Đăng bởi

Xây dựng đạo đức, lối sống, bắt đầu từ gia đình

Trong cuộc sống hiện đại, giáo dục trong gia đình ngày càng trở nên quan trọng để nuôi dưỡng tế bào lành mạnh cho xã hội. Giáo dục trong gia đình là nền móng xây dựng nhân cách con người, vì vậy cần có nhận thức đúng đắn về nội dung và cách thức giáo dục.

Dư luận xã hội trong những năm gần đây nhiều lần lên tiếng về sự xuống cấp của đạo đức, lối sống, phê phán gay gắt những hành động đồi bại, thói hư tật xấu đang diễn ra phổ biến hằng ngày. Từ chuyện thầy giáo xâm hại học sinh, một bác sĩ thẩm mỹ làm chết khách hàng rồi phi tang xác nạn nhân, cán bộ y tế làm giả phiếu xét nghiệm máu, bảo mẫu hành hạ con trẻ dã man, rồi những vụ án mạng giữa những người thân trong một gia đình… đã gây chấn động dư luận xã hội.

Nhiều người cho rằng, một trong những nguyên nhân sâu xa xảy ra tình trạng nêu trên là sự thiếu giáo dục của gia đình nếu như con người được giáo dục tốt trong gia đình sẽ không có những hành vi táng tận lương tâm như thế. Các cuộc điều tra cho thấy, rất nhiều thanh niên, thiếu niên vi phạm pháp luật đã cho rằng, sở dĩ chúng phạm tội vì không được thương yêu, chăm sóc, bảo vệ trong gia đình.

Gia đình truyền thống Việt Nam qua đời này sang đời khác đã kết tinh những tinh hoa văn hóa dân tộc như có hiếu với ông bà, cha mẹ, anh em hòa thuận, vợ chồng thủy chung… từ đó hình thành những chuẩn mực đạo đức và lối sống trở thành gia phong. Những tinh hoa đó được phát huy trong cuộc sống hôm nay sẽ trở thành liều thuốc ngăn chặn sự xuống cấp về đạo đức, lối sống.

Chính vì vậy, nội dung giáo dục cách ứng xử trong gia đình hiện nay cần tập trung vào việc giáo dục cách ứng xử trong gia đình, với nguyên tắc đã được bao thế hệ gia đình gìn giữ lưu truyền: “Trên kính dưới nhường” và lòng hiếu thảo của con cháu đối với ông bà, cha mẹ. Ðây vừa là phép tắc ứng xử vừa là giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Giáo dục lòng kính trọng – một trong những phẩm chất quý báu của con người, là thước đo cao nhất của đạo đức. Ðức hiếu kính của người làm con đối với cha mẹ là cái gốc của tình yêu con người. Người mà không biết yêu thương cha mẹ sinh thành, dưỡng dục mình thì khó có thể yêu thương người khác được. Ðạo đức không phải là một thuật ngữ quá trừu tượng mà là những biểu hiện, những cử chỉ, hành vi, thái độ lời nói.

Cuộc sống hiện đại càng cần đến giáo dục trong gia đình. Mỗi người có thể tìm thấy ở gia đình niềm vui, ý nghĩa trong sáng của cuộc sống, điểm tựa vững vàng và nguồn sinh lực mạnh mẽ để bước vào xã hội. Thật là sai lầm khi có người nghĩ rằng, kinh tế thị trường và sự tự do cạnh tranh lợi nhuận đã có thể đưa con người vượt ra những sự kìm tỏa của gia đình, tìm thấy một hạnh phúc khác gắn liền với các điều kiện vật chất, sự giàu sang vì tiền bạc. Thực tiễn cho thấy, lối sống thực dụng, tôn thờ đồng tiền đã làm cho con người sa đọa, tha hóa.

Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng, gia đình ngày nay có thể biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu, chức năng, các hình thức và chuẩn mực trong các mối quan hệ nhưng vị trí, vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội thì vẫn không thay đổi. Xã hội hiện đại cũng sẽ làm biến đổi các chuẩn mực văn hóa gia đình. Gia đình sẽ khoác lên mình nó những bộ cánh lấp lánh của cuộc sống hiện đại để bước song hành với xã hội hiện đại nhưng nó vẫn gắn kết với cộng đồng và xã hội. Việc nâng cao vị thế và vai trò của gia đình sẽ tạo cơ sở và động lực cho sự đi lên và phát triển của xã hội.

Khi xây dựng đạo đức, lối sống, bên cạnh việc đứng vững trên nền tảng gia đình truyền thống với những tinh hoa văn hóa của nó, cuộc sống cũng đòi hỏi ngăn chặn những hủ tục, những thói quen xưa cũ lạc hậu như: Nếp sống gia trưởng, thói “vinh thân, phì gia”, một người làm quan cả họ được nhờ, sự coi thường phụ nữ, nạn tảo hôn, bạo lực gia đình…

Ðồng thời tiến hành xây dựng những chuẩn mực mới theo yêu cầu của xã hội hiện đại. Ðã có hiện tượng “lệch chuẩn” trong lĩnh vực giáo dục, trẻ em. Tiêu chí một đứa con ngoan đã lệch khi trước đây một đứa con ngoan là biết vâng lời, lễ phép với ông bà, cha mẹ, anh chị, chăm chỉ việc nhà thì nay nhiều gia đình quan niệm đạo đức con ngoan chỉ là học giỏi. Cả gia đình dồn sức chạy trường, chạy lớp bắt con trẻ học ngày, học đêm vùi đầu vào đống sách vở, chiều chuộng chúng đủ kiểu miễn sao điểm học tập phải cao, bỏ bẵng giáo dục đạo đức, giáo dục làm người, khiến chúng trở nên vô cảm và ích kỷ. Nhiều bậc cha mẹ còn thỏa mãn mọi nhu cầu của con cái kể cả nhu cầu vô lối và trở thành thói quen, dễ dẫn đến giá trị sống của đứa con bị lệch lạc khi tưởng rằng mọi người luôn phải tuân theo ý muốn của mình, dễ dẫn đến phản kháng khi không được thừa nhận.

Thực tế cho thấy, quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách con người phải được xây dựng trên cơ sở tiếp nhận kiến thức từ gia đình, nhà trường và xã hội. Lối sống và đạo đức của mỗi người cũng hình thành từ sự kết hợp giáo dục của ba yếu tố này. Giáo dục gia đình là môi trường đầu tiên để tạo nên tính cách của đứa trẻ, nền móng xây dựng đạo đức, lối sống, trong khi giáo dục nhà trường và xã hội là các nhân tố quan trọng giúp định hình và hoàn thiện nhân cách có được từ gia đình.

Đăng bởi

Cúng thế nào là đủ lễ

Cúng lễ là cúng Trời Đất và Người. Người đây là người trần thắp hương và người âm mà ta thờ cúng (Đức Phật, các Tiên Thánh, Thần linh, Gia tiên…). Tức là khi cúng, ta đã kết hợp Thiên Địa Nhân thành hợp nhất. Thiên Địa Nhân hợp nhất luôn là yếu tố đảm bảo phát triển bền vững. Vì vậy khi cúng ta phải có đủ 3 thứ sau đây trên bàn thờ thì mới thành lễ: Lửa, Nước và Hương.

Vì sao phải đủ 3 thứ trên?

– Lửa: chỉ có ở trên Trời mới có lửa. Mặt trời tắt thì Trái đất đóng băng, không còn sự sống. Sấm sét cũng chỉ có trên Trời. Vậy Lửa là Thiên (T).

– Nước: Chỉ có Trái đất mới có nước. Các hành tinh khác trong hệ Mặt trời đều không có nước. Vậy Nước là Địa (Đ).

– Hương: là người châm hương, người làm ra hương. Vậy Hương là Nhân (N).

Có 3 thứ trên là có T+Đ+N. Cộng với tấm lòng thành là đủ lễ rồi. Đồ lễ nhiều ít, thậm chí không có cũng không quan trọng. Thần linh và gia tiên không đòi cái đó. Nhưng tấm lòng thành thì không thể thiếu được. Vì vậy nếu tâm ta chưa tịnh, lòng ta chưa thành thì chưa vội thắp hương. Vợ chồng vừa mới cãi nhau xong, hay vừa quát mắng con xong thì chưa nên thắp hương cúng lễ vội. Đi lễ chùa, đền miếu cũng vậy, cần chuấn bị cho ta một tâm hồn thanh tịnh, một tấm lòng thành rồi hãy đi.

Nói như trên không có nghĩa là ta không cần đồ lễ. Nhưng không nên quá vị vào đồ lễ nhiều hay ít. Nhiều ít đều được, nhưng phải đủ loại hình tùy theo lễ (thí dụ: lễ Phật chỉ có lễ chay, lễ Thánh Thần, Gia tiên có thể lễ chay hoặc lễ mặn v.v…). Đồ lễ phải tươi thơm vì người cõi âm chỉ hưởng cái hương của đồ lễ. Không được đưa lên bàn thờ đồ lễ đã ôi thiu, trái cây đã héo, hoa đã úa tàn.

Thiếu một trong 3 thứ T Đ N nêu trên thì không thành lễ. Thực tế cho thấy, hầu hết mọi người khi cúng đều có thắp hương. Tỷ lệ quên thắp hương chỉ khoảng 1/1000. Nhưng thiếu nước hoặc thiếu lửa thì nhiều. Tỷ lệ này có đến 50% các nhà. Rượu không phải là nước, nên không thay nước được. Nước phải là nước sạch tự nhiên (như nước máy, nước mưa, nước giếng, nước sông hồ…). Không nhất thiết phải là nước đun sôi, nhưng không được dùng nước ôi thiu có mùi hoặc nước bị ô nhiễm.

Lửa phải châm được hương mới là lửa. Đèn điện đỏ không thay lửa được vì không châm được hương. Cũng không dùng lửa quá nhiều vì người âm sợ nóng. Có thể dùng một ngọn nến nhỏ hoặc một đèn dầu nhỏ lửa. Không thắp quá nhiều nến hoặc nhiều đèn dầu trên bàn thờ. Trên bàn thờ không nên thắp đèn đỏ, và không đặt đèn chiếu sáng ngay phía trên bàn thờ. Bàn thờ nên tối và mát.

