Hát giao duyên dân tộc Hà Nhì
Điệu xòe thương nhau

Triệu Kim Bắc