Đăng bởi Để lại phản hồi

Hương Tâm Linh – Kiệt tác tạo hóa đã ban tặng

Tuyệt phẩm quý hiếm nhất hành tinh. Vào khoảng 30.000 năm trước công nguyên, người Việt cổ đã biết sử dụng những cành, cây khô đốt lên để sưởi ấm và xua đuổi thú dữ. Thửa ban đầu, người Việt cổ đốt mọi cây củi khô mà họ thu lượm được, theo thời gian họ phát hiện ra rằng không phải cây nào đốt lên cũng giống nhau, như cây gỗ lim đốt lên than rất hồng, giữ nhiệt lâu nhưng tỏa ra mùi khét và khi hít phải khói đó thì cơ thể trở nên mệt mỏi. Ngược lại, đốt cây bầu gió thì có mùi thơm dễ chịu, thần kinh trở nên hưng phấn, cơ thể khỏe mạnh, đặc biệt là nhiều loại côn trùng đều không dám đến gần.

Ngày nay, cây bầu gió có Trầm gần như đã tuyệt chủng, để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng thì cây bầu gió được trồng và tạo Trầm nhân tạo khiến cho việc để mua được Trầm quá dễ dàng. Chính sự phổ biến ấy đã trở thành hạn chế của những nhà sản xuất hương/nhang vẫn sử dụng nguyên liệu Trầm cổ xưa – chất liệu từng được coi là đắt giá nhất lịch sử loài người, nhân loại vẫn luôn trân trọng những giá trị quý báu của Trầm và được coi là quà tặng quý hơn bạch kim mà tạo hóa ban tặng.

Chúng ta cùng làm phép so sánh để thấy Trầm quý hiếm như thế nào. Bạch kim mỗi năm con người khai thác được 130 tấn, chỉ có 4 khu vực trên trái đất sở hữu Bạch Kim đã cho thấy sự khan hiếm của loại khoáng sản này trên toàn thế giới. Điều ấn tượng mà Bạch Kim mang tới chính là một vẻ đẹp hút hồn với sắc trắng thuần khiết đầy chiều sâu. Vẻ đẹp ấy khác hẳn với màu trắng ánh kim của Vàng trắng, trắng lạnh của đồ mạ Crom và trắng nhạt của Bạc. Bạch Kim được người chơi “sùng bái” chính bởi giá trị của sự thuần khiết, nguyên chất và vẻ đẹp xóa nhòa dấu vết thời gian, nâng phong cách và đẳng cấp thụ hưởng cuộc sống của các tín đồ trang sức lên một tầm cao mới.

Cây bầu gió phân bố ở Iran, ấn độ và Đông Nam á. Trầm hương sinh ra từ cây dó, nhưng không phải loài dó nào cũng tạo ra trầm hương. Theo thống kê của ngành thực vật học, thế giới có khoảng 25 loài dó, nhưng chỉ 15 lòai có khả năng cho trầm hương gồm: Aquilaria crassna; A.baillonii; A.sinensis hoặc A.chinesis; A.borneensis ; A.malaccensis ; A.gollocha ; A.hirta; A.rostrata; A.beccariana; A.cummingiana; A.filaria; A.khasiana; A.microcarpa; A.grandiflora; A.bancana. Trong số những cây bầu gió đó chỉ có rất ít là có trầm, trong quá trình sinh trưởng, do những tác động nào đó, gây ra những “tổn thương/nhiễm bệnh”, lâu ngày cây tích tụ một chất dạng nhựa (dầu), rồi lan dần ra, làm biến đổi các phân tử gỗ, tạo nên nhiều màu sắc (đen, nâu, chàm, xám, … ), nhiều tính chất (cứng, mềm, dẻo, dòn …), nhiều mùi vị (đắng, cay, chua, ngọt, … ), nhiều hình dáng (tròn, xoắn, nhọn, dài, … ), ở nhiều vị trí (thân, cành, rễ) trong cây dó. Đó chính là trầm hương, có tên giao dịch thương mại Quốc tế Agarwood hay Eaglewood.

Đặc điểm nổi bật của trầm hương là tỏa mùi thơm đặc biệt lúc đốt hoặc chưa đốt. Khi hàm lượng dầu lớn hơn 25%, trầm hương có thể chìm trong nước. Lọai trầm hương cao cấp có thể đạt hàm lượng dầu 60-80%. Căn cứ mức độ nhiễm dầu, màu sắc, hương vị, hình dáng, trọng lượng, xuất xứ … mà trầm hương có các tên gọi khác nhau như: Trầm mắt tử, trầm mắt đảo, trầm bọ sánh, trầm bông, trầm da báo, trầm điệp lá, trầm điệp trai, trầm kiến xanh, trầm kiến lọn, trầm rục, trầm sanh …

Theo Đông y, trầm hương là vị thuốc quý hiếm, có vị cay, tính ôn, vào ba kinh: tì, vị, thận; có tác dụng dáng khí, nạp thận, bình can tráng nguyên dương, chữa các bệnh đau bụng, đau ngực, nôn mửa, hen suyển, lợi tiểu, giảm đau, trấn tĩnh, hạ sốt, cấm khẩu, thổ huyết, khó thở.

Theo Tây y, trầm hương có tính kháng sinh, tạo kháng thể mạnh (diệt khuẩn, làm lành vết thương), có tác dụng chữa một số bệnh như bệnh về tim mạch (suy tim, đau ngực), bệnh về hô hấp (hen suyễn), bệnh về thần kinh (an thần, mất ngủ, giảm đau, trấn tĩnh …), bệnh về tiêu hoá (đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy), bệnh về tiết niệu (bí tiểu tiện). Đặc biệt có thể dùng trầm hương để chữa trị ung thư tuyến giáp.

Theo công ước về buôn bán Quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) đã xếp loài dó có khả năng cho trầm hương (Aquilaria) vào lòai cây hoang dã bị đe dọa tuyệt chủng và nghiêm cấm khai thác buôn bán. Chính phủ VN ban hành Nghị định số 18/HĐBT, ngày 17/01/1992, quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng và chế độ quản lý đã xếp cây dó bầu vào nhóm thực vật IA, là những thực vật đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế, có số lượng, trữ lượng rất ít hoặc đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và nghiêm cấm khai thác, sử dụng.

Một thời gian không ngắn sau khi đọc lại những tài liệu cổ được lưu lại thì CEO Hương Tâm Linh phát hiện ra rằng không phải ngày nay Trầm mới khan hiếm mà cách đây cả chục nghìn năm trước Công nguyên, Trầm đã rất khó tìm kiếm. Mặt khác, Trầm có mùi thơm xa, nhẹ nhàng và thường những người có khứu giác tinh tế mới có thể cảm nhận được mùi thơm của Trầm, trong khi đó Người Việt Cổ lại mong muốn có một mùi thơm vừa xa và gần, vừa thơm ngọt nhưng mát, mùi thơm mà tất cả mọi người đều có thể cảm thụ được. Chính vì lẽ đó Người Việt Cổ đã biết chọn lựa nhiều loại thảo mộc để khi đốt lên đáp ứng được yêu cầu trên, hiện thân của phương pháp cổ xưa đó chính là nén Hương Tâm Linh mà ngày nay chúng ta đang sử dụng.

Hương Tâm Linh bắt đầu phát huy được sức hút không thể chối từ của mình, khởi đầu từ những bó nhỏ bé như cây thảo mộc nhỏ bé, đơn sơ cho tới cầu kỳ, tinh tế khi biến hóa thành hương nụ, hương vòng, hương nén, hương sào..vvv. Giới quý tộc thời công xã nguyên thủy và phong kiến sử dụng và tôn sùng Hương Tâm Linh như cách để thể hiện dấu ấn riêng biệt của mình…Sự thống trị của dòng sản phẩm cao cấp Hương Trầm Tâm Linh sau hàng chục nghìn năm có thể được coi là sự thật không tưởng. Khi biết được sự tồn tại của Hương Tâm Linh vắt qua suốt chiều dài lịch sử hình thành đất nước Việt Nam thì nhiều “kẻ ngáng đường” đến từ ngoại quốc đã lặng lẽ rút khỏi và không bao giờ dám xâm nhập thị trường Việt vì biết rằng ở đó đã có Hương Tâm Linh.

Tính tới thời điểm hiện tại, chưa có một sản phẩm nào nào “vượt mặt” được độ bền vững và khả năng sống mãi với thời gian, tuyệt vời như Hương Tâm Linh. Những sản phẩm được sản xuất từ Hương Tâm Linh luôn là những tuyệt phẩm được các thế hệ người V một lòng gìn giữ như kiệt tác tạo hóa đã ban tặng!

Tác giả: CEO Hương Tâm Linh

Đăng bởi Để lại phản hồi

Hương sạch, nhang sạch có từ khi nào? Dân tộc nào trên thế giới đã sử dụng Hương, Nhang đầu tiên.