Đăng bởi

Một số thảo mộc để sản xuất Hương Tâm Linh

1.MỘC HƯƠNG

Tên khác: mộc hương Vị thuốc Mộc hương còn gọi Ngũ Mộc hương (Đồ Kinh), Nam mộc hương (Bản Thảo Cương Mục), Tây mộc hương, Bắc mộc hương, Thổ mộc hương, Thanh mộc hương, Ngũ hương, Nhất căn thảo, Đại thông lục, Mộc hương thần (Hòa Hán Dược Khảo), Quảng Mộc hương, Vân mộc hương, Xuyên mộc hương, Ổi mộc hương (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Tác dụng: mộc hương+ Trừ độc dịch, trị tà khí (Bản kinh).+ Tả lãnh khí ủng trệ ở vùng ngực (Bản Thảo Diễn Nghĩa).+ Tán trệ khí, điều chư khí, hòa vị khí, tả phế khí (Trân Châu Nang).+ Hành Can kinh (Bản Thảo Diễn Nghĩa Bổ Di).+ Hành khí, chỉ thống, điều khí trệ ở trường vị, kiện tỳ, ngừa trệ (Trung Dược Học).+ Hành khí, chỉ thống, ôn trung, hòa vị (Trung Dược Đại Từ Điển).+ Kiện vị, điều hòa khí, giải hàn, chỉ thống (Đông Dược Học Thiết Yếu).+ Hành khí, chỉ thống, kiện vị (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Chủ trị: mộc hương+ Trị ngực bụng đầy trướng, bụng đau, nôn mửa, tiêu chảy, lỵ, đau do sán khí, phù thũng (Đông Dược Học Thiết Yếu).+ Âm hư, táo nhiệt: không dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Mô Tả: Cây sống lâu năm, rễ to, đường kính có thể đến 5cm, vỏ ngoài mầu nâu nhạt. Phía gốc có lá hình 3 cạnh tròn, dài 12 – 30cm, rộng 6 – 15cm, cuống dài 20 – 30cm, có rìa. Mép lá nguyên và hơi lượn sóng, 2 mặt đều có lông, mặt dưới nhiều hơn. Trên thân cũng có lá hình 3 cạnh, nhưng càng lên trên lá càng nhỏ dần. Mép có răng cưa, cuống lá càng lên cao càng ngắn lại, phía trên cùng lá gần như không cuống hoặc có khi như ôm lấy thân cây. Hoa hình đầu, mầu lam tím. Quả bế, hơi dẹt và cong, mầu nâu nhạt, có những đốm mầu tím.Mùa hoa vào các tháng 7-9. Mùa quả tháng 8 – 10.Đa số trồng ở Vân Nam (Trung Quốc – Vì vậy mới gọi là Vân Mộc hương).Thu hái, Sơ chế:Về mùa đông, sau khi đào lên, rửa sạch đất, rễ tơ và thân lá, cắt thành những khúc ngắn 6,6 – 13,3cm. Loại thô to, rỗng ruột thì chẻ dọc thành 2-4 miếng, phơi khô, bỏ vỏ ngoài là được.

2. HOÀNG LIÊN

Tên khác:Vị thuốc Hoàng liên, còn có tên Vương liên (Bản Kinh), Chi liên (Dược Tính Luận), Thủy liên Danh vậng, Vận liên, Thượng thảo, Đống liên, Tỉnh Hoàng liên, Trích đởm chi (Hoà Hán Dược Khảo), Xuyên Hoàng liên. Tiểu xuyên tiêu, Xuyên nhã liên, Xuyên liên, Thượng xuyên liên, Nhã liên, Cổ dũng liên, Chân xuyên liên.Tên gọi:Vị này có rễ như những hạt châu liên tiếp kết lại, có màu vàng nên gọi là Hoàng liên (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Tác dụng:+ Sát tiểu nhi cam trùng, trấn Can, khứ nhiệt độc (Dược Tính Luận).+ Tả Tâm hỏa, trừ thấp nhiệt ở Tỳ Vị (Y Học Khải Nguyên).+ An Tâm, chỉ mộng di (tinh), định cuồng táo (Bản Thảo Tân Biên).+ Giải độc Khinh phấn (Bản Thảo Cương Mục).+ Tả hỏa, táo thấp, giải độc, sát trùng (Trung Dược Đại Từ Điển).Cây thảo sống lâu năm, cao độ 30cm. Lá mọc so le, có cuống dài, mọc từ thân rễ trở lên. Phiến lá gồm 3-5 lá chét. Mỗi lá chét lại chia thành nhiều thùy, mép có răng cưa to. Thân rễ hình trụ, nhiều rễ con, màu nâu vàng nhạt, có hình dáng chân gà nên còn gọi là “Hoàng liên chân gà”, chỗ bẻ màu vàng, vị đắng. Hoa màu trắng, mọc ở ngọn cán hoa. Quả gồm nhiều đài, khi chín màu vàng. Hạt màu nâu đen. Ra hoa tháng 10-2 năm sau. Hoàng liên lấy thân, niên túc (cứ mỗi năm đầu rễ sinh ra một đốt, đầy bốn năm thì gọi là niên túc),Cây hoang ở vùng núi cao trên 1.500m. Ở Việt Nam cây mọc hoang ở trên dẫy Hoàng liên Sơn rất nhiều. Thường trồng bằng hạt vào cuối mùa xuân.Thu hái, sơ chế:Thu hái vào tháng 10-12, thời vụ thu hoạch thích hợp nhất là vào tháng 11 trước tiết Lập đông, thường dùng loại 2-3 năm hoặc hơn. Lúc này rễ Hoàng liên đã chắc nặng, chứa ít nước, tỉ lệ khô cao. Khi sấy khô nên dùng buồng sấy, sấy khô xong, muốn làm sạch rễ con, làm đất và cuống lá cần phải cho vào ống xóc. Ống xóc là một dụng cụ đan bằng tre, có thể làm to hoặc nhỏ. Trước tiên cho Hoàng liên vào ống, đậy nắp lại, nếu ống nhỏ thì hai người cầm hai đầu ống đu đưa, làm cho Hoàng liên bên trong cọ sát vào nhau, khiến các rễ con, cuống lá, bùn đất bị rụng ra, thì thu được Hoàng liên sạch sẽ, đẹp, phẩm chất cao. Xóc xong, đổ tất cả ra sàng, đầu tiên dùng sàng mắt to sàng lấy Hoàng liên, sau đó dùng sàng mắt nhỏ, sàng bỏ đất cát đi, òn cuống lá lấy về, cũng xếp ngay ngắn thành các bó nhỏ, chặt thành đoạn ngắn 1,5cm, phơi khô

3.CAM THẢO

Còn có tên là bắc cam thảo, sinh cam thảo, quốc lão.Tên khoa học Clycyrrhiza uralensis fish và Glycyrrhixa glabra L.Thuộc họ cánh bướm FabaceaeCam thảo là rễ và thân rễ phơi hay sấy khô của cây cam thảo nguồn gốc vùng Uran hay cây cam thảo châu âuTên cam thảo vì cam là ngọt, thảo là cỏ: cỏ có vị ngọt.

Mô tả: cây Cam thảo là một cây sống lâu năm thân có thể cao tới 1m hay 1.5m. Toàn thân cây có lông rât nhỏ. Lá kép lông chim lẻ, lá chét 9-17, hình trứng, đầ nhọn, mép nguyên, dài 2-5.5 cm. Vào mùa hạ và mùa thu nở hoa màu tím nhạt, hình cánh bướm dài 14-22 mm. Quả giáp cong hình lưỡi liềm dài 3-4 cm, rộng 6-8 cm, màu nâu đen, mặt quả có nhiều lông. Trong quả có hai đến 8 hạt nhỏ dẹt, đường kính 1.5-2 mm màu xám nâu, hoặc xanh đen nhạt, mặt bóng.B. Tác dụng dược lý1. Tác dụng giải độc của cam thảo: có tác dụng giải độc rất mạnh đối với độc tố của bạch cầu, chất độc của cá lợn, của rắn, hiện tượng choáng. Cam thảo có khả năng giải chất độc của độc tố uốn ván.2. Tác dụng như coctisonCam thảo có tác dụng gần như coctison tăng sự kích tích nước và muối NaCl trong cơ thể gây ra thủy thũng đồng thời trị các vết loét trong bộ máy tiêu hóa.

4. SÀI HỒ

Tên khác: Sài hồVị thuốc Sài hồ còn gọi Bắc sài hồ, sà diệp sài hồ, trúc diệp sài hồ

Tác dụng: Sài hồPhát biểu hòa lý, thóai nhiệt thăng dương, giải uất, điều kinh

Chủ trị: Sài hồDùng chữa sốt rét, nhức đầu chóng mặt, sốt thương hàn, kinh nguyệt không đều,Hàn nhiệt vãng lai, ngực sường đầy tức, miệng đắng tai ù,

5. NHỤC QUẾ

-Tên dược: Cortex cinnamomi.

– Tên thực vật: cinamomum cassia presl.

– Tên thường gọi: nhục quế.

– Bộ phận dùng và phương pháp chế biến: thân được cắt vào thời kỳ nóng nhất, loại bỏ vỏ khi bắt đầu vào thu, phơi khô dưới nắng và cắt thành lát mỏng.

– Tính vị: cay, ngọt và tính nóng.

– Qui kinh: thận, tỳ, tâm và can.

– Công năng: trừ lạnh và giảm đau, làm ấm kinh lạc và tăng lưu thông.

6. OẢI HƯƠNG

Oải hương (danh pháp khoa học: Lavandula angustifolia, tên tiếng Anh có thể là English lavender, common lavender, true lavender, narrow-leaved lavende) là một loại cây thuộc chi Oải hương (Lavandula), họ Hoa môi (Lamiaceae).

Cây oải hương là loại cây bụi thường niên có mùi thơm nồng, xuất xứ từ vùng Địa Trung Hải. Tên khoa học của nó Lavendula, từ tiếng Latinh lavare, có nghĩa là rửa (hay tắm).

Cây hoa oải hương đã từng được biết đến cách đây hàng ngàn năm, từ thời Hy Lạp cổ đại. Người La Mã đã mang hoa oải hương phổ biến ra khắp châu Âu, tất cả những nơi nào mà họ đặt chân đến, nhằm tạo nên nguồn cung cấp tinh dầu oải hương tại địa phương. Suốt thời Trung Cổ, nó được xem như là thứ thảo dược quý hiếm.

Do mùi hương thơm sạch và tính chất đuổi côn trùng, nó là loại thảo mộc được ứng dụng rộng rãi. Nó từng được dùng để sát trùng vết thương trong thời chiến.

Oải hương cũng là một loại cây phổ biến trong vườn cảnh. Oải hương còn được gói trong những túi thơm để chống những con nhậy (cắn quần áo) và tạo nên mùi thơm cho căn phòng, quần áo.

Oải hương cũng được dùng làm thuốc an thần, và cả chất kháng khuẩn. Oải hương có tính sát trùng mạnh, giúp làm lành vết thương, vết phỏng (được dùng nhiều trong thế chiến thứ nhất và thứ hai).

Oải hương là một trong những loài thảo mộc thiêng liêng giữa mùa hè. Thời kỳ ra hoa là từ tháng sáu đến tháng tám.

7.THIÊN NIÊN KIỆN

Tên khác: Sơn thục, cây bao kim

Tên khoa học: Homalomena affaromatica Roxb – Họ Ráy (Araceae)

Bộ phận dùng: Thân, rễ. Rễ to, khô, có nhiều xơ cứng sù sì, sắc nâu hồng, mùi thơm hắc, chắc cứng, ngoài xơ mà giữa nhiều thịt không mốc là tốt.

Thành phần hoá học:

Trong thân rễ có khoảng 0,8-1% tinh dầu tính theo rễ khô kiệt.

Tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm dễ chịu. Trong tinh dầu có chừng 40% l-linalol, một ít terpineol và chừng 2% este tính theo linalyl acetat

Ngoài ra còn có sabinen, limonen, a-terpinen, acetaldehyt, aldehyd propionic.

Tính vị: Thiên niên kiện có vị đắng cay, hơi ngọt, tính ôn.

Nguồn: trích lục Hương tâm linh chính yếu

Đăng bởi

Nguồn gốc và văn khấn cúng tết Đoan Ngọ (Ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch)

Chúng tôi xin gửi tới quý khách hàng thông tin về nguồn gốc, ý nghĩa tết Đoan Ngọ. Ngoài ra chúng tôi cũng gửi tới mọi người mẫu Văn khấn Tết Đoan Ngọ được sử dụng tiến hành cúng vào chính giờ Ngọ giữa trưa ngày mồng 5 tháng năm Âm lịch (tết Đoan Ngọ) hàng năm. Dưới đây là văn cúng tết Đoan Ngọ mà nhà nhà nên biết.

Ý nghĩa Tết Đoan Ngọ

Tết Đoan Ngọ là lễ tết lớn của người Việt Nam được tiến hành vào chính giờ Ngọ giữa trưa ngày mồng 5 tháng năm Âm lịch hàng năm. Người xưa quan niệm rằng: Trong cơ thể con người, nhất là bộ phận tiêu hoá thường có sâu bọ ẩn sống, nếu không diệt trừ thì sâu bọ ngày càng sinh sôi nảy nở gây nguy hại cho con người. Lũ sâu bọ này chỉ lộ diện vào ngày 5/5 Âm lịch nên phải làm lễ trừ sâu bọ vào ngày này.
Văn khấn cúng tết Đoan Ngọ (Ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch)
Hoa quả không thể thiếu trong lễ cúng tết Đoan Ngọ
Theo quan niệm cổ truyền, có thể giết sâu bọ bằng cách ăn thức ăn, hoa quả, rượu nếp vào ngày 5/5. Cách trừ sâu bọ trong người như sau: mọi người sáng ngủ dậy không được đặt chân xuống đất phải súc miệng 3 lần cho sạch sâu bọ, tiếp đó ăn một quả trứng vịt luộc. Rồi bước chân ra khỏi giường ăn một bát rượu nếp cho sâu bọ say, tiếp đó ăn trái cây cho sâu bọ chết.
  • Sắm lễ cúng tết Đoan Ngọ

    Ngày Tết Đoan Ngọ còn gọi là ngày Giết Sâu Bọ. Mâm lễ cúng Tết Đoan Ngọ gồm:
    – Hương, hoa, vàng mã
    – Nước
    – Rượu nếp
    – Các loại hoa quả.
    + Mận
    + Hồng xiêm
    + Dưa hấu
    + Vải
    + Chuối…
    Văn khấn cúng tết Đoan Ngọ (Ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch)-1
    Món ăn cho ngày Tết Đoan Ngọ
  • 3

    Văn khấn, văn cúng Tết Đoan Ngọ

    Văn khấn cúng tết Đoan Ngọ 1
    Văn cúng tết Đoan Ngọ
    Nam mô a di Đà Phật!
    Nam mô a di Đà Phật!
    Nam mô a di Đà Phật!
    – Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
    – Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
    – Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.
    – Con kính lạy Tổ tiên, Hiển khảo, Hiển tỷ, chư vị Hương linh (nếu bố, mẹ còn sống thì thay bằng Tổ khảo, Tổ Tỷ)
    Tín chủ chúng con là:…………
    Ngụ tại:…………………………..
    Hôm nay là ngày Đoan Ngọ, chúng con sửa sang hương đăng, sắm sanh lễ vật, hoa đăng, trà quả dâng lên trước án.
    Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng, Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài thần, cúi xin các Ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật.
    Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ…………………, cúi xin các vị thương xót con cháu chứng giám tâm thành thụ hưởng lễ vật.
    Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ tại nhà này, đất này đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng, độ cho chúng con thân cung khang thái, bản mệnh bình an. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng bình an thịnh vượng.
    Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
    Nam mô a di Đà Phật!
    Nam mô a di Đà Phật!
    Nam mô a di Đà Phật!
    Trên đây là bài văn cúng Tết Đoan Ngọ bạn có thể tham khảo và sử dụng trong ngày lễ này tại gia đình. Ngoài ra, trong ngày Tết đoan ngọ, người ta không thể thiếu được các món ăn đặc trưng riêng cho ngày tết này như thịt vịt, cơm rượu nếp, bánh tro chấm mật…
Đăng bởi

Gìn giữ bản sắc dân tộc, Thương hiệu Hương Tâm Linh được lưu truyền mãi trong dân gian

Tiếp nối truyền thống, kinh nghiệm dân gian và các bậc tiền nhân về hàng ngàn loại thảo mộc làm nhang. Hương Tâm Linh đã kết hợp cùng các phòng nghiên cứu thực vật trong và ngoài nước xây dựng lên nền tảng các công thức sản xuất chuỗi sản phẩm của Hương Tâm Linh.

Mỗi loài thảo mộc sinh trưởng tại một vài địa phương nhất định, khí hậu, thổ nhưỡng mỗi nơi khác nhau sẽ kết tụ tạo nên ra tinh dầu mang đặc trưng của vùng thổ nhưỡng đó.

Để tạo ra một nén hương thơm cần phải hiểu rõ tính sinh hóa hàng ngàn loại thảo mộc, phải biết chọn nắng để phơi, tăm nhang phải biết xử lý để vừa đảm bảo nhu cầu người tiêu dùng là đậu tàn nhưng không độc hại.

Đơn cử, khi xưa các bậc tiền nhân thường sử dụng Trầm để làm nguyên liệu, thực ra trầm hương được hình thành đặc biệt từ cây dó bầu, dân gian có đồn rằng hương trời bay theo gió đã đáp xuống những cây bị thương hay bị hư, lâu ngày những cây này sẽ trở thành cây trầm hương.

Cây dó bầu có nhiều hình thù xấu xí, bị hư hại do các tác động của môi trường, thiên nhiên làm cây bị mục nát hoặc khô cằn. Cây dó bầu có tên khoa học là Aquilaria trong quá trình phát triển cây bị một số trường hợp nào đó bị những tổn thương làm cây bị nhiễm bệnh và tích tụ nên một dạng nhựa rồi sau đó lan ra khắp cây làm các phân tử bị biến đổi nên cây có rất nhiều màu sắc, hình thù và hương thơm. Từ đó hình thành nên Trầm hương mà nhiều người mong muốn sử dụng như ngày nay. ( Cây dó bầu là cội nguồn hình thành nên cây Trầm tốt và Kỳ nam ), Trầm hương có lượng dầu rất cao thường là >25% nên có mùi thơm đặc biệt và nhất khi khi đốt. Trầm hương chính hiệu hoặc cao cấp thì thường có lượng dầu đạt 60-80% nên rất quý hiếm.

Đứng trước việc nguyên liệu khan hiếm, cũng như giá thành lên đến hàng trăm triệu/kg mà không có mà mua khiến CEO Hương Tâm Linh hiện tại nhiều đêm mất ngủ. Tìm lại tài liệu còn lưu giữ trong tàng kinh các của Hãng, CEO Hương Tâm Linh vô cùng ngạc nhiên trước một trang tài liệu bằng gỗ ghi lại lời di huấn của CEO Hương Tâm Linh đời thứ nhất – Người đã tìm ra công thức pha trộn các loài thảo mộc để tạo một mùi thơm vượt trội mùi Trầm, Người viết; sau này người hữu duyên sẽ nắm giữ công thức đó. Công thức đươc chia ra thành nhiều phần và truyền lại trong dân gian, chỉ người nào một lòng thành kính gìn giữ bản sắc dân tộc, có đức tính hiếu học, hướng thiện thì  sẽ gặp được.

Lời di huấn đó như một bổ đề toàn học khiến hàng trăm CEO Hương Tâm Linh đời sau cất công tìm kiếm, nghiên cứu và thường mỗi đời CEO Hương Tâm Linh đều để lại một kiệt tác lưu giữ cho muôn đời sau.

Trong một lần tiếp xúc làm việc với chuyên gia Nhật bản, họ đánh giá mùi thơm của Hương Tâm Linh có thể nói là tinh hoa của nhân loại, giữ gìn được truyền thống từ thửa xa xưa xã hội loài người khi mà con người phát minh ra lửa.

Tác giả; CEO Hương Tâm Linh

Nguồn; huongtamlinh.vn

Đăng bởi

Người xưa sản xuất hương sạch, hương hữu cơ như thế nào?

Hương sạch Tâm Linh xin trích một phần Quy trình  sản xuất hương sạch, hương hữu cơ từ thời xa xưa mà cha ông ta đã để lại cho thế hệ chúng ta hiện nay.

1.      Nước được sử dụng trong khi trộn bột phải là nước mưa.
2.      Khu vực sản xuất hương được quét dọn sạch sẽ,  cách ly tốt khỏi các nguồn ô nhiễm như các trục đường giao thông…
3.      Không sử dụng  các hóa chất tạo mùi, tạo màu.
4.      Không sử dụng chất dẫn cháy
5.      Không sử dụng máy móc trong suốt quá trình từ xay thuốc cho đến khi ra sản phẩm cuối cùng.
6.      Các thiết bị như máy sấy, lò sấy  được sử dụng trong sản xuất hương hóa chất hiện nay  không được người xưa sử dụng. Tất cả sản phẩm đều được phải phơi nắng tự nhiên.
7.      Các dụng cụ đã dùng trong sản xuất phải được làm sạch trước khi đưa vào sử dụng
8.      Người thợ  phải  ghi chép cẩn thận chi tiết từng loại thảo mộc để kiểm tra mùi khi ra sản phẩm cuối cùng.
9.      Người thợ phải vệ sinh thân thể, quần áo sạch sẽ trước khi bước vào khu sản xuất.
11.  Các loại thảo mộc phải tuân thủ đúng quy trình hái lượm theo mùa, vụ, thời tiết.
12.    Khi sản phẩm đã hoàn thiện thì người thợ phải đốt thử vào buổi sáng sớm tinh mơ hoặc đêm trong phòng kín để tự mình cảm nhận mùi thơm xem đã đạt hay chưa.
13.  Người thợ luôn phải giữ tâm hồn trong sáng, trạng thái tinh thần vui tươi, sảng khoái để cảm nhận tiết trời mới có thể pha chế tỷ lệ các loại thảo mộc có trong bài bài thuốc một cách phù hợp.
14.  Một người thợ lành nghề trước khi về già phải tìm ra được người trẻ kế cận để truyền thụ lại công thức mà đời trước đã truyền lại, người được truyền thụ lại công thức bí truyền đó bắt buộc phải là người có tấm lòng trung thực, cẩn thận.

Theo: CEO Hương Tâm Linh
Đăng bởi

Hướng dẫn chuẩn bị lễ vật, nghi lễ, nghi thức cúng thôi nôi cho bé.

Mâm cúng thôi nôi gồm những gì?

Sau khi đứa bé được ra đời và để khẳng định sự tồn tại và vai trò của thành viên mới trong gia đình, dòng họ, thì các ông bố bà mẹ sẽ chuẩn bị 1 mâm lễ cúng đầy tháng, và sau đó là mâm lễ cúng thôi nôi cho đứa con mới sinh của mình khi bé đã tròn 1 tháng tuổi, và khi được 1 tuổi. Đây là 1 nghi thức vô cùng có ý nghĩa đối với mỗi con người nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

Cách tính ngày cúng thôi nôi cho bé.

Theo cách tính truyền thống của Ông Bà và cách tính truyền thống thì ngày đầy tháng của bé được căn cứ và lịch âm và tùy thuộc vào giới tính (bé trai hay bé gái), nếu như bé gái thì ngày cũng sẽ lùi lại 2 ngày còn bé trai thì sẽ lùi lại 1 ngày, (Gái lùi 2, Trai lùi 1). Còn giờ cúng thì lễ cúng thường được cúng vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối.

Các lễ vật của mâm thôi nôi.

Theo tín ngưỡng dân gian từ khi bé trong bụng mẹ và đến khi bé sinh ra là được 12 Bà Mụ và 1 Bà Chúa chăm sóc, do đó trong mâm cúng phải đầy đủ  12 chén chè nhỏ, 12 dĩa xôi nhỏ, 12 chén cháo nhỏ, và 1 xôi lớn, 1 chè lớn, 1 cháo lớn. Ngoài ra còn có các lễ vật khác để cúng Đức Ông và 3  Đức Thầy như trái cây, hoa, nhang, đèn cầy, gạo muối, trà, rượu, nước, giấy cúng, tràu tem cánh phượng…. Cùng các lễ vật này thì còn có thêm chén, đũa, muỗng và không thể thiếu 1 đôi đũa hoa vì theo quan niệm thì Bà chúa chỉ thích dùng đũa này.

Hướng dẫn cách sắp bàn cúng.

Cũng theo quan niên dân gian từ xưa tới giờ thì mâm cúng được sắp theo nguyên tắc “Đông bình Tây quả” tức là ở phía đông đặt bình bông còn phía tây đặt lễ vật. Mâm cúng đầy tháng được chia làm 2 bàn, 1 bàn trên và 1 bàn dưới cách nhau 10 phân.

Nghi lễ cúng thôi nôi.

Người xưa tin rằng, mỗi một đứa trẻ khỏe mạnh ra đời là công lao rất lớn của bà Mụ, người được cho là có công nặn và giúp mẹ tròn con vuông. Trên hết, đây còn là nghi thức để ra mắt một thành viên mới trong gia đình với họ hàng, bà con trong dòng tộc.

Nghi thức thắp nhang và khấn.

Sau khi đặt hết lễ vật lên trên bàn cúng thì 1 người lớn trong gia đình, dòng họ (ông, bà, bố, mẹ) sẽ đại diện 1 người lên thực hiện nghi lễ thắp nhang và khấn.

Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ tát
–   Con lạy Đệ nhất Thiên tỷ đại tiên chúa
–   Con kính lạy Đệ nhị Thiên đế đại tiên chúa
–   Con kính lạy Đệ tam Thiên Mụ đại tiên chúa
–   Con kính lạy Tam thập lục cung chư vị Tiên Nương
Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm ……
Vợ chồng con là ……………… sinh được con (trai, gái) đặt tên là …………
Chúng con ngụ tại …………
Nay nhân ngày đầy năm chúng con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật và các thứ cúng dâng bày lên trước án, trước bàn toạ chư vị Tôn thần kính cẩn tâu trình:
 Nhờ ơn thập phương chư Phật, chư vị Thánh hiền, chư vị Tiên Bà, các đấng Thần linh, Thổ công địa mạch, Thổ địa chính thần, Tiên tổ nội ngoại, cho con sinh ra cháu, tên …………….. sinh ngày ………………… được mẹ tròn, con vuông.
Cúi xin chư vị tiên Bà, chư vị Tôn thần giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật , phù hộ độ trì, vuốt ve che chở cho cháu được ăn ngon, ngủ yên, hay ăn chóng lớn, vô bệnh vô tật, vô ương, vô hạn, vô ách, phù hộ cho cháu bé được tươi đẹp, thông minh, sáng láng, thân mệnh bình yên, cường tráng, kiếp kiếp được hưởng vinh hoa phú quý. Gia đình con được phúc thọ an khang, nhân lành nảy nở, nghiệp dữ tiêu tan, bốn mùa không hạn ách nghĩ lo.
Xin thành tâm đỉnh lễ, cúi xin được chứng giám lòng thành.
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
(Khi đã khấn xong thì bố hoặc mẹ  tay bé lại vái trước án 3 vái sau 3 tuần hương thì tạ lễ. Sau đó gia đình mang vàng mã, váy áo đi hoá, vẩy rượu lúc đang hoá. Các đồ chơi thì giữ lại cho cháu bé lấy khước.
Cuối cùng cả gia đình và bạn bè cùng thụ lộc chúc cho cháu bé mọi điều tốt lành).

(Khi đã khấn xong thì bố hoặc mẹ  tay bé lại vái trước án 3 vái sau 3 tuần hương thì tạ lễ. sau đó gia đình mang vàng mã, váy áo đi hoá, vẩy rượu lúc đang hoá. Các đồ chơi thì giữ lại cho cháu bé lấy khước.

Cuối cùng cả gia đình và bạn bè cùng thụ lộc chúc cho cháu bé mọi điều tốt lành).

Sau tất cả các nghi thức này là lời cầu chúc và lì xì của những người họ hàng trong dòng tộc cũng như các vị khách tham dự tiệc mừng.
Đăng bởi

GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA ĐẠO MẪU VIỆT NAM QUA CÁC TRUYỀN THUYẾT VÀ HUYỀN THOẠI

Việc nhận thức đúng những giá trị của đạo Mẫu Việt Nam có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn, từ đó xác định thái độ của các tín hữu đạo Mẫu, của những người quản lý xã hội và người dân đối với di sản văn hóa tinh thần này.

Có thể nêu một số giá trị tiêu biểu như: “Mẹ tự nhiên”, một thế giới quan cổ xưa của người Việt; Hướng con người đến thái độ sống hòa hợp, hòa nhập, khiến cho đạo Mẫu trở thành biểu tượng đa văn hóa tộc người; “Lên đồng” là một nghi lễ quan trọng bậc nhất của đạo Mẫu, là một hình thức diễn xướng tâm linh, một “bảo tàng sống” của văn hóa dân tộc Việt; Xác lập một nhân sinh quan tín ngưỡng của người Việt hướng về đời sống trần thế, đó là cầu mong sức khỏe, tiền tài, phúc lộc; Đạo Mẫu là một thứ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được tâm linh hóa, tín ngưỡng hóa.

Nhân sinh quan tín ngưỡng

Khác với nhiều tôn giáo tín ngưỡng, dù đó là Phật giáo, Kitô giáo, đạo Mẫu không hướng chính con người và niềm tin của con người về thế giới sau khi chết, mà là thế giới hiện tại, thế giới mà con người cần phải có sức khỏe, có tiền tài và quan lộc. Đó là một nhân sinh quan mang tính tích cực, phù hợp với quan niệm “hiện sinh” của con người trong thế giới hiện đại. Đây cũng là cách tư duy thể hiện tính “thực tế”, “thực dụng” của con người Việt Nam.

Chúng ta cũng khó đo đếm được có bao nhiêu con người Việt Nam tin vào sức mạnh và sự kỳ diệu của Thánh Mẫu. Chỉ biết rằng, không chỉ hàng ngày người ta đến cầu xin Thánh Mẫu, mà còn vào những dịp hội hè, lễ tiết theo chu kỳ “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ” số lượt người trẩy hội đến các đền phủ tăng gấp bội để cầu mong Mẫu ban cho mình sức khỏe và tài lộc.

Trong nghiên cứu hiện nay, các nhà khoa học đã bắt đầu lý giải được việc những người có căn số, tức là những người có những đặc tính tâm sinh lý đặc biệt, dễ bị ảnh hưởng của xã hội, nên dễ dẫn đến tình trạng rối loạn về tâm lý và hành vi, thì thường sau khi ra trình đồng đều khỏi bệnh, trở về trạng thái tâm sinh lý bình thường. Thậm chí, ngay cả với những người dù không có “căn đồng” mà chỉ để giải tỏa, giải trí trước những sức ép của nhịp sống xã hội đô thị hiện đại (dân gian gọi là đồng đua, đồng đú), thì khi lên đồng cũng giúp họ giải tỏa được những stress. Đó là tác dụng trị liệu của đạo Mẫu và Lên đồng.

Những tín đồ của đạo Mẫu, nhất là những người làm nghề kinh doanh buôn bán có một niềm tin mãnh liệt vào Thánh Mẫu, người có thể phù hộ cho họ buôn bán phát đạt. Ở đây, chúng ta khó có thể lý giải được thực sự có hay không một lực lượng siêu nhiên nào đã hỗ trợ cho họ trong việc kinh doanh buôn bán, có lẽ lúc này, niềm tin của con người giữ vai trò quyết định, có thể tạo nên sức mạnh vật chất thực sự.

Tín ngưỡng hóa, tâm linh hóa

Đạo Mẫu, thông qua các ký ức, các truyền thuyết và huyền thoại, qua các nghi lễ và lễ hội đã thể hiện rõ ý thức lịch sử và ý thức xã hội của mình. Trong điện thần của đạo Mẫu, hầu hết các vị thánh đã được lịch sử hóa, tức là đều hóa thân thành những con người có danh tiếng, có công trạng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tất nhiên, trên thực tế có không ít những vị thánh thần vốn thoát thai từ các nhân vật có thật trong lịch sử, sau này được người đời tô vẽ, thần tượng lên thành các vị thần thánh, tức là các vị thần thánh có “nguyên mẫu” trong lịch sử (Trần Hưng Đạo – Đức Thánh Trần, Mẹ Âu Cơ – Mẫu Thượng Ngàn, Lê Khôi hay Nguyễn Xí – Ông Hoàng Mười, Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan – Ông Hoàng Bơ, Bà Lê Chân – Thánh Mẫu Bát Nàn…). Ngoài ra còn có nhiều vị thần linh, vốn là các thiên thần hay nhiên thần, nhưng lại được người đời “nhân thần hóa” hay “lịch sử hóa”, gán cho họ có sự nghiệp, có công trạng với đất nước hay từng địa phương.

Bằng cách đó, đạo Mẫu gắn bó với cội nguồn và lịch sử dân tộc, để trở thành một biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, một thứ chủ nghĩa yêu nước để được tín ngưỡng hóa, tâm linh hóa, mà trong đó người Mẹ – Mẫu là nhân vật trung tâm ..

Chính những giá trị nhận thức, giá trị lịch sử, truyền thống, xã hội, văn hoá kể trên đã làm cho đạo Mẫu trở thành một trong những tôn giáo tín ngưỡng bản địa hàng đầu của các dân tộc Việt Nam.

*Danh sách các vị thần gồm:

Tam Tòa Thánh Mẫu

Mẫu Thượng Thiên

Mẫu Thượng Ngàn

Mẫu Thoải

Hàng Quan

Quan đệ nhất thượng Thiên

Quan đệ nhị giám sát thượng ngàn

Quan đệ Tam Thoải Cung

Quan đệ Tứ khâm sai

Quan đệ ngũ Tuần tranh

Ngoài ra còn có Quan lớn Điều Thất, Quan Hoàng Triệu Tường

Các vị Quan hay được hầu là Quan đệ Nhất, Quan đệ Nhị, Quan đệ Tam, Quan đệ Ngũ

Hàng Chầu bà

Chầu đệ nhất thượng thiên, Chầu đệ nhị thượng ngàn, Chầu đệ tam thoải cung, Chầu đệ tứ khâm sai, Chầu năm suối Lân, Chầu Lục cung nương, Chầu Bảy Kim Giao (Chầu Bảy Tân La), Chầu Bát Nàn Đại Tướng Đông Nhung, Chầu Cửu Sòng Sơn, Chầu Mười Đồng Mỏ, Chầu Bé Bắc Lệ.

Các vị Chầu phổ biến hay hầu bóng gồm Chầu đệ nhị, Chầu Lục, Chầu Bát, Chầu Mười, Chầu bé

Ngoài ra còn một số vị Chầu khác cũng có hát văn, nhưng về cơ bản ít được hầu bóng, hoặc là chỉ ở một địa phương.

Hàng ông Hoàng

Hoàng Cả

Hoàng đôi Bảo Hà

Hoàng Bơ Thoải Quốc

Hoàng Tư

Hoàng Năm

Hoàng Lục Thanh Hà

Hoàng Bảy Bảo Hà

Hoàng Bát Bắc Quốc

Hoàng Chín Cờn Môn

Hoàng Mười Nghệ An

Các giá Hoàng thường ngự đồng là Hoàng Bơ, Hoàng Bảy, Hoàng Mười

Hàng Cô – Cậu

Cô Nhất Thượng Thiên, Cô đôi thượng ngàn, Cô đôi Cam Đường, cô Bơ thoải cung, cô Tư Ỷ La, cô Năm Suối Lân, cô Sáu sơn trang, cô Bảy Kim Giao (Cô Bảy Tân La), cô Tám đồi chè, Cô Chín Sòng Sơn, Cô Mười Mỏ Ba, Hội đồng các cô Bé: cô Bé thượng ngàn, cô Bé Đông Cuông, cô Bé Suối Ngang,…

Cậu Cả, Cậu Đôi, cậu Bơ, Cậu hoàng bé bản đền, Cậu Bé Đồi Ngang

Hàng Ngũ Hổ ông Lốt

Tức là năm ông hổ tượng trưng ngũ hành, và Lốt (Thuồng Luồng*)

*Các trung tâm thờ mẫu tiêu biểu:

  • Nam Định: có 352 di tích lịch sử – văn hoá thờ và phối thờ Mẫu; trong đó có 220 phủ, 16 miếu, 72 chùa phối thờ, 44 đền, đình thờ chung với thành hoàng làng, tiêu biểu như Phủ Dầy (huyện Vụ Bản), Phủ Quảng Cung (Xã Yên Đồng, huyện Ý Yên), Phủ Nấp.
  • Hà Nam: có 185 di tích thờ Mẫu, tiêu biểu như: Đền Lảnh Giang (Duy Tiên), đền Trần Thương, đền Bà Vũ, đền Mẫu Cửu Tỉnh.
  • Ninh Bình: có 415 di tích lịch sử văn hóa thờ và phối thờ Mẫu, tiêu biểu như: Đền Dâu, đền Quán Cháo, phủ Đồi Ngang, phủ Sòng Xanh, phủ Châu Sơn, đền Cô Đôi Thượng Ngàn, đền Vân Thị, đền Sầy, chùa Bái Đính cổ, đền Quèn Thạch, đền Thung Lá, đền Mẫu Thượng…
  • Hà Nội: có 1014 di tích thờ Mẫu và 886 điện tư gia, tiêu biểu như: Phủ Tây Hồ, Đền Quan Tam Phủ, đền Rừng, đền Lừ, đền An Thọ, đền Bà Kiệu, đền Liên Hoa, Đền Sét…
  • Thái Bình: Đền Tiên La thờ Chầu Bát, Đền Đồng Bằng thờ Vua Cha Bát Hải, Đền Hưng Long thờ Quan Hoàng Bơ, Đền Thánh Mẫu thờ Đinh Triều Hoàng Hậu.
  • Hải Dương: Di tích đền Đoan; đền thờ quan Tam phủ, đền Mẫu The, đền mẫu Kinh Câu và đền Mẫu Sinh,…
  • Hưng Yên: Đền Mẫu Hưng Yên,
  • Hải Phòng: Đền thờ quan Đệ tứ.
  • Vĩnh Phúc: có 60 điểm tín ngưỡng thờ Mẫu như: Đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên,Chúa bà đệ nhất Tây Thiên-Đại Đình -Tam Đảo, Đền Chân Suối, Đền bà chúa thượng ngàn, Đền chúa Mán -Đông Hội, Đền Thanh Lanh.
  • Bắc Giang: Đền Suối Mỡ, đền Nguyệt Hồ, đền Từ Mận, đền Đà Hy, đền Phủ.
  • Phú Thọ: Đền Tam Giang, Đền thờ Tam tòa Thánh Mẫu.
  • Lạng Sơn: Đền Mẫu Sơn, đền Bắc Lệ,…
  • Hòa Bình: Đền Bồng Lai, đền Mẫu Thác Bờ,
  • Lào Cai: Đền thờ ông Hoàng Bảy ở Bảo Hà.
  • Yên Bái: Đền Đông Cuông,
  • Tuyên Quang: đền Ghềnh Quýt, đền Pha Lô, đền Đồng Xuân, đền Cảnh Xanh, đền Mẫu Ỷ La, đền Lương Quán, đền Mỏ Than, đền Lâm Sơn, đền Quang Kiều, đền Cấm, đền Ba Khuôn và đền Minh Lương.
  • Thanh Hóa: Đền Sòng Sơn, đền Rồng, đền Nước,…
  • Nghệ An: Đền thờ ông Hoàng Mười, đền Hồng Sơn, đền Cửa, đền Ngọc Điền, đền Pu Nhạ Thầu.
  • Hà Tĩnh: Đền thờ ông Hoàng Mười, đền Nước Lạt, Miếu Chai (Thạch Đài), đền Văn Sơn (Thạch Đỉnh).
  • Thừa Thiên Huế: Điện Hòn Chén.
  • Thành phố Hồ Chí Minh: Đền Mẫu, đền Đằng Giang, đền Chầu Lục.
Đăng bởi

CEO Hương Tâm Linh: Tìm trong từ điển xưa, sản phẩm tiêu dùng cổ nhất thế giới

Hương, Nhang là sản phẩm hàng tiêu dùng cổ xưa nhất thế giới, Hương đã góp mặt trong cuộc sống của con người kể từ khi trái đất hình thành và con người khám phá ra lửa. Mỗi vùng đất, mỗi quốc gia đều sử dụng mỗi loại thảo mộc khác nhau tạo nên nén Hương mang đặc trưng mang tính truyền thống riêng. Xin giới thiệu tới bạn đọc lịch sử một loại Hương đã và đang được cả thế giới vinh danh: Hương Tâm Linh.


Hương  là sản phẩm của tộc người sống ở vùng phía nam châu thổ sông Hồng từ thời kỳ đồ đá cũ, một vùng đất trù phú cả về tài nguyên thiên nhiên lẫn nguồn lực con người, họ sống nhờ khai thác các loài nhuyễn thể có vỏ (như vỏ ốc, trai, hàu) nước ngọt và biển (đồng thời); Con người cư trú hầu như chỉ ở trong hang động, không ở ngoài trời.

Trong điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh sống như vậy, tộc người cổ ở đây thường đốt lửa để xua đuổi thú dữ, sưởi ấm không khí lạnh lẽo trong hang động, hay như mỗi lần đi đánh bắt thủy, hải sản  thì họ thường đốt lửa  làm các nghi lễ mong thời tiết, mưa thuận gió hòa để có thể thu lượm được nhiều sản vật.

Vùng nam Sông Hồng là vùng đất nằm ở ngã ba của đồng bằng, rừng núi, biển  thời  cổ đại,  nơi đây hội tụ và thử thách sức sáng tạo, sự siêng năng của những con người mà ý tưởng của họ có sức lan toả nhanh chóng đến các vùng đất lân cận.

Theo thời gian, từ những thói quen đốt lửa hàng ngày người dân nơi đây đã biết sử dụng những loài thảo mộc chứa nhiều tinh dầu khi đốt lên có hương thơm.  Di sản của vùng đất  này cũng đã trở thành một phần của ký ức. Người dân nơi đây vẫn lưu truyền về nhiều truyền thuyết về cây Hương, Nhang mà nổi bật hơn cả chính là truyền thuyết về Hương Tâm Linh. Người sáng lập ra nhãn hiệu Hương Tâm Linh  là những người luôn có ý nghĩ vượt ra ngoài những điều thông thường đã được chấp nhận, Ông sống rất thực tế, luôn tuân thủ theo những luật lệ và tiêu chuẩn riêng. Chính Hương Tâm Linh đã đưa cây Hương của vùng đất nam Sông Hồng lên bản đồ Hương thảo mộc thế giới.

Hương Tâm Linh dẫn đầu trong việc phát triển công thức pha chế các loài thảo mộc, đơn cử   như Người sáng lập ra Hương Tâm Linh – là người đầu tiên sử dụng các loài thảo mộc để làm Hương vừa có mùi thơm, tẩy sạch không khí và  lưu giữ hương thơm trong thời gian dài.

Tuy nhiên, sự đổi mới này vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu  giới quý tộc, thượng lưu phong kiến thời đó, một thời gian sau người sáng lập ra nhãn hiệu Hương Tâm Linh đã pha chế thành công các loại thảo mộc để sản xuất  ra một loại Hương mà khi đốt lên mùi thơm lan tỏa khiến tâm trạng người sử dụng luôn tràn ngập niềm vui nếu như có việc hỷ,  hay được chia sẻ nỗi buồn nếu như có việc hiếu. Đặc biệt, Hương Tâm Linh đã tích hợp công dụng chữa  bệnh về đường hô hấp thông qua việc đốt Hương.

Để chắc chắn rằng công thức được lưu truyền từ đời này sang đời khác, Người sáng lập ra Hương Tâm Linh đã ghi lại công thức pha chế trên trong một bức họa đồ, được cất giữ cẩn thận trong mật viện. Mặt khác, Ông cũng đi khắp thiên hạ để truyền lại cho mỗi vùng đất một phần công thức bí truyền trên. Đời sau chỉ người nào thật sự hữu duyên sẽ giải mật được bức họa đồ, hoặc được tất cả những người nắm giữ một phần khẩu quyết truyền thụ lại thì sẽ sản xuất được sản phẩm hoàn nguyên thời kỳ đầu của Hương Tâm Linh.

Một số người cho rằng, Hương Tâm Linh ngày này đã được thay đổi nhiều để thoả mãn yêu cầu của khách hàng. Nhưng những người mà biết rõ nhất về  Hương Tâm Linh  thì sẽ nói với bạn rằng: Bạn có thể nhận biết loại Hương Tâm Linh nguyên gốc  được tạo nên bởi mùi thơm thảo mộc  và tất nhiên là cả hương vị đặc trưng thảo mộc như:  thơm lâu, dễ chịu, không gây nhức đầu hay cay mắt, mùi thơm luôn phảng phất cả  truyền thuyết về một tộc người – một dân tộc anh hùng bất khuất đã sống, chiến đấu với mọi thử thách của thời gian tồn tại đến ngày hôm nay. Sử dụng Hương Tâm Linh là chúng ta đang sống trong một câu chuyện cổ tích còn hiện hữu trong cuộc sống thường nhật.

Đăng bởi

Cách sắm lễ vật, hành lễ, khấn bái khi đi chùa

Đi chùa là một phong tục đẹp của người Việt Nam trong những ngày giằm , mùng một, ngày lễ Tết hay những lúc gia đình có việc quan trọng hoặc tâm trạng bế tắc người ta cũng cầu khấn đến chùa. Việc đi chùa thành tâm khấn Phật , chư đại Bồ Tát, Thánh Hiền làm tăng thêm phúc đức bản mệnh tai qua nạn khỏi , tiêu trừ điềm xấu mang lại tâm lý bình an cho người đi và gia đình. Khi lên chùa ngoài thành tâm bạn cũng cần sắm sửa lễ vật cho phải đạo.

Cách sắm lễ vật khi đi chùa

Việc sắm sửa lễ vật khi đi chùa, đi tế lễ cần biết những quy định cơ bản của nhà chùa mà bạn cần tuân thủ.
– Chùa là nơi thanh tịnh nên khi sắm sửa lễ vật bạn phải chọn những lễ chay như hương , hoa quả tươi, oản, xôi chè và cấm kị lễ vật mặn như một số người thường mang lên chùa. Nếu mang như vậy không khác gì phỉ báng thánh thần vì họ chỉ ăn chay, dâng đồ mặn thật khó coi.
– Dâng lễ mặn chỉ được áp dụng trong trường hợp đền chùa đó có các vị Thánh , Mẫu, Thành Hoàng,…Các vị này thường an tọa ở các khu ngoài chính điện. Lễ mặn có thể dâng gồm gà , giò , chả, rượu, trầu cau.
– Đi chùa có thể chuẩn bị tiền giấy âm phủ và hương nhưng chớ đặt tiền thật hoặc vàng mã lên hương án, chính điện kẻo bị cho là đút lót thánh thần, lợi bất cập hại. Tiền hãy để vào hòm công đức để cải tạo chùa chiền mang lại phúc đức lâu dài cho con cháu.
– Dâng hoa ở các đền chùa nên chọn các loại hoa thanh tao như hoa sen, hoa huệ, mẫu đơn, hoa cúc… Tránh dùng những loại hoa lạ, hoa dại

Cách hành lễ khi đi chùa

Hành lễ đi chùa cũng cần có phép tắc và thứ tự. Trước hết hãy đặt lễ vật lên và thắp hương ở chính điện trước. Sau khi đặt lễ và thắp hương ở chính điện xong hãy đi đến các bạn thờ khá, thường đều có 3-5 ban để thờ mẫu, tứ phủ, bạn cần đặt lễ và dâng hương tất cả tránh sót ban thờ nào. Nếu đình chùa có nhà thờ Tổ, nhà Hậu thì cũng cần phải ghé qua. Cuối buổi lễ sau khi lễ tạ để hạ lễ thì nên đến trai giới hay phòng khách để thăm hỏi và trò chuyện với các nhà sư và công đức nếu có.

Cách khấn bái khi lễ chùa.

1. Khấn ở ban Tam Bảo
Nam mô a di đà phật (3 lần 3 lạy)
Đệ tử con nay thành tâm kính lạy mười phương chư Phật
Hôm nay là ngày, tháng , năm. Tín chủ con là… ngụ tại… Con thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng lên mười phương thường trụ Tam Bảo. Kính xin chư vị rủ lòng từ bi , phù hộ độ trì cho con được …. (công danh, tài lộc, nhân duyên, sức khỏe)….
Chúng con người trần phàm tục còn nhiều lỗi lầm, cúi mong Phật Thánh từ bi đại xá để cho con và gia đình được tai qua nạn khỏi, mọi sự bình an, sở cầu như ý.
Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin phù hộ độ trì.
Nam mô a di đà Phật (3 lần 3 lạy)
2. Khấn bồ Tát, thánh hiền
Tương tự như khấn ở tam bảo chỉ cần thay ở đoạn “Đệ tử con nay thành tâm kính lạy mười phương chư Phật” thành ban bệ cần khấn. Ngoài ra bạn cũng có thể thành tâm khấn nôm theo ý hiểu của mình. Không nên mưu cầu quá nhiều về lợi lộc cá nhân.
Đăng bởi

Hương Tâm Linh – Kiệt tác tạo hóa đã ban tặng

Tuyệt phẩm quý hiếm nhất hành tinh. Vào khoảng 30.000 năm trước công nguyên, người Việt cổ đã biết sử dụng những cành, cây khô đốt lên để sưởi ấm và xua đuổi thú dữ. Thửa ban đầu, người Việt cổ đốt mọi cây củi khô mà họ thu lượm được, theo thời gian họ phát hiện ra rằng không phải cây nào đốt lên cũng giống nhau, như cây gỗ lim đốt lên than rất hồng, giữ nhiệt lâu nhưng tỏa ra mùi khét và khi hít phải khói đó thì cơ thể trở nên mệt mỏi. Ngược lại, đốt cây bầu gió thì có mùi thơm dễ chịu, thần kinh trở nên hưng phấn, cơ thể khỏe mạnh, đặc biệt là nhiều loại côn trùng đều không dám đến gần.

Ngày nay, cây bầu gió có Trầm gần như đã tuyệt chủng, để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng thì cây bầu gió được trồng và tạo Trầm nhân tạo khiến cho việc để mua được Trầm quá dễ dàng. Chính sự phổ biến ấy đã trở thành hạn chế của những nhà sản xuất hương/nhang vẫn sử dụng nguyên liệu Trầm cổ xưa – chất liệu từng được coi là đắt giá nhất lịch sử loài người, nhân loại vẫn luôn trân trọng những giá trị quý báu của Trầm và được coi là quà tặng quý hơn bạch kim mà tạo hóa ban tặng.

Chúng ta cùng làm phép so sánh để thấy Trầm quý hiếm như thế nào. Bạch kim mỗi năm con người khai thác được 130 tấn, chỉ có 4 khu vực trên trái đất sở hữu Bạch Kim đã cho thấy sự khan hiếm của loại khoáng sản này trên toàn thế giới. Điều ấn tượng mà Bạch Kim mang tới chính là một vẻ đẹp hút hồn với sắc trắng thuần khiết đầy chiều sâu. Vẻ đẹp ấy khác hẳn với màu trắng ánh kim của Vàng trắng, trắng lạnh của đồ mạ Crom và trắng nhạt của Bạc. Bạch Kim được người chơi “sùng bái” chính bởi giá trị của sự thuần khiết, nguyên chất và vẻ đẹp xóa nhòa dấu vết thời gian, nâng phong cách và đẳng cấp thụ hưởng cuộc sống của các tín đồ trang sức lên một tầm cao mới.

Cây bầu gió phân bố ở Iran, ấn độ và Đông Nam á. Trầm hương sinh ra từ cây dó, nhưng không phải loài dó nào cũng tạo ra trầm hương. Theo thống kê của ngành thực vật học, thế giới có khoảng 25 loài dó, nhưng chỉ 15 lòai có khả năng cho trầm hương gồm: Aquilaria crassna; A.baillonii; A.sinensis hoặc A.chinesis; A.borneensis ; A.malaccensis ; A.gollocha ; A.hirta; A.rostrata; A.beccariana; A.cummingiana; A.filaria; A.khasiana; A.microcarpa; A.grandiflora; A.bancana. Trong số những cây bầu gió đó chỉ có rất ít là có trầm, trong quá trình sinh trưởng, do những tác động nào đó, gây ra những “tổn thương/nhiễm bệnh”, lâu ngày cây tích tụ một chất dạng nhựa (dầu), rồi lan dần ra, làm biến đổi các phân tử gỗ, tạo nên nhiều màu sắc (đen, nâu, chàm, xám, … ), nhiều tính chất (cứng, mềm, dẻo, dòn …), nhiều mùi vị (đắng, cay, chua, ngọt, … ), nhiều hình dáng (tròn, xoắn, nhọn, dài, … ), ở nhiều vị trí (thân, cành, rễ) trong cây dó. Đó chính là trầm hương, có tên giao dịch thương mại Quốc tế Agarwood hay Eaglewood.

Đặc điểm nổi bật của trầm hương là tỏa mùi thơm đặc biệt lúc đốt hoặc chưa đốt. Khi hàm lượng dầu lớn hơn 25%, trầm hương có thể chìm trong nước. Lọai trầm hương cao cấp có thể đạt hàm lượng dầu 60-80%. Căn cứ mức độ nhiễm dầu, màu sắc, hương vị, hình dáng, trọng lượng, xuất xứ … mà trầm hương có các tên gọi khác nhau như: Trầm mắt tử, trầm mắt đảo, trầm bọ sánh, trầm bông, trầm da báo, trầm điệp lá, trầm điệp trai, trầm kiến xanh, trầm kiến lọn, trầm rục, trầm sanh …

Theo Đông y, trầm hương là vị thuốc quý hiếm, có vị cay, tính ôn, vào ba kinh: tì, vị, thận; có tác dụng dáng khí, nạp thận, bình can tráng nguyên dương, chữa các bệnh đau bụng, đau ngực, nôn mửa, hen suyển, lợi tiểu, giảm đau, trấn tĩnh, hạ sốt, cấm khẩu, thổ huyết, khó thở.

Theo Tây y, trầm hương có tính kháng sinh, tạo kháng thể mạnh (diệt khuẩn, làm lành vết thương), có tác dụng chữa một số bệnh như bệnh về tim mạch (suy tim, đau ngực), bệnh về hô hấp (hen suyễn), bệnh về thần kinh (an thần, mất ngủ, giảm đau, trấn tĩnh …), bệnh về tiêu hoá (đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy), bệnh về tiết niệu (bí tiểu tiện). Đặc biệt có thể dùng trầm hương để chữa trị ung thư tuyến giáp.

Theo công ước về buôn bán Quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) đã xếp loài dó có khả năng cho trầm hương (Aquilaria) vào lòai cây hoang dã bị đe dọa tuyệt chủng và nghiêm cấm khai thác buôn bán. Chính phủ VN ban hành Nghị định số 18/HĐBT, ngày 17/01/1992, quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng và chế độ quản lý đã xếp cây dó bầu vào nhóm thực vật IA, là những thực vật đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế, có số lượng, trữ lượng rất ít hoặc đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và nghiêm cấm khai thác, sử dụng.

Một thời gian không ngắn sau khi đọc lại những tài liệu cổ được lưu lại thì CEO Hương Tâm Linh phát hiện ra rằng không phải ngày nay Trầm mới khan hiếm mà cách đây cả chục nghìn năm trước Công nguyên, Trầm đã rất khó tìm kiếm. Mặt khác, Trầm có mùi thơm xa, nhẹ nhàng và thường những người có khứu giác tinh tế mới có thể cảm nhận được mùi thơm của Trầm, trong khi đó Người Việt Cổ lại mong muốn có một mùi thơm vừa xa và gần, vừa thơm ngọt nhưng mát, mùi thơm mà tất cả mọi người đều có thể cảm thụ được. Chính vì lẽ đó Người Việt Cổ đã biết chọn lựa nhiều loại thảo mộc để khi đốt lên đáp ứng được yêu cầu trên, hiện thân của phương pháp cổ xưa đó chính là nén Hương Tâm Linh mà ngày nay chúng ta đang sử dụng.

Hương Tâm Linh bắt đầu phát huy được sức hút không thể chối từ của mình, khởi đầu từ những bó nhỏ bé như cây thảo mộc nhỏ bé, đơn sơ cho tới cầu kỳ, tinh tế khi biến hóa thành hương nụ, hương vòng, hương nén, hương sào..vvv. Giới quý tộc thời công xã nguyên thủy và phong kiến sử dụng và tôn sùng Hương Tâm Linh như cách để thể hiện dấu ấn riêng biệt của mình…Sự thống trị của dòng sản phẩm cao cấp Hương Trầm Tâm Linh sau hàng chục nghìn năm có thể được coi là sự thật không tưởng. Khi biết được sự tồn tại của Hương Tâm Linh vắt qua suốt chiều dài lịch sử hình thành đất nước Việt Nam thì nhiều “kẻ ngáng đường” đến từ ngoại quốc đã lặng lẽ rút khỏi và không bao giờ dám xâm nhập thị trường Việt vì biết rằng ở đó đã có Hương Tâm Linh.

Tính tới thời điểm hiện tại, chưa có một sản phẩm nào nào “vượt mặt” được độ bền vững và khả năng sống mãi với thời gian, tuyệt vời như Hương Tâm Linh. Những sản phẩm được sản xuất từ Hương Tâm Linh luôn là những tuyệt phẩm được các thế hệ người V một lòng gìn giữ như kiệt tác tạo hóa đã ban tặng!

Tác giả: CEO Hương Tâm Linh

Đăng bởi

Hương sạch, nhang sạch có từ khi nào? Dân tộc nào trên thế giới đã sử dụng Hương, Nhang đầu tiên.

Từ xa xưa cho đến cuộc sống hiện tại hương sạch, nhang sạch đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống con người. Nguồn gốc chính xác của hương, nhang không thể được truy tìm nhưng trong các tác phẩm cổ đại cung cấp cho chúng ta cái nhìn sâu sắc mà các tôn giáo, dân tộc, nền văn hóa khác nhau  sử dụng mùi thơm của các loại thảo mộc bằng cách đốt, hoa, lá, cây  trong đời sống tinh thần, tâm linh của họ. 

Di tích Hương có hàng ngàn năm tuổi đã thực sự được tìm thấy khắp nơi trên thế giới, vì vậy nó có thể được tin tưởng rằng hương là một phần của nhiều nền văn hóa khác nhau trong một thời gian rất dài.

Hương đã đóng một vai trò quan trọng trong các tôn giáo lớn trên thế giới. Tại bờ biển Somali và dọc bờ biển của bán đảo Ả Rập, Lebanon có một số loài cây cho  nhựa  như  cây bá hương  sau đó kết dính với gỗ tuyết tùng của thung lũng sông Tigris và Euphrates sẽ cho những nén hương thơm.

Người Ai Cập cổ đại thường tổ chức cuộc thám hiểm vùng Châu Phi  tìm kiếm các loài thảo mộc có mùi thơm để thờ cúng hàng ngày trước khi thần mặt trời Amon-Ra và cho các nghi thức đi kèm chôn cất. Khói từ hương được cho là sẽ nâng linh hồn người chết lên trời.

Babylon sử dụng hương sạch  lúc cầu nguyện trong các buổi lễ để cố gắng thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần của họ. Nguyên liệu làm hương sạch thường là loại nhựa từ cây bách, cây thông. Họ cũng dùng hương trong exorcisms và để chữa bệnh.

Người Babylon  mang hương vào Israel khoảng thời gian 586-538 trước Công nguyên,  hương đã trở thành một phần của sự thờ phụng của người Do Thái cổ đại . Nhũ hương và thảo dược có nguồn gốc từ Arabia đã được sử dụng rộng rãi trong các ngôi đền ở Jerusalem trong thời gian giáo lý của Đức Kitô.

Cả người Hy Lạp và La Mã cổ đại sử dụng hương để xua đuổi ma quỷ và để thỏa mãn các vị thần. Người Hy Lạp đầu tiên sử dụng hương sạch trong cử hành nghi lễ cho những chiến binh hy sinh ngoài chiến trường, sau đó được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội của dân chúng.  Trên đường chinh phục, mở rộng bờ cõi, Alexander Đại đế (356-323 trước Công nguyên) cũng đã xây dựng nhiều công xưởng sản xuất hương sạch ở Ba Tư để cung cấp số lượng lớn cho việc sử dụng hương trong các nghi lễ trọng đại cũng nhân dân Hy Lạp. Người Hy Lạp cũng là người phổ biến hương đến  toàn châu Âu.

Người cha của y học, Hippocrates (460-377 trước Công nguyên), được cho là người đầu tiên thiết lập và đặt ra một hệ thống khoa học của y học. Trong hệ thống này, việc sử dụng hương liệu thông qua hương được cho là đóng một vai trò quan trọng. Truyền thuyết cho rằng Hippocrates giải phóng Athens từ các bệnh dịch hạch bằng cách đốt cây thơm qua ra thành phố.  Hương  được sử dụng  để giảm sự lo lắng và tăng sự bình tĩnh, giảm căng thẳng và sợ hãi, làm giảm chứng mất ngủ và tăng tốc độ chữa lành bệnh.Bạn cũng có thể sử dụng hương để giúp kích thích khứ giác, làm mới năng lượng, làm sạch không khí, và chuẩn bị cho việc thiền định và cầu nguyện. Mùi thơm đốt từ việc đốt  hương kích thích các dây thần kinh khứu giác, kích thích này có thể tạo ra các hiệu ứng khác nhau về thể chất, tình cảm và tâm lý dựa trên các hương thơm.

Vào thế kỷ thứ tư, các Kitô hữu đầu tiên đã kết hợp đốt hương vào thực tiễn của họ. Cả hai Giáo Hội Tây Phương Công giáo và Chính thống giáo Đông phương sử dụng hương trong các nghi lễ và các cuộc rước kiệu…

Hương luôn sử dụng rộng rãi hơn trong các tôn giáo phương Đông. The Hindu, Phật giáo, Đạo giáo, và các tôn giáo Shinto tất cả thắp hương trong lễ hội, diễu hành, và nhiều nghi lễ hàng ngày, mặt khác hương còn được cho là để tôn vinh tổ tiên.

Hương  đã trở thành một hình thức nghệ thuật trong thời nhà Hán của Trung Quốc (206 TCN -220 AD), phát triển rực rỡ vào triều đại nhà Minh (1368-1644).  Người Trung Quốc sử dụng hương cho nhiều mục đích ngoài việc dùng trong các nghi lễ tôn giáo, thờ cúng tổ tiên họ còn dùng ư làm thơm quần áo, làm thơm giấy, không gian sống, tẩy sạch không khí.

Theo người Nhật Bản, hương thanh lọc tâm trí và cơ thể, cải thiện trí nhớ, đóng vai trò như một người bạn tri kỷ  và mang lại những khoảnh khắc bình yên. Trầm (Jinko) và gỗ đàn hương (Byakudan) là hai thành phần quan trọng nhất trong hương Nhật Bản. Tại Nhật Bản, văn hóa hương trở thành phần không thể tách biệt với áo kimono, họ xông  khói hương sạch để mùi thơm  xâm nhập vào nếp gấp của các sản phẩm may mặc. Ngoài ra họ sử dụng hương như một loại đồng hồ.

Tại Việt Nam, Hương được biết đến trong các truyền thuyết vua Hùng, Sơn Tinh – Thủy Tinh. Qua thời gian và thăng trầm của lịch sử, người Việt cổ vẫn lưu giữ được nét văn hóa của mình thông  qua  mùi thơm đặc trưng của những nén Hương, Nhang. Đã có nhiều chuyên gia đến từ Nhật, Hàn, ấn Độ sử dụng mẫu Hương Tâm Linh nổi tiếng ở Việt Nam đem vào phòng thí nghiệm để phân tích, tách mùi nhưng đều không cho kết quả do công thức sản xuất Hương Tâm Linh Việt Nam đã đạt đến mức độ tinh tế – mùi thơm sẽ thay đổi theo nhiệt độ phòng và sức gió, không khí.



Tác giả: CEO Hương Tâm Linh


Đăng bởi

Văn khấn nôm cúng gia tiên ngày Rằm, mùng 1 hàng tháng

Theo phong tục của người Việt từ xa xưa, cứ vào ngày mồng Một và Rằm hàng tháng, các gia đình người Việt Nam thường làm lễ cúng Gia Thần, Gia Tiên. Chúng tôi xin chia sẻ tới bạn đọc bài văn khấn ngày Rằm, mùng 1 hàng tháng để tham khảo.


Theo tục lệ xưa để lại, cứ vào ngày mồng Một và chiều tối ngày Rằm hàng tháng, các gia đình người Việt Nam thường làm lễ cúng trên bàn thờ gia tiên cúng Gia tiên và Gia thần để cầu xin cho mọi người trong gia đình được khoẻ mạnh, bình an, may mắn, thành đạt… .
Sắm lễ:
Lễ cúng vào ngày Mồng Một (lễ Sóc) và lễ cúng vào chiều tối ngày Rằm (lễ Vọng) thường là lễ chay: Hương, loa, trầu cau, quả, tiền vàng.
Ngoài lễ chay cũng có thể cúng thêm lễ nặn vào ngày này gồm: Rượu, thịt gà luộc, các món mặn. Sắm lễ ngày mồng một và ngày rằm chủ yếu là thành tâm kính lễ, cầu xin lễ vật có thể rất giản dị: hương, hoa, lá trầu, quả cau, chén nước.
 
Văn khấn thần Thổ Công và các vị thần (Vào ngày mùng Một và ngày Rằm)


Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
– Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
– Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ chư vi Tôn thần.
– Con kính lạy ngài Đông Thần quân
– Con kính lạy ngài Bản gia thổ địa Long Mạch
– Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức Tôn thần
– Con kính lạy ngài tiền hậu địa chủ tài thần
– Con kính lạy các Tôn thần cai quản trong khu vực này.
Tín chủ (chúng) con là:……………………………………. Ngụ tại:…………………………………………………………..
Hôm nay là ngày…… tháng…… năm…., tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kim ngân trà quả đốt nén hương thơm dâng lên trước án. Chúng con thành tâm kính mời: ngài Kim Niên đương cai Thái Tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ địa. Long Mạch Tôn thần, các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Phúc đức chính thần, các vị Tôn thần cai quản trong khu vực này. Cúi xin các Ngài nghe thấu lời mời thương xót thương tín chủ giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc công việc hanh thông. Người người được bình an, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Sưu tầm
Đăng bởi

Mầu sắc với truyền thống văn hóa dân tộc

Ở mỗi dân tộc việc vận dụng mầu sắc có tập quán khác nhau. Thí dụ ở các nước phươgn Tây, mầu đen là mầu tang tóc, còn ở Việt Nam và các nước phương Đông thì phổ biến màu tang là mầu trắng.

Mầu sắc còn mang đặc trưng sắc thái của các tầng lớp xã hội khác nhau: Thí dụ mầu vàng là của vua, từ các quan đại thần cho đến thường dân, cấm không ai được mặc quần áo hoặc xây dựng nhà cửa màu vàng. Mầu tím là sắc phục của các quan đại thần. Mầu điều, mầu đỏ dành riêng để tế thần và làm sắc phục cho các cụ thượng thọ. Mầu nâu sòng là của cửa Thiền dành cho những kẻ quy y Phật tổ, cũng như mầu đen là sắc phục của linh mục đạo Ky-Tô. Mầu xanh là của những người còn theo đòi Cửa Khổng sân Trình, của học trò chưa đậu đạt:

Trong bài thơ La-sơn phu-tử Nguyễn Thiếp gửi Tiến sĩ Nguyễn Khản có câu:

Quân kim bào hốt trung triều sĩ,
Cố ngã lâm tuyền khâm thượng thanh….

(Có nghĩa là: Nay ngài đã là khanh tướng trong triều, mà còn nhớ đến bạn học ngày xưa áo vẫn xanh). “áo vẫn xanh” tức là chưa hiển đạt, vẫn còn là bộ quần áo của người hàn sĩ. Mầu đào tức mầu hoa đào là của các nàng ca sĩ, cho nên mới có danh từ “Hát ả đào”.

Mầu đen, mầu nâu là trang phục rẻ tiền nhất của quần chúng nông dân. Mầu xanh nhập nội từ đất nước Trung hoa sau giải phóng gọi là xanh công nhân.

Ở Việt Nam, từ xưa tới nay, mầu đỏ, màu vàng, màu hồng, dùng trong trướng đối chỉ dành để chúc tụng, khao lão, mừng rỡ, còn trong lễ tang chỉ có thể dùng mầu trắng, mầu xanh, mầu đen, mầu tím…. không hiểu vì sao, gần đây nhan nhản ở các cửa hàng, trướng điếu (lễ tang) cùng dùng mầu đỏ, mầu vàng rực rỡ, phải chăng các cụ già chết là đáng mừng, không cần phải an ủi, lưu luyến, nên chẳng cần dùng mầu đen, trắng, xanh, tím như ngày xưa. Vì thế mới xẩy ra câu chuyện oái oăm: Có người đi mừng ông ban 70 tuổi lại mua một bức trướng điếu mầu đỏ thêu 4 chữ vàng “Tiên cảnh nhàn du”, có khác gì chúc cho bạn mình mau chết để chóng được lên dạo chơi trên cảnh Bồng Lai. Nguyên “Tiên cảnh nhàn du”, (Nghĩa là thanh nhàm dạo chơi trên cảnh tiên) là để an ủi người mới mất từ nay hết nợ trần gian lên hưởng cảnh tiên.

Đăng bởi

Đền Mẫu Bắc Biên thờ Mẫu

Đền Mẫu Bắc Biên nằm ở sát sông Hồng, phía trước có lạch nước rộng, phía ngoài lạch nước có bãi nổi, rồi mới đền lòng sông lớn. Khi nước sông cạn, lạch

nước như là một “hồ” rộng, tạo thế hồ cạnh sông. Đền Mẫu Bắc Biên có thế đất đặc biệt với một vùng sông nước bao la phía trước; phía sau là khu dân cư đến định cư ít nhất là vào thời Lý định đô ở Thăng Long.

Đền Mẫu Bắc Biên thờ Mẫu theo tín ngưỡng dân gian giống nhiều di tích ở các vùng ven sông. Gần đó còn có đền Núi, đền Rừng. Thờ Mẫu là một hiện tượng đặc biệt trong hệ thống thờ cúng tín ngưỡng của người Việt. Hầu như các chùa thờ Phật đều có Điện Mẫu nhưng cũng có nơi Mẫu được thờ riêng, một trong những nơi đó là đền Mẫu Bắc Biên.

Qua những thăng trầm của lịch sử, đền Mẫu Bắc Biên đã có nhiều thay đổi về diện mạo kiến trúc so với gốc cũ. Những kiến trúc hiện nay là kết quả của các đợt trùng tu sửa chữa từ sau năm 1975. Đền chính có tòa nhà 1 gian 2 chái, chồng diêm 2 tầng 8 mái, có đao cong lợp ngói di, bộ khung vì bằng gỗ; phía sau có chuôi duộc xây bằng bê tông mái vòm lợp ngói. Phía ngoài Tiền tế bố trí ban thờ đức vua cha Ngọc Hoàng cùng Nam Tào, Bắc Đẩu; phía trước thờ Ngũ vị Tôn Ông, các Quan hoàng. Ban thờ bên phải thờ Đức Thánh Trần, bên trái thờ Sơn Trang. Trong Hậu cung thờ Tam tòa Thánh Mẫu, Tứ vị vua Bà đều được đặt trong khám gỗ; ở ngoài là tượng Mẫu Thoải chủ đền. Trước đền có sân nhỏ; ở giữa sân có một cây ngái cổ thụ thường xuyên sai quả như sự cầu mong một cuộc sống luôn sung túc, đầy đủ đến với mọi người. Hai bên sân có lầu thờ Cô, Cậu. Bên trái sân đền có một tòa thờ Mẫu Thoải riêng, mái bê tông mới xây dựng năm 2001. Bên cạnh các tượng thờ, đền có các đồ thờ khác như: câu đối, hoành phi, cuốn thư, ngai thờ, bộ chấp kích, biển lệnh, chuông đồng… Đa số các di vật, đồ thờ của đền có niên đại thế kỷ XX.

Đền Mẫu Bắc Biên ra đời và tồn tại nhằm đáp ứng nhu cầu thờ cúng tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Các lễ cúng của đền tập trung vào dịp tứ quý: ngày 10 tháng Giêng, tháng Tư, tháng Bảy và tháng Chạp âm lịch.

Ngày nay, được sự quan tâm của chính quyền và nhân dân địa phương, hệ thống đền, chùa trên địa bàn phường Ngọc Thụy nói chung, đền Mẫu Bắc Biên nói riêng luôn được bảo vệ và chỉnh trang ngày càng khang trang, góp phần làm đẹp thêm cảnh quan của một phường giàu truyền thống cách mạng và có nhiều di tích lịch sử văn hóa.

Nguồn thông tin: UBND quận Long Biên, Di tích lịch sử văn hóa và cách mạng kháng chiến quận Long Biên, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.

Đăng bởi

Chầu Bà Đệ Nhị

Chầu Đệ Nhị là hóa thân của Mẫu Thượng Ngàn , vị Thánh thống soái trong các hàng Chầu , cai quản vùng non nước , sơn cước :

Vốn dòng công chúa thiên thai
Giáng về hạ giới quản cai Thượng Ngàn
Quản cai các lũng cùng làng
Sơn tinh cầm thú hổ lang khấu đầu …”

Tương truyền bà là con gái của một gia đình người Mán ở Đông Cuông , tỉnh Yên bái , Bà sinh ra lúc bố mẹ đã già , ngoài 50 tuổi . Từ nhỏ bà chỉ làm việc thiện , không lấy chồng . Sau khi mất bà hiển linh luôn cứu nguy dân lành nên nhiều nơi lập đền thờ cúng , không ai ngồi đồng mà Bà không giáng . Khi giáng bà mặc sắc phục người Mán , màu xanh , đặc trưng cho nhạc Phủ

Trong bản Bách thần lục , thần tích của Chầu bà Đệ Nhị đồng nhất với thần tích của Thánh Mẫu Thượng Ngàn ở vùng Bắc Lệ – Lạng Sơn . Đó chính là công chúa La Bình con gái của Sơn tinh , được phong là Thượng Ngàn Công Chúa , cai quản 81 cửa rừng cõi Nam Giao

Văn hầu:

Tiên thánh thượng ngàn dâng văn tiên thánh thượng ngàn
Đông cuông tuần quán giáng đàn chứng đây
Trên ngàn gió cuốn rung cây
Dưới khe cá lặn chim bay về ngàn
Canh khuya nguyệt lặn sao tàn
Canh khuya nguyệt lặn sao tàn
Chiếc thoi bán nguyệt khoan khoan chèo vào
Gập ghềnh quán thấp lều cao
Gập ghềnh quán thấp lầu cao
Chèo ra núi đỏ chèo vào ngàn xanh
Thượng ngàn tôi tú anh linh
Thượng ngàn tôi tú anh linh
Ngôi cao công chúa quyền hành núi non
Anh linh đã có tiếng đồn
Anh linh đã có tiếng đồn
Sấm ran mặt bể mưa tuôn đầu ghềnh
Da ngà mắt phượng long lanh
Da ngà mắt phượng long lanh
Mày hoa tươi tốt tóc xanh rườm rà
Nhụy hồng tuyết điểm màu da
Nhụy hồng tuyết điểm màu da
Cổ tay tựa ngà đầu vấn tóc mai
Vốn dòng công chúa Thiên thai
Vốn dòng công chúa Thiên thai
Giáng sinh hạ giới quyền cai thượng ngàn
Quyền cai các lũng các lang
Quyền cai các lũng các lang
Sơn tinh cầm thú hổ lang khấn đầu
Quyền cai tam thập lục ngàn châu
Quyền cai tam thập lục ngàn châu
Chín từng khe suối một bầu tiêu dao
Rong chơi ngàn quế ngàn đào
Rong chơi ngàn quế ngàn đào
Khi ra thác cái lúc vào thác con
Chim kêu vượn hót véo von
Chim kêu vượn hót véo von
Chớp bể đôi đoạn mưa nguồn từng phen
Khi nương gió lúc lại thác gièm
Nàng ân nàng ái vốn dòng sơn trang
Tính hay măng trúc măng giang
Song đăng ai thấp thoáng bên lầu
Song đăng tiên chúa múa hầu mẫu vương
Soi cho quốc phú dân cường
Soi cho quốc phú dân cường
Soi trong nam việt bốn phương thái hòa
Soi từ thành thị tới kinh đô
Soi cho non nước bốn mùa thêm xuân
Đuốc thiêng sáng tỏ xa gần
Hái hoa lan, hái hoa huệ hoa lan thượng thừa
Hoa hải đường nở trước mùa xuân
Quỳnh hoa đua nở xa gần
Đào tiên thạch lựu thanh tân chơi bời
Hoa cẩm chướng trà my đua nở
Hoa mận đào rực rỡ tốt tươi
Hoa thủy tiên sắc nước nghiêng trời
Vui chơi nước nhược non hồng
Phố Cát Đền Sòng sông Cả sông Thao
Lân rờn vượn múa thấp cao
Lân rờn vượn múa thấp cao
Ngàn mây thấp thoáng trăng sao lững lờ
Nón buồm vai quảy lẵng hoa
Nón buồm vai quảy lẵng hoa
Đền khi miếu nọ vào ra chơi bời
Khi thanh vắng lúc lại êm trời
Thanh vắng lúc lại êm trời
Ngự trên đỉnh núi ghẹo người Hằng nga
Tang tình thôi hát lại ca
Tang tình thôi hát lại ca
Bẻ bai giọng Xá ê a giọng Mường
Tiếng Kinh tiếng Mán tỏ tường
Tiếng Kinh tiếng Mán tỏ tường
Lục châu quan hỏa líu lường líu lo
Rong chơi bát cảnh ngũ hồ
Rong chơi bát cảnh ngũ hồ
Đua chèo bẻ lái hò dô lại về
Rong chơi ngàn mái ngàn me
Rong chơi ngàn mái ngàn me
Ngàn giang ngàn nứa trúc tre ngàn vầu
Đôi cô Mán Thổ theo hầu
Đôi cô Thổ Mán theo hầu
Cô xe chỉ thắm cô xâu hạt vàng
Trên sơn lâm dọn quán bán hàng
Thánh giá hồi cung.