Từ xa xưa cho đến cuộc sống hiện tại hương sạch, nhang sạch đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống con người. Nguồn gốc chính xác của hương, nhang không thể được truy tìm nhưng trong các tác phẩm cổ đại cung cấp cho chúng ta cái nhìn sâu sắc mà các tôn giáo, dân tộc, nền văn hóa khác nhau  sử dụng mùi thơm của các loại thảo mộc bằng cách đốt, hoa, lá, cây  trong đời sống tinh thần, tâm linh của họ.  

Di tích Hương có hàng ngàn năm tuổi đã thực sự được tìm thấy khắp nơi trên thế giới, vì vậy nó có thể được tin tưởng rằng hương là một phần của nhiều nền văn hóa khác nhau trong một thời gian rất dài.

Hương đã đóng một vai trò quan trọng trong các tôn giáo lớn trên thế giới. Tại bờ biển Somali và dọc bờ biển của bán đảo Ả Rập, Lebanon có một số loài cây cho  nhựa  như  cây bá hương  sau đó kết dính với gỗ tuyết tùng của thung lũng sông Tigris và Euphrates sẽ cho những nén hương thơm.

Người Ai Cập cổ đại thường tổ chức cuộc thám hiểm vùng Châu Phi  tìm kiếm các loài thảo mộc có mùi thơm để thờ cúng hàng ngày trước khi thần mặt trời Amon-Ra và cho các nghi thức đi kèm chôn cất. Khói từ hương được cho là sẽ nâng linh hồn người chết lên trời.

Babylon sử dụng hương sạch  lúc cầu nguyện trong các buổi lễ để cố gắng thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần của họ. Nguyên liệu làm hương sạch thường là loại nhựa từ cây bách, cây thông. Họ cũng dùng hương trong exorcisms và để chữa bệnh.

Người Babylon  mang hương vào Israel khoảng thời gian 586-538 trước Công nguyên,  hương đã trở thành một phần của sự thờ phụng của người Do Thái cổ đại . Nhũ hương và thảo dược có nguồn gốc từ Arabia đã được sử dụng rộng rãi trong các ngôi đền ở Jerusalem trong thời gian giáo lý của Đức Kitô.

Cả người Hy Lạp và La Mã cổ đại sử dụng hương để xua đuổi ma quỷ và để thỏa mãn các vị thần. Người Hy Lạp đầu tiên sử dụng hương sạch trong cử hành nghi lễ cho những chiến binh hy sinh ngoài chiến trường, sau đó được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội của dân chúng.  Trên đường chinh phục, mở rộng bờ cõi, Alexander Đại đế (356-323 trước Công nguyên) cũng đã xây dựng nhiều công xưởng sản xuất hương sạch ở Ba Tư để cung cấp số lượng lớn cho việc sử dụng hương trong các nghi lễ trọng đại cũng nhân dân Hy Lạp. Người Hy Lạp cũng là người phổ biến hương đến  toàn châu Âu.

Người cha của y học, Hippocrates (460-377 trước Công nguyên), được cho là người đầu tiên thiết lập và đặt ra một hệ thống khoa học của y học. Trong hệ thống này, việc sử dụng hương liệu thông qua hương được cho là đóng một vai trò quan trọng. Truyền thuyết cho rằng Hippocrates giải phóng Athens từ các bệnh dịch hạch bằng cách đốt cây thơm qua ra thành phố.  Hương  được sử dụng  để giảm sự lo lắng và tăng sự bình tĩnh, giảm căng thẳng và sợ hãi, làm giảm chứng mất ngủ và tăng tốc độ chữa lành bệnh.Bạn cũng có thể sử dụng hương để giúp kích thích khứ giác, làm mới năng lượng, làm sạch không khí, và chuẩn bị cho việc thiền định và cầu nguyện. Mùi thơm đốt từ việc đốt  hương kích thích các dây thần kinh khứu giác, kích thích này có thể tạo ra các hiệu ứng khác nhau về thể chất, tình cảm và tâm lý dựa trên các hương thơm.

Vào thế kỷ thứ tư, các Kitô hữu đầu tiên đã kết hợp đốt hương vào thực tiễn của họ. Cả hai Giáo Hội Tây Phương Công giáo và Chính thống giáo Đông phương sử dụng hương trong các nghi lễ và các cuộc rước kiệu…

Hương luôn sử dụng rộng rãi hơn trong các tôn giáo phương Đông. The Hindu, Phật giáo, Đạo giáo, và các tôn giáo Shinto tất cả thắp hương trong lễ hội, diễu hành, và nhiều nghi lễ hàng ngày, mặt khác hương còn được cho là để tôn vinh tổ tiên.

Hương  đã trở thành một hình thức nghệ thuật trong thời nhà Hán của Trung Quốc (206 TCN -220 AD), phát triển rực rỡ vào triều đại nhà Minh (1368-1644).  Người Trung Quốc sử dụng hương cho nhiều mục đích ngoài việc dùng trong các nghi lễ tôn giáo, thờ cúng tổ tiên họ còn dùng ư làm thơm quần áo, làm thơm giấy, không gian sống, tẩy sạch không khí.

Theo người Nhật Bản, hương thanh lọc tâm trí và cơ thể, cải thiện trí nhớ, đóng vai trò như một người bạn tri kỷ  và mang lại những khoảnh khắc bình yên. Trầm (Jinko) và gỗ đàn hương (Byakudan) là hai thành phần quan trọng nhất trong hương Nhật Bản. Tại Nhật Bản, văn hóa hương trở thành phần không thể tách biệt với áo kimono, họ xông  khói hương sạch để mùi thơm  xâm nhập vào nếp gấp của các sản phẩm may mặc. Ngoài ra họ sử dụng hương như một loại đồng hồ.

Tại Việt Nam, Hương được biết đến trong các truyền thuyết vua Hùng, Sơn Tinh – Thủy Tinh. Qua thời gian và thăng trầm của lịch sử, người Việt cổ vẫn lưu giữ được nét văn hóa của mình thông  qua  mùi thơm đặc trưng của những nén Hương, Nhang. Đã có nhiều chuyên gia đến từ Nhật, Hàn, ấn Độ sử dụng mẫu Hương Tâm Linh nổi tiếng ở Việt Nam đem vào phòng thí nghiệm để phân tích, tách mùi nhưng đều không cho kết quả do công thức sản xuất Hương Tâm Linh Việt Nam đã đạt đến mức độ tinh tế – mùi thơm sẽ thay đổi theo nhiệt độ phòng và sức gió, không khí.



Tác giả: CEO Hương Tâm Linh


Đăng bởi Để lại phản hồi

Cực phẩm đệ nhất chốn dân gian

Hương Tâm Linh được sản xuất từ cây cỏ, thảo mộc thiên nhiên. Những sản phẩm Hương thơm Tâm Linh được người tiêu dùng đánh giá xem là một liệu pháp nhằm giảm bớt những căng thẳng mệt mỏi, đem lại những góc bình yên, tĩnh lặng và xua tan đi những căng thẳng, áp lực.

Chất lượng Hương Tâm Linh luôn tạo cảm giác nhẹ nhõm, khỏe khoắn sau mỗi lần sử dụng, sự khác biệt về cảm nhận chính là thứ khách hàng luôn nhớ về Hương Tâm Linh.

Công thức sản xuất nhãn hiệu Hương Tâm Linh truyền thống phát triển với hàng nghìn năm tuổi và là 1 nét văn hóa của người Việt cổ. Người Việt cổ đã tìm thấy tinh dầu thơm ở các bộ phận của cây như hoa, lá, rễ, nhựa trong những cánh rừng nguyên sinh…, mỗi bộ phận có một mùi hương đặc biệt, có mùi hương tươi mát, dịu ngọt giúp tăng cảm giác tích cực, vui vẻ và hứng khởi trong cuộc sống, có mùi hương thoang thoảng, nhẹ nhàng giúp thanh lọc không khí, cho không gian trong lành, gần gũi với thiên nhiên, phù hợp cho cả người già, trẻ em.

Không phải loại thảo mộc nào cũng có tính chất giống nhau. Có loại tỏa hương trong điều kiện nhiệt độ cao, có loại tỏa hương điều kiện nhiệt độ thấp, có loại lưu hương rất lâu trong không khí, cũng có loại chỉ vài giờ là bay mất. Bởi thế, người thợ sản xuất Hương Tâm Linh phải hòa trộn nhiều loại thảo mộc lại với nhau, tận dụng những ưu khuyết của các nốt hương để tạo thành cực phẩm.

Những hãng sản xuất tinh dầu thơm của các nước phát triển như Pháp, Mỹ, Ý, Nhật, Hàn.. ..vv đã điều chế ra được hầu hết hương thơm tổng hợp từ rượu, aldehyde, ester…bắt chước các mùi hương tự nhiên;  mùi hương liên quan đến ký ức và cảm xúc như mùi mưa mùa xuân, mùi biển…Tuy nhiên, dù đã rất nhiều lần các hãng Hương nước ngoài đến Việt Nam mua mẫu Hương Tâm Linh để phân tách  trong phòng thí nghiệm nhưng đều không có kết quả. Có thể nói mùi hương Tâm Linh là mùi thơm duy nhất trên thế giới hiện nay không thể sao chép.

Hương Tâm Linh là Cực phẩm đệ nhất chốn dân gian của người Việt xưa truyền lại cho đến nay, kỹ thuật hòa trộn hơn 40 loài thảo dược quý hiếm mang đến mùi thơm tinh tế và độc đáo, tạo nên Hương Tâm Linh huyền thoại. Ai đã có được cơ hội trải nghiệm sản phẩm Hương Tâm Linh đều có chung một mong muốn đó là mua thật nhiều hàng về dùng dần.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Phương pháp thờ cúng trong gia đình, phước đức lâu bền cho gia đình, cho dòng họ được hưng thịnh muôn đời.

Việc khấn vái phải theo trật tự trên dưới rõ ràng. Phật có nguồn gốc từ con người, cho nên dù có phép thần thông quảng đại đi chăng nữa, thì cũng không ngoài vòng cương tỏa của Trời – Đất. Vậy thì khi khấn vái phải lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ trước, rồi mới đến Phật. Tham khảo các bài sớ cúng của các dòng họ, tôi thấy các cụ xưa cũng thường theo trật tự: Chư Thiên – Chư Địa – chư Thần – Chư Phật – Chư thánh – Thành hoàng làng – Gia Tiên, không phải như con cháu bây giờ để Phật lên trước trời đất? Ví dụ: Con sám hối lạy chín phương trời, năm phương đất, chư Phật mười phương chẳng hạn…







Quay lại vấn đề chính đã nêu ra ở trên, để thờ cúng trong nhà bà con cần chuẩn bị những gì? – Xin thưa chúng ta cần:


1. Rường thờ


2. Hương án


3. Bài vị


4. Bát hương


5. Hoành phi


6. Đối liễn


7. Lễ vật (hương, đăng, hoa, quả, nước)


8. Sớ cúng


Và tôi sẽ giải thích ý nghĩa, phương cách thực hiện từng mục trên như sau:


1. Rường thờ: có nơi gọi là giường thờ, gọi là giường thờ vì giường thờ vốn có mành hoặc rèm che, là nơi nghỉ ngơi của linh hồn tiên tổ. Nhưng vì giường là thứ dành cho người phàm tục, sợ phạm húy với tổ tiên, nên nhân dân gọi chệch thành “rường” chỉ khi cần thắp hương mới vén rèm lên. Khi xong rồi thì phải kéo rèm che kín lại không cho khách khứa nhìn thấy hương án, ngoại trừ ba ngày tết.


Phía trước cửa rường thờ, hai bên là hai câu đối, bên trên cùng là hoành phi, bên trong là hương án (bàn thờ), rường thờ được chia làm hai bậc cao thấp, trái phải, bên trái cao hơn một chút thờ ngũ vị tài thần, bên phải thấp hơn một chút thờ gia tiên; Hoặc phía sau cao hơn thờ tài thần, phía trước thấp hơn thờ gia tiên.


2. Hương án: “Án” là cái bàn, “hương án” là cái bàn để bày lễ vật thắp hương, nhân dân gọi nôm na là bàn thờ. Hiện nay các nhà ít khi có mành che nên có thể nói là không còn rường thờ mà chỉ có bàn thờ (hương án).


3. Bài vị 


“Bài” là cái thẻ bằng gỗ mỏng hay bằng giấy cứng có viết chữ trên đó. “Vị” là chỗ đứng. “Bài vị” còn được gọi là “Thần chủ”, là một tấm thẻ, trên đó có ghi đầy đủ tên họ người chết, năm sinh, ngày chết, chức tước, quê quán, dùng để tế lễ và thờ phụng.


Cách viết chữ lên bài vị:


– Chức danh của vị gia tiên được thờ phụng, ví dụ: Cao tổ khảo (kị), hoặc Tằng tổ khảo (cụ), Tổ khảo (ông); Hiền khảo (cha)


– Chức tước và công danh (nếu có) của vị gia tiên được thờ phụng;


– Tuổi thọ: nếu từ 60 tuổi đổ lại thì ghi hưởng dương, từ 61 trở lên mới ghi hưởng thọ


– Vai vế trong dòng họ: Con trưởng thì ghi họ rồi thêm “mạnh công”, nếu là con thứ thì ghi họ rồi thêm “quý công”, sau đó mới tên huý của vị gia tiên.


Ví dụ:


– Hiền khảo / tiền đảng viên ĐCSVN-Đại tá quân đội nhân dân VN – Liệt sĩ chống Mỹ – Huân chương chiến công hạng nhất / hưởng dương ngụ tứ tuần Trần Mạnh Công tự Văn An phủ quân 1915 – 1968);


Xem thêm ở bài: “Cấu trúc thờ cúng trong nhà thờ họ và tổ chức tề lễ ”


4. Bát hương: Phương pháp làm bát hương hiện nay trong nhân dân thường phụ thuộc vào thầy cúng, hoặc thầy chùa. Có người nói sau khi làm bát hương phải được thầy chùa đem “Mật tông kinh” cầu nguyện làm phép mới linh, tôi e là không phải đối với những gia đình không là đệ tử cửa Phật?


Còn thầy cúng thì chẳng ai có thể kiểm nghiệm nổi thần thông quảng đại của thầy ở mức nào, mà chỉ thấy bát hương đắt đỏ thôi rồi, cho nên nhiều gia đình cũng than vãn “tiền mất tật mang”. Bởi vậy tôi mạnh dạn đưa lên đây phương pháp sắm sanh bát hương, ai tin tôi cứ theo mà làm. Thiết nghĩ, đạo nghĩa đã dạy việc thờ cúng phải làm theo tiếng gọi từ lương tâm, linh hồn có thể xâm nhập được vào trong trí não của mình để lắng nghe hư thực, nên có thờ ắt có thiêng mà không nhất thiết phải có “Mật tông kinh”. Chỉ cần ấn định danh phận cho vị gia tiên muốn thờ trong bát hương là đủ, cách làm bát hương như sau:


Chọn mua bát hương: Tuỳ theo khả năng tài chính có thể chọn đồ gốm hoặc đồ đồng. chữ khắc trên bát hương nên chọn chữ “Phước”. Hình con vật nên chọn một cặp rồng – phượng cùng châu vào biểu tượng của thái cực (vòng tròn âm dương). Chọn như vậy thì âm dương mới hài hoà, mới hỗ trợ cho sự sinh tồn vững bền của dòng tộc. Nếu bát hương chưa có biểu tượng âm dương thì vẽ nó lên giấy rồi dán bên dưới bát hương. Bát hương mua về phải rửa sạch bằng nước thơm ngũ vị hương (có bán tại tiệm bán bát hương), lau khô;


Bỏ gì vào trong bát hương?


– Thần sa, chu sa : theo quan niệm của người xưa, thần sa, chu sa có khả năng từ tà khí, nghĩa là bát hương thỉnh cho vị gia tiên nào thì vị gia tiên đó hiển nhiên là chính khí hiển linh, tà khí không vào phá bát hương được. Thần sa, chu sa bà con có thể tìm đến tiệm thuốc đông y để mua, tuy nhiên tuyệt đối không được bỏ nhiều, mỗi bát hương chỉ khoảng 1 – 2gr


– Tro: Dùng rơm sạch để đốt lấy tro, ở thành phố không có rơm thì mua thật nhiều hương về đốt lấy tro.


– Một chùm tua rua ngũ sắc nhỏ kết bằng 5 sợi chỉ năm màu;


– Một tờ giấy mộc nhuộm đỏ viết nội dung giống như trên bài vị, nếu vị gia tiên được thờ phụng có mộ thì tốt nhất xin một chút đất mộ và rút ba chân hương ở mộ rước về càng linh; Nếu là bát hương chung thì lập danh sách tất cả những người muốn thờ cũng theo nội dung bài vị, hoặc ghi chung “Gia tộc hoặc chi tộc…(họ: Nguyễn Văn, Lê Huy…) bài vị linh thần”, rồi ghi thêm “Phúc lộc thọ toàn”;


– Đối với “thất bảo”, tôi chỉ thấy ở miền Nam ảnh hưởng của đạo Cao Đài, còn như Xứ Nghệ An đổ ra thì không có món này.


Gấp bài vị cho vuông vắn lại, rồi dùng một mảnh giấy trang kim (giấy kẽm tráng kim tuyến vàng mục đích là nhỡ có bị cháy cội hương, lớp giấy kẽm sẽ bảo vệ để bài vị không bị cháy lẫn vào cốt tro bên ngoài) gói tất cả các thứ: đất mộ, tiền, chỉ ngũ sắc, giấy bài vị, thần sa, chu sa tán bột mịn để vào, gói tờ giấy trang kim lại cho vuông vắn, để xuống dưới đáy bát hương, sau đó mới đổ tro lên cho đầy. Cắm 3 cội hương rước tứ ngoài mộ về, lau sạch bên ngoài và để trang nghiêm lên hương án, phía trước bài vị.


Chú ý: bát hương mỗi khi được định vị trên hương án rồi thì kiêng kỵ bị xê dịch vị trí, gia đạo sẽ gặp chuyện chẳng hay. Do đó, nếu cẩn thận thì nên dùng keo hai mặt dính chặt xuống. mỗi năm chỉ được sửa sang bát hương từ sau 23 – 30 tháng chạp mà thôi.


Bát hương thờ ngũ vị tài thần theo phong tục thuần Việt hoàn toàn không giống với Trung Quốc, ngũ vị tài thần của Việt Nam là Hoàng thiên, Hậu thổ, là vua trời vua đất của nước Việt và ba vị tam tài Đông trù tư mệnh Táo chủ thần quân chủ về cơm no áo ấm, sức khoẻ; Thổ địa long mạch tôn thần chủ về đất đai long mạch và sự tiềm ẩn của cải sinh sôi; Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần chủ về tiền tài, thóc gạo đã thu hoạch, gặt hái về (tôi đã có nói trong bài thờ cúng táo quân).


Đối với bát hương thờ ngũ vị tài thần, đứng trong khuôn viên nhà mình mà nhìn ra cổng thì bên trái là long mạch, đào sâu xuống đến khi đụng phải nước, lấy một chút đất lẫn nước ở đó, cùng với một chút tro giữa lòng bếp hợp lại trộn với thần sa, chu sa rồi cũng gói vào tờ giấy trang kim với tiền âm dương, tua rua ngũ sắc mà để xuống đáy bát hương trước khi đổ tro lên cho đầy.


Lập bát hương cho người mới mất: Thủ tập lập bát hương như đã hướng dẫn trên. Sau đó giờ Tý nửa đêm, đem bát hương ra để trên nóc nhà để gọi nhập hồn. Cách khấn như sau:


– Kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ


– Kính lạy Đông trù tư mệnh Táo chủ thần quân Thổ địa long mạch tôn thần Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần


– Kính lạy Thanh hoàng bản xứ… (tên địa phương cư ngụ)…


– Kính lạy Gia tiên nhà….. (Nguyễn Trọng, Lê Huy….chẳng hạn)…


Cho phép hồn về nhập nơi cư ngụ!


Tiếp đến, cầm năm hương lạy bốn phương tám hương xong thì bắt đầu gọi hồn:


– Hú ba hồn bảy (chín) vía …(họ tên người chết)… về nơi cư ngụ! (một lần gọi xong thì tách một cây hương huơ một vòng tròn lên trời rồi cắm vào bát hương. Nếu người chết là nam thì gọi 7 lần; nếu người chết là nữ thì gọi 9 lần. Gọi đủ số lần thì đem bát hương để vào vị trí bàn thờ lập cho người mới chết).


Bát hương của người mới chết phải chờ hết khó mới được nhập vào bàn thờ gia tiên.


Thủ tục nhập bát hương của người hết khó vào bàn thờ gia tiên:


Bước 1: Làm lễ cẩn cáo với gia tiên để xin phép


Bước 2: Hoặc là đem nguyên bát hương của người hết khó để lên vị trí được quy định cấp bậc trên bàn thờ gia tiên; hoặc là chỉ rút phần cốt hương và ba cội hương từ bát hương của người mới chết nhập vào bát hương thơ chung của gia tiên. Bát hương cũ đem thả xuống sông, hoặc chôn xuống đất. Coi như hoàn tất thủ tục nhập.


Mỗi nhà chỉ nên có 2 – 3 bát hương trên một rường thờ mà thôi: Một bát thờ ngũ vị tài thần để ở vị trí cáo nhất; Một bát thờ gia tiên, Một bát hương thờ bà cô ông mãnh; gia đình nào mà dân chủ thì lập thêm một bát thờ đàng ngoại, bát hương này để ở vị trí thấp hơn một chút so với bên nội. Tuy nhiên tôi cung nói rõ, nếu gia đình cư ngụ trên đất hương hoả của nhà nội, thì không thờ ngoại được, mà chỉ có những cặp vợ chồng tự mua đất tạo dựng cơ nghiệp thì mới có thể thờ ngoại.


Việc lập bát hương thờ phụng phải chọn ngày lành tháng tốt. Có nhiều cách để chọn ngày, nhưng kinh nghiệm của tôi thì lấy ngũ hành tương khắc tương sinh làm trọng. Trước hết bà con căn cứ vào ngũ hành để chọn ngày sinh nhập cho gia chủ. Ví dụ gia chủ mạng kim thì chọn ngày thổ, gia chủ mạng thổ thì chọn ngày hoả, gia chủ mạng hoả thì chọn ngày mộc. Chọn ngũ hành thôi chưa đủ, ngày ngũ hành đó còn phải là ngày có ngôi sao hoàng đạo, riêng đối với việc lập bát hương thờ phụng này ta nên chọn ngày / giờ có ngôi sao Tư mệnh chủ về sự phúc đức để khởi sự sẽ được phúc đức lâu bền. Đặc biệt việc khởi tạo thờ phụng mà vòng định sinh của gia chủ rơi vào cung phúc đức hay thiên y thì sự linh thiêng sẽ tăng gấp bội.


5. Hoành phi: là vật trang trí bên ngoài cho thêm phần trang trọng, cho nên có thì đẹp đẽ hơn lên, còn như chưa có điều kiện thì cũng không ảnh hưởng gì đến việc thờ cúng cả, đối liễn cũng vậy. Hoành phi còn gọi là “biển”, “bức hoành”, vốn là một bức thư họa. thay vì đối liễn được viết dọc, thì hoành phi được viết ngang, dạng như một câu khẩu hiệu ngắn khoảng 3 – 5 chữ treo ở phòng khách, nhà thờ…Thông thường hoành phi trang trí ngang bên trên, còn hai câu đối được treo dựng hai bên, ví dụ bức hoành phi dưới đây được treo ở bàn thờ gia tiên, hoặc ở nhà thờ tổ:

Đức lưu quang


(Đức độ tỏa sáng)


6. Đối liễn: Hay còn gọi là câu “đối liên” là những câu chữ Hán hay chữ Nôm, có nơi dùng chữ quốc ngữ viết từng cặp dọc đi đôi, và ý nghĩa cũng đi đôi, thể hiện trên chất liệu vải, gỗ, hoặc giấy, ví dụ như một số câu đối sau đây:


Mộc xuất thiên chi do hữu bản


Thủy lưu vạn phái tổ tùng nguyên


(Cây chung ngàn nhánh sinh từ gốc


Nước chảy muôn dòng phát tại nguồn)


Hoặc là:


Nhật nguyệt quang chiếu thập phương


Tổ tông lưu thùy vạn tuế


(Vầng nhật nguyệt mười phương rạng rỡ


Đức Tổ Tông muôn thuở sáng ngời)


Ái Quốc mạc vọng Tổ


Nhân dân tiên mục thân


(Yêu nước chớ nên quên Tổ tiên


Thương dân trước phải hòa thân thích)


7. Lễ vật:


– Thứ bắt buộc phải có khi thắp hương : Hương – đăng (đèn) – hoa – ngũ quả – nước (5 chén + một bình)


– Vàng tiền thì cúng đốt vào các dịp trọng đại như tết, giỗ, ngoài ra thì rằm tháng giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng mười. Khi cúng tiền vàng, phải ghi rõ tên của vị gia tiên được hưởng lộc trước khi hoá vàng.


– Đối với cỗ mặn, to nhỏ tuỳ tâm và tuỳ khả năng tài chính của gia chủ, nhưng chỉ nên bày lên mâm, đặt lên một cái bàn riêng rẽ để phía trước bàn thờ với đầy đủ bát, đũa, thìa, muỗng, chén uống rượu như thể dọn mâm tiệc đãi khách. Chờ cho cháy hết 2/3 chân hương thì con cháu được phép phá cỗ.


8. Sớ cúng: Tôi có xem dăm ba cái sớ cúng của các dòng họ ở Nghệ Tĩnh, Tất cả đều một phom mẫu như nhau nội dung thế này:


Sớ Khấn lạy Trời Phật Thần Thánh


(mẫu)


Duy!


Việt Nam Cộng Sản Hoàng Triều


Nhâm Thìn Niên tuế, Đinh Mùi nguyệt (tháng), ……Nhật (ngày), …..Khắc (giờ)….


… tỉnh, … huyện, … phố,…(số nhà)…cư gia (nếu ở Từ đường thì đọc …(họ)…Từ đường gia tộc)


Con kính lạy Việt Nam Hoàng thiên Hậu thổ (một vái)


Con kính lạy! Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân – Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần – Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chính Thần (một vái)


Con kính lạy các Chư vị Việt Nam Thánh Quốc


Con kính lạy Thành hoàng bản địa…. (tên địa phương)…


Tín chủ con là:


…. và gia quyến, cùng nhất tâm cúi lạy Chư Thiên, Chư Địa, Chư Thần, Chư Phật, Chư Thánh;


Cúi lạy Thành hoàng bản thổ đại vương thần thánh gia ân, cho phép gia quyến chúng con được mời Tổ tiên của chúng con về tại địa chỉ: … tỉnh, … huyện, … phố,…(số nhà)…cư gia (nếu ở Từ đường thì đọc Lê / Nguyễn / Trần…. Từ đường gia tộc) để bàn bạc việc gia đình đại sự là …


Lòng thành lễ mọn, hương đăng, hoa quả, trà rượu, thanh tước chi nghi, dâng bày ra trước hương án, kính cẩn lạy dâng, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét cho chúng con được thể theo sở nguyện. Đồng thời cúi xin linh thiêng phù hộ độ trì cho chúng con khởi sự dược hanh thông mọi bề, phúc đức an lành, gia đạo vẹn toàn như ý.


Cẩn cáo ! (Ba lạy)


Sớ khấn gia tiên


(Mẫu: Sau khi khấn Trời Phật Thần Thánh)


Cận di phỉ lệ chi nghi cảm kính cáo vu:


(Hoặc nói theo Quốc Ngữ: Hương đăng hoa quả thanh tước chi nghi lên trước linh đài kính cẩn báo cáo!)


– Tằng Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê (Nguyễn/Võ/Trần…) mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy cố nội)…thụy chất trực phủ quân


– Tằng Tổ tỉ y phu chức Lê mạnh công chính thất…(họ tên của Bà cố nội)…từ thuận phu nhân


– Nội Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy ông nội)…thụy chất trực phủ quân


– Tằng Tổ tỉ y phu chức Lê mạnh công chính thất…(họ tên của Bà nội)…từ thuận phu nhân


– Nội Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy ông nội)…thụy chất trực phủ quân


– Hiền khảo (cha) ….xướng như trên bài vị….


– Hiền tỉ (mẹ)… xướng như trên bài vị


Hậu duệ con là Lê/Nguyễn/Bùi quý công … (tên đệm và tên chủ nhà)…cùng toàn thể gia quyến. Nay nhân …( lý do cúng: giỗ / rằm…)…


Cây có cội, nước có nguồn, ơn Tiên Tổ vun trồng công đức.


Lòng thành lễ mọn, hương, đăng, hoa, quả, thanh tước chi nghi, dâng bày ra trước hương án, kính cẩn lạy dâng. Cúi xin các Vị Cao, Tằng, Tổ, Khảo / Cao, Tằng, Tổ, Tỉ, cùng các vị Đường Bá (bác), Đường Thúc (chú), Đường Cô (cô), Bào Huynh (anh trai), Bào Đệ (em trai)… chứng giám lòng thành, âm phù dương trợ, sở nguyện tòng tâm, cho phép tín chủ được cử hành lễ …


Muôn vàn đội ơn Gia tiên linh thiêng phù hộ độ trì cho hậu duệ cháu con được muôn đời Tấn phúc, tấn lộc, tấn tài, tấn bình an, gia đạo vạn sự vẹn toàn như ý!


Cẩn cáo !


9. Ai thì được thờ ai? Tôi đã có bài về tại sao người Việt Nam nhận mình là con của Rồng, nhân đây tôi cũng nói luôn vì sao chúng ta lại là cháu tiên?


Chúng tai ai mà không thường được nghe hàng ngày hai chữ “gia tiên”. Vậy thì thiết nghĩ cũng nên có kiến thức hiểu biết xem “tiên” là ai?


Tiên của người Việt không phải là các tiên nữ ở trên thượng đế. Người Việt gọi chức danh của những người đã khuất trong bài sớ như sau:


– Cha/mẹ thì gọi là hiền khảo/hiền tỉ


– Ông/bà thì gọi là tổ khảo/tổ tỉ


– Cụ thì gọi là tằng tổ khảo/tằng tổ tỉ


– Kị thì gọi là cao tổ khảo/cao tổ tỉ


– Và từ vị thân sinh của cao tổ khảo đồ về trước đến đời thứ 2 được gọi là tiên tổ khảo


– Đời thứ nhất gọi là thuỷ tổ


Như vậy thì đã rõ tiên là ai, và tập quán người Việt quy định cấp bậc được phép thờ phụng tiên tổ như sau:


– Trưởng tộc: phải thờ tất cả từ thuỷ tổ – tiên tổ – cao – tằng – tổ – khảo đổ xuống,


– Trưởng chi họ: phải thờ 4 đời gồm : Cao tổ – tằng tổ – tổ – khảo (cao tổ được lên tiên khi trong chi họ có thế hệ thờ cúng mới, ví dụ khảo chết thì con trưởng đảm nhiệm ngôi vị thờ cúng, lúc đó Cao tổ khảo được rước bài vị sang nhà thờ tộc để làm lễ lên tiên. Nếu dòng họ nào chưa có nơi thờ tự dòng tộc chính thống, thì bài vị tiên tổ được xếp cất vào một hòm gỗ không tiếp tục thờ phụng nữa);


– Con trưởng trong gia đình thì thờ 3 đời: Tằng – tổ – khảo


– Con thứ trong gia đình thì chỉ thờ khảo, hoặc tổ – khảo mà thôi


Như vậy là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ giới thiệu về phương pháp thờ cúng trong gia đình. Hy vọng ai đã quan tâm thì nên đọc cho kỹ, hiểu cho thấu đáo để thờ phụng cho đúng ý nghĩa, thoát khỏi sự u mê của các thầy cúng bày trò dị đoan lừa tiền dân chúng. Tu tâm mà giữ lấy cái chân thiện mỹ, cái phước đức lâu bền cho gia đình, cho dòng họ được hưng thịnh muôn đời


(Sưu Tầm)

Đăng bởi Để lại phản hồi

Cúng giỗ cách nào là hợp lý nhất?

HỎI: Tôi thấy: 1-Có nhà đến ngày giỗ, chỉ chưng hoa trái lên bàn thờ, thắp nhang khấn vái cầu nguyện cho ông bà siêu thoát. Còn con cháu họp mặt và quây quần dùng bữa cơm gia đình, không có bày mâm cỗ cúng kiếng. 2-Có nhà thì tổ chức cỗ bàn cúng kiếng quy mô. Sau khi cúng xong thì ăn nhậu thỏa thích, có khi anh em thân tộc còn gây gổ, đánh nhau làm mất tình cảm bà con dòng tộc. 3-Có nhà thì không cúng đúng vào ngày giỗ mà chọn ngày Chủ nhật để con cháu sum vầy. 4-Có nhà thì phân công mỗi người con làm giỗ một năm, khách ai thì nấy mời. Vậy đối với người Phật tử, cách cúng giỗ nào là hợp lý nhất?








ĐÁP:


Lễ phẩm cúng giỗ biểu trưng cho tấm lòng hiếu thuận của con cháu, lễ bạc mà lòng thành, ngoài hoa trái hương đèn thì nên có mâm cỗ. Theo chúng tôi, nhà (1) cúng giỗ mà chỉ có hương hoa, không có mâm cỗ dâng cúng là chưa đủ lễ. Nhà (2) có điều kiện cúng kiếng lớn thì quá tốt. Tuy nhiên, là Phật tử thì nên lưu ý không sát hại sinh vật, không rượu chè say sưa. Nhà (3) chọn ngày Chủ nhật để cúng giỗ cho con cháu được sum vầy đầy đủ, trong tinh thần phương tiện cũng không có gì trở ngại. Tuy nhiên, cần nhắc lại chính xác ngày giỗ cho con cháu nghe để ghi nhớ. Nhà (4) đông anh em nên phân công mỗi người làm giỗ một năm cũng rất hay.


Đối với người Phật tử, đến ngày giỗ thì cũng tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể, tùy duyên mà tưởng niệm, cúng kiếng. Nếu hội đủ duyên lành, nên tập trung con cháu tụng một thời kinh cầu siêu, dâng cúng hương hoa và cỗ chay, làm phước thiện để hồi hướng công đức, bữa cơm gia đình cần thân mật và ấm cúng, thiết nghĩ nên nhắc lại lược sử của ông (bà), cha (mẹ) lúc sinh tiền để con cháu ghi nhớ và noi gương.


Theo: Giacngo

Đăng bởi Để lại phản hồi

NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA ĐẠO MẪU VIỆT NAM QUA CÁC TRUYỀN THUYẾT VÀ HUYỀN THOẠI

Việc nhận thức đúng những giá trị của đạo Mẫu Việt Nam có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn, từ đó xác định thái độ của các tín hữu đạo Mẫu, của những người quản lý xã hội và người dân đối với di sản văn hóa tinh thần này. 


Có thể nêu một số giá trị tiêu biểu như: “Mẹ tự nhiên”, một thế giới quan cổ xưa của người Việt; Hướng con người đến thái độ sống hòa hợp, hòa nhập, khiến cho đạo Mẫu trở thành biểu tượng đa văn hóa tộc người; “Lên đồng” là một nghi lễ quan trọng bậc nhất của đạo Mẫu, là một hình thức diễn xướng tâm linh, một “bảo tàng sống” của văn hóa dân tộc Việt; Xác lập một nhân sinh quan tín ngưỡng của người Việt hướng về đời sống trần thế, đó là cầu mong sức khỏe, tiền tài, phúc lộc; Đạo Mẫu là một thứ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được tâm linh hóa, tín ngưỡng hóa.
Nhân sinh quan tín ngưỡng
Khác với nhiều tôn giáo tín ngưỡng, dù đó là Phật giáo, Kitô giáo, đạo Mẫu không hướng chính con người và niềm tin của con người về thế giới sau khi chết, mà là thế giới hiện tại, thế giới mà con người cần phải có sức khỏe, có tiền tài và quan lộc. Đó là một nhân sinh quan mang tính tích cực, phù hợp với quan niệm “hiện sinh” của con người trong thế giới hiện đại. Đây cũng là cách tư duy thể hiện tính “thực tế”, “thực dụng” của con người Việt Nam.
Chúng ta cũng khó đo đếm được có bao nhiêu con người Việt Nam tin vào sức mạnh và sự kỳ diệu của Thánh Mẫu. Chỉ biết rằng, không chỉ hàng ngày người ta đến cầu xin Thánh Mẫu, mà còn vào những dịp hội hè, lễ tiết theo chu kỳ “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ” số lượt người trẩy hội đến các đền phủ tăng gấp bội để cầu mong Mẫu ban cho mình sức khỏe và tài lộc.
Trong nghiên cứu hiện nay, các nhà khoa học đã bắt đầu lý giải được việc những người có căn số, tức là những người có những đặc tính tâm sinh lý đặc biệt, dễ bị ảnh hưởng của xã hội, nên dễ dẫn đến tình trạng rối loạn về tâm lý và hành vi, thì thường sau khi ra trình đồng đều khỏi bệnh, trở về trạng thái tâm sinh lý bình thường. Thậm chí, ngay cả với những người dù không có “căn đồng” mà chỉ để giải tỏa, giải trí trước những sức ép của nhịp sống xã hội đô thị hiện đại (dân gian gọi là đồng đua, đồng đú), thì khi lên đồng cũng giúp họ giải tỏa được những stress. Đó là tác dụng trị liệu của đạo Mẫu và Lên đồng.
Những tín đồ của đạo Mẫu, nhất là những người làm nghề kinh doanh buôn bán có một niềm tin mãnh liệt vào Thánh Mẫu, người có thể phù hộ cho họ buôn bán phát đạt. Ở đây, chúng ta khó có thể lý giải được thực sự có hay không một lực lượng siêu nhiên nào đã hỗ trợ cho họ trong việc kinh doanh buôn bán, có lẽ lúc này, niềm tin của con người giữ vai trò quyết định, có thể tạo nên sức mạnh vật chất thực sự.
Tín ngưỡng hóa, tâm linh hóa
Đạo Mẫu, thông qua các ký ức, các truyền thuyết và huyền thoại, qua các nghi lễ và lễ hội đã thể hiện rõ ý thức lịch sử và ý thức xã hội của mình. Trong điện thần của đạo Mẫu, hầu hết các vị thánh đã được lịch sử hóa, tức là đều hóa thân thành những con người có danh tiếng, có công trạng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tất nhiên, trên thực tế có không ít những vị thánh thần vốn thoát thai từ các nhân vật có thật trong lịch sử, sau này được người đời tô vẽ, thần tượng lên thành các vị thần thánh, tức là các vị thần thánh có “nguyên mẫu” trong lịch sử (Trần Hưng Đạo – Đức Thánh Trần, Mẹ Âu Cơ – Mẫu Thượng Ngàn, Lê Khôi hay Nguyễn Xí – Ông Hoàng Mười, Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan – Ông Hoàng Bơ, Bà Lê Chân – Thánh Mẫu Bát Nàn…). Ngoài ra còn có nhiều vị thần linh, vốn là các thiên thần hay nhiên thần, nhưng lại được người đời “nhân thần hóa” hay “lịch sử hóa”, gán cho họ có sự nghiệp, có công trạng với đất nước hay từng địa phương.
Bằng cách đó, đạo Mẫu gắn bó với cội nguồn và lịch sử dân tộc, để trở thành một biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, một thứ chủ nghĩa yêu nước để được tín ngưỡng hóa, tâm linh hóa, mà trong đó người Mẹ – Mẫu là nhân vật trung tâm ..
Chính những giá trị nhận thức, giá trị lịch sử, truyền thống, xã hội, văn hoá kể trên đã làm cho đạo Mẫu trở thành một trong những tôn giáo tín ngưỡng bản địa hàng đầu của các dân tộc Việt Nam.

*Danh sách các vị thần gồm:

Tam Tòa Thánh Mẫu

Mẫu Thượng Thiên
Mẫu Thượng Ngàn
Mẫu Thoải

Hàng Quan

Quan đệ nhất thượng Thiên
Quan đệ nhị giám sát thượng ngàn
Quan đệ Tam Thoải Cung
Quan đệ Tứ khâm sai
Quan đệ ngũ Tuần tranh

Ngoài ra còn có Quan lớn Điều Thất, Quan Hoàng Triệu Tường
Các vị Quan hay được hầu là Quan đệ Nhất, Quan đệ Nhị, Quan đệ Tam, Quan đệ Ngũ

Hàng Chầu bà

Chầu đệ nhất thượng thiên, Chầu đệ nhị thượng ngàn, Chầu đệ tam thoải cung, Chầu đệ tứ khâm sai, Chầu năm suối Lân, Chầu Lục cung nương, Chầu Bảy Kim Giao (Chầu Bảy Tân La), Chầu Bát Nàn Đại Tướng Đông Nhung, Chầu Cửu Sòng Sơn, Chầu Mười Đồng Mỏ, Chầu Bé Bắc Lệ.
Các vị Chầu phổ biến hay hầu bóng gồm Chầu đệ nhị, Chầu Lục, Chầu Bát, Chầu Mười, Chầu bé
Ngoài ra còn một số vị Chầu khác cũng có hát văn, nhưng về cơ bản ít được hầu bóng, hoặc là chỉ ở một địa phương.

Hàng ông Hoàng

Hoàng Cả
Hoàng đôi Bảo Hà
Hoàng Bơ Thoải Quốc
Hoàng Tư
Hoàng Năm
Hoàng Lục Thanh Hà
Hoàng Bảy Bảo Hà
Hoàng Bát Bắc Quốc
Hoàng Chín Cờn Môn
Hoàng Mười Nghệ An
Các giá Hoàng thường ngự đồng là Hoàng Bơ, Hoàng Bảy, Hoàng Mười

Hàng Cô – Cậu

Cô Nhất Thượng Thiên, Cô đôi thượng ngàn, Cô đôi Cam Đường, cô Bơ thoải cung, cô Tư Ỷ La, cô Năm Suối Lân, cô Sáu sơn trang, cô Bảy Kim Giao (Cô Bảy Tân La), cô Tám đồi chè, Cô Chín Sòng Sơn, Cô Mười Mỏ Ba, Hội đồng các cô Bé: cô Bé thượng ngàn, cô Bé Đông Cuông, cô Bé Suối Ngang,…
Cậu Cả, Cậu Đôi, cậu Bơ, Cậu hoàng bé bản đền, Cậu Bé Đồi Ngang

Hàng Ngũ Hổ ông Lốt

Tức là năm ông hổ tượng trưng ngũ hành, và Lốt (Thuồng Luồng*)

*Các trung tâm thờ mẫu tiêu biểu:
  • Nam Định: có 352 di tích lịch sử – văn hoá thờ và phối thờ Mẫu; trong đó có 220 phủ, 16 miếu, 72 chùa phối thờ, 44 đền, đình thờ chung với thành hoàng làng, tiêu biểu như Phủ Dầy (huyện Vụ Bản), Phủ Quảng Cung (Xã Yên Đồng, huyện Ý Yên), Phủ Nấp.
  • Hà Nam: có 185 di tích thờ Mẫu, tiêu biểu như: Đền Lảnh Giang (Duy Tiên), đền Trần Thương, đền Bà Vũ, đền Mẫu Cửu Tỉnh.
  • Ninh Bình: có 415 di tích lịch sử văn hóa thờ và phối thờ Mẫu, tiêu biểu như: Đền Dâuđền Quán Cháophủ Đồi Ngang, phủ Sòng Xanh, phủ Châu Sơn, đền Cô Đôi Thượng Ngànđền Vân Thị, đền Sầy, chùa Bái Đính cổ, đền Quèn Thạch, đền Thung Lá, đền Mẫu Thượng…
  • Hà Nội: có 1014 di tích thờ Mẫu và 886 điện tư gia, tiêu biểu như: Phủ Tây Hồ, Đền Quan Tam Phủ, đền Rừng, đền Lừ, đền An Thọ, đền Bà Kiệu, đền Liên Hoa, Đền Sét…
  • Thái Bình: Đền Tiên La thờ Chầu Bát, Đền Đồng Bằng thờ Vua Cha Bát Hải, Đền Hưng Long thờ Quan Hoàng Bơ, Đền Thánh Mẫu thờ Đinh Triều Hoàng Hậu.
  • Hải Dương: Di tích đền Đoan; đền thờ quan Tam phủ, đền Mẫu The, đền mẫu Kinh Câu và đền Mẫu Sinh,…
  • Hưng Yên: Đền Mẫu Hưng Yên,
  • Hải Phòng: Đền thờ quan Đệ tứ.
  • Vĩnh Phúc: có 60 điểm tín ngưỡng thờ Mẫu như: Đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên,Chúa bà đệ nhất Tây Thiên-Đại Đình -Tam Đảo, Đền Chân Suối, Đền bà chúa thượng ngàn, Đền chúa Mán -Đông Hội, Đền Thanh Lanh.
  • Bắc Giang: Đền Suối Mỡ, đền Nguyệt Hồ, đền Từ Mận, đền Đà Hy, đền Phủ.
  • Phú Thọ: Đền Tam Giang, Đền thờ Tam tòa Thánh Mẫu.
  • Lạng Sơn: Đền Mẫu Sơn, đền Bắc Lệ,…
  • Hòa Bình: Đền Bồng Lai, đền Mẫu Thác Bờ,
  • Lào Cai: Đền thờ ông Hoàng Bảy ở Bảo Hà.
  • Yên Bái: Đền Đông Cuông,
  • Tuyên Quang: đền Ghềnh Quýt, đền Pha Lô, đền Đồng Xuân, đền Cảnh Xanh, đền Mẫu Ỷ La, đền Lương Quán, đền Mỏ Than, đền Lâm Sơn, đền Quang Kiều, đền Cấm, đền Ba Khuôn và đền Minh Lương.
  • Thanh Hóa: Đền Sòng Sơn, đền Rồng, đền Nước,…
  • Nghệ An: Đền thờ ông Hoàng Mười, đền Hồng Sơn, đền Cửa, đền Ngọc Điền, đền Pu Nhạ Thầu.
  • Hà Tĩnh: Đền thờ ông Hoàng Mười, đền Nước Lạt, Miếu Chai (Thạch Đài), đền Văn Sơn (Thạch Đỉnh).
  • Thừa Thiên Huế: Điện Hòn Chén.
  • Thành phố Hồ Chí Minh: Đền Mẫu, đền Đằng Giang, đền Chầu Lục.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Văn khấn nôm cúng gia tiên ngày Rằm, mùng 1 hàng tháng


Theo phong tục của người Việt từ xa xưa, cứ vào ngày mồng Một và Rằm hàng tháng, các gia đình người Việt Nam thường làm lễ cúng Gia Thần, Gia Tiên. Chúng tôi xin chia sẻ tới bạn đọc bài văn khấn ngày Rằm, mùng 1 hàng tháng để tham khảo.



Theo tục lệ xưa để lại, cứ vào ngày mồng Một và chiều tối ngày Rằm hàng tháng, các gia đình người Việt Nam thường làm lễ cúng trên bàn thờ gia tiên cúng Gia tiên và Gia thần để cầu xin cho mọi người trong gia đình được khoẻ mạnh, bình an, may mắn, thành đạt… .
Sắm lễ:
Lễ cúng vào ngày Mồng Một (lễ Sóc) và lễ cúng vào chiều tối ngày Rằm (lễ Vọng) thường là lễ chay: Hương, loa, trầu cau, quả, tiền vàng.
Ngoài lễ chay cũng có thể cúng thêm lễ nặn vào ngày này gồm: Rượu, thịt gà luộc, các món mặn. Sắm lễ ngày mồng một và ngày rằm chủ yếu là thành tâm kính lễ, cầu xin lễ vật có thể rất giản dị: hương, hoa, lá trầu, quả cau, chén nước.

Văn khấn thần Thổ Công và các vị thần (Vào ngày mùng Một và ngày Rằm)


Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
– Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
– Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ chư vi Tôn thần.
– Con kính lạy ngài Đông Thần quân
– Con kính lạy ngài Bản gia thổ địa Long Mạch
– Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức Tôn thần
– Con kính lạy ngài tiền hậu địa chủ tài thần
– Con kính lạy các Tôn thần cai quản trong khu vực này.
Tín chủ (chúng) con là:……………………………………. Ngụ tại:…………………………………………………………..
Hôm nay là ngày…… tháng…… năm…., tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kim ngân trà quả đốt nén hương thơm dâng lên trước án. Chúng con thành tâm kính mời: ngài Kim Niên đương cai Thái Tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ địa. Long Mạch Tôn thần, các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Phúc đức chính thần, các vị Tôn thần cai quản trong khu vực này. Cúi xin các Ngài nghe thấu lời mời thương xót thương tín chủ giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc công việc hanh thông. Người người được bình an, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Sưu tầm
Đăng bởi Để lại phản hồi

Truyền thuyết lễ Vu Lan: “Mùa hiếu hạnh”

CÔNG CHA NHƯ NÚI THÁI SƠN
NGHĨA MẸ NHƯ NƯỚC TRONG NGUỒN CHẢY RA
MỘT LÒNG THỜ MẸ, KÍNH CHA
CHO TRÒN CHỮ HIẾU, MỚI LÀ ĐẠO CON

Truyền thuyết dân gian cho rằng từ mùng 2/7, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan và đến rằm tháng 7 thì “thả cửa” để cho ma quỷ ra tứ phương, đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì kết thúc và các ma quỷ phải quay lại địa ngục.Cũng còn tháng nữa là tới tháng 7 rồi dân gian ta hay nói vui đó là tháng cô hồn và tháng này cũng là tháng Vu Lan báo hiếu. Vậy có ai biết về truyền thuyết tại sao lại có tháng cô hồn và Vu Lan báo hiếu này. Mọi người cùng đọc nha! chắc chắn khi đọc xong bạn sẽ thấy tâm hồn thư thái và thanh nhàn..,Truyền thuyết dân gian cho rằng từ mùng 2/7, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan và đến rằm tháng 7 thì “thả cửa” để cho ma quỷ ra tứ phương, đến sau 12 giờ đêm ngày 14/7 thì kết thúc và các ma quỷ phải quay lại địa ngục.







Bởi vậy, vào đêm 14/7, người ta thường đốt nến, hóa vàng bạc hoặc giết gà vịt cúng quỷ đói để cầu được bình an và những điều tốt đẹp, không bị ma quỷ hại phá, đó chính là nguồn gốc của tên gọi Tết Quỷ. Nguồn cội của Tết Quỷ gắn liền với văn hóa Đạo giáo của Trung Quốc, bởi Phật giáo không có chủ trương sát sinh hoặc đốt vàng bạc hàng mã để cúng tế quỷ thần. Đạo giáo gọi Thiên – Địa – Thuỷ là “Tam Nguyên”. Nguyên tức là sự khởi đầu của tất cả, Trời – Đất – Nước là ba nguyên khí căn bản tạo ra và nuôi dưỡng con người cùng vạn vật. Nếu đem Tam Nguyên này xếp vào ba ngày âm lịch trong năm, thì sẽ có “Tam Nguyệt Nhật”: 15/1 là Thượng Nguyên, 15/7 là Trung Nguyên và 15/10 là Hạ Nguyên. Theo truyền thuyết, Tam Nguyên Nhật là sinh nhật của Tam Quan Đại Đế trong Đạo giáo, địa vị của ba đại đế này chỉ đứng sau Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ngày Thượng Nguyên là sinh nhật của “Thiên quan tứ phúc đại đế”, ngày Trung Nguyên là sinh nhật của “Địa quan xá tội đại đế”, còn ngày Hạ Nguyên là sinh nhật của “Thủy quan giải nguy đại đế”. Ba đại đế chia nhau cai quản khắp nơi, cho nên Tam Nguyên Nhật trở thành ba ngày lễ lớn quan trọng của Đạo giáo. 


Trong dân gian có rất nhiều truyền thuyết về Tam Quan, và thường người ta ghép Thiên Quan, Địa Quan, Thuỷ Quan vào Tam Hoàng: Nghiêu, Thuấn, Vũ. Thiên Quan (Nghiêu Đế) chủ về ban phúc cho nên rất được dân gian tín phụng. Thuỷ Quan (Vũ Đế) chủ về trị thủy, làm cho dân chúng được an cư lạc nghiệp. Còn Địa Quan (Thuấn Đế) chia Trung Quốc thành 12 châu, làm cho dân chúng có cuộc sống ổn định, hơn nữa vua Thuấn lại là người con chí hiếu, cho nên Tam Nguyên Nhật cũng còn được gọi là “Lễ báo hiếu”. Thời cổ, vào ngày lễ báo hiếu, người Trung Quốc giết dê, gà và đốt hương, hóa vàng để tế ông bà tổ tiên, rồi dần dần được mở rộng ra thành ngày phổ độ cho cả cô hồn và từ đó mang tên gọi “Trung Nguyên phổ độ”.Nhưng ngày 15/7 cũng chính là Lễ Vu Lan của Phật giáo, như vậy Lễ Vu Lan của Phật giáo và Tết Quỷ trong dân gian Trung Quốc là không hoàn toàn giống nhau. Ở Trung Quốc, Lễ Vũ Lan đầu tiên được bắt đầu từ thời Lương Vũ Đế, đến đời Đường (thế kỷ 7-10) đã rất thịnh hành. Vu Lan là dịch ý từ tiếng phạn Ullambana, nghĩa là giải thoát khỏi sự “khốn khổ vì bị treo ngược”. Mẹ của tôn giả Mục Kiền Liên từng sống sa đọa, gây nhiều ác nghiệp, khi chết bị đọa địa ngục làm quỷ đói và chịu hình phạt treo ngược người như vậy. 




Ý nghĩa và nguồn gốc Lễ Vu Lan được ghi chép và giải thích rõ trong Vu Lan Bồn Kinh: Lễ Vu Lan với nghi thức bông hồng cài áo là nét văn hóa đẹp có ý nghĩa giáo dục lòng hiếu thảo và tình người cho đại chúng.”Thời Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế,trong số 10 đại đệ tử của ngài có một vị tôn giả tên Mục Kiền Liên. Sau này Mục Kiền Liên đắc quả A La Hán thoát khỏi nghiệp sinh tử và có pháp lực thần thông cao cường. Trước khi Mục Kiền Liên tu thành chánh quả, cha mẹ của ngài đều đã mất sớm và trở thành quỷ đói bị đọa vào địa ngục. Sau khi đắc đạo, Mục Kiền Liên muốn báo ân phụ mẫu bèn dùng thiên nhãn quan sát khắp nơi, thấy song thân ngài đang bị giam hãm dưới âm ty với hình dạng quỷ đói hết sức đáng sợ: bụng to như núi, mà cổ họng chỉ nhỏ như cây kim, không thể ăn uống gì được, thân thể hai người chỉ còn da bọc xương mà thôi. Mục Kiền Liên thấy vậy vô cùng đau xót bèn cầm một bát thức ăn dùng thần lực mang xuống âm phủ cho mẹ, nhưng thức ăn vừa đưa sát miệng liền hóa thành tro bụi. Mục Kiền Liên đành chịu bất lực, vội đi bái kiến và thuật chuyện của mình cho Phật Thích Ca nghe. Đức Phật nói: “Cha mẹ ngươi thời còn sống đã tạo ra vô số tội lỗi, cho nên sau khi chết phải bị đọa vào địa ngục làm quỷ đói để chịu quả báo, một mình ngươi không thể đủ sức cầu độ cho họ được, mà phải dựa vào uy lực của tăng chúng mười phương mới mong giải thoát nổi. 


Vào ngày rằm từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm, tất cả tăng chúng đều cùng tụ họp tinh tiến tu hành, đến ngày rằm tháng 7 thì kết thúc và trong ngày này sẽ có nhiều tăng chúng đắc chánh quả. Ngày ấy, nếu ngươi muốn cứu song thân khỏi khổ quỷ đói, phải cúng dường cơm chay cho tăng chúng, như vậy công đức rất lớn, không những việc làm đó có thể giải thoát cho song thân ngươi khỏi khổ quỷ đói, mà thậm chí còn có thể khiến 7 kiếp của song thân người còn được hưởng phúc trên trời. Giá như cha mẹ ngươi còn tại thế, thì việc cầu cúng ấy cũng có thể khiến họ được thêm phúc đức và trường thọ”. Mục Kiền Liên làm theo lời Phật dạy, quả nhiên cha mẹ của tôn giả thoát được kiếp quỷ đói và siêu thăng”. Dân gian tin rằng dằm tháng 7 là ngày Quỷ Môn Quan mở để ma quỷ được tự do về dương thế, đó cũng là ngày “âm khí xung thiên”, cho nên ngoài việc cầu cúng, người ta cũng đặt ra nhiều điều kiêng cấm để bảo vệ bản thân mình. 

Đăng bởi Để lại phản hồi

Cỗ chay và cỗ mặn cúng Rằm tháng 7 của người Việt.

Mâm cơm cúng Rằm tháng 7 thường được các gia đình làm theo 2 kiểu khác nhau: cỗ chay và cỗ mặn. Và tất nhiên, dù làm cỗ nào, bạn cũng không thể thiếu các đồ như hương hoa, vàng mã, đèn, nến, trầu cau, ngô, bỏng gạo… Cùng xem các món ăn có trong 2 mâm cỗ này là gì?

Mâm cơm cúng Rằm tháng 7 của người Việt thường là cỗ chay hoặc cỗ mặn. 

Mâm cơm cúng Rằm tháng 7 bằng đồ mặn bao gồm:

  • 1
    Xôi đỗ xanh
    Đây chắc hẳn là món ăn đầu tiên trong mâm cơm cúng Rằm tháng 7 không thể thiếu của người Việt. Theo truyền thống, trong tất các các ngày lễ Tết hay ngày Rằm thì xôi là món ăn không thể thiếu khi cúng ông bà tổ tiên. Bạn có thể dùng xôi đỗ xanh để làm mâm cỗ chay hay cỗ mặn đều được.
    Với món ăn này, bạn sẽ có đĩa xôi thơm nức mũi, hạt dẻo mềm kết hợp với những hạt đậu xanh bở tơi vô cùng hấp dẫn. Lưu ý, trước khi nấu xôi, bạn nên chọn loại nếp cái hoa vàng rồi ngâm gạo qua đêm để xôi được dẻo hơn nhé!
    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt1
    Xôi đỗ xanh chắc chắn là món ăn không thể thiếu trong mâm cơm cúng Rằm tháng 7 của người Việt.
  • 2
    Gà luộc
    Cũng như xôi đỗ xanh, gà luộc cũng là món ăn không thể thiếu trong bất cứ mâm cỗ nào của người Việt. Và mâm cơm cúng Rằm tháng 7 cũng không ngoại lệ.
    Trong ngày này, các gia đình thường cúng gà trống hay gà mái đều được. Dù cúng gà nào đi chăng nữa, các bà nội trợ đều phải chọn những con gà to, khỏe, chắc thịt mang về làm sạch rồi luộc chín. Để cho món gà luộc được đẹp mắt, họ thường quết lên gà lớp hỗn hợp mỡ gà và nghệ giã nát cho da gà căng bóng. Nếu nhà nào cẩn thận, họ còn luộc gà rồi bẻ cánh thành hình cánh tiên rồi cài thêm bông hoa hồng vào mỏ vô cùng bắt mắt.
    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt2
    Gà luộc cũng là một trong những món ăn phải có trong mâm cơm cúng Rằm tháng 7.
  • 3
    Giò lụa
    Giò, chả cũng là một trong những món ăn truyền thống trên mâm cỗ mặn của người Việt. Dù ngày nay, giò chả được bán rất nhiều trong các siêu thị nhưng nếu có thể, bạn hãy tự tay làm một đĩa giò lụa để dâng lên ông bà tổ tiên trong mâm cơm cúng Rằm tháng 7.
    Những miếng giò lụa được xếp khéo léo sẽ giúp mâm cỗ của gia đình bạn thêm bắt mắt. Hơn nữa, đây cũng là một trong những món ăn kèm với xôi đậu xanh hoặc xôi gấc rất tuyệt đấy. Những miếng giò lụa óng mượt, thơm mùi tiêu do chính tay bạn làm chắc chắn sẽ hấp dẫn các thành viên trong gia đình.
    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt3
    Những miếng giò lụa cắt tỉa khéo léo sẽ giúp mâm cơm cúng của bạn đẹp mắt hơn.
  • 4
    Nem rán
    Mỗi khi cần làm cơm cúng, thì nem rán cũng là một trong những món ăn đầu tiên được các bà nội trợ nghĩ tới. Đây không chỉ là món ăn truyền thống của người Việt, mà nem rán còn trở thành niềm tự hào của người dân miền Bắc. Những miếng nem rán vàng ươm, giòn tan khi ăn có vị ngọt bùi của các loại nhân vô cùng hấp dẫn.
    Để món ném rán cho mâm cơm cúng Rằm tháng 7 thêm trọn vị, bạn đừng quên pha một bát nước chấm nem chua ngọt để ăn kèm nhé. Nước chấm chua ngọt sẽ giúp hạn chế độ ngấy của món nem đấy.

    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt4
    Khi làm cỗ mặn cúng Rằm tháng 7, bạn đừng quên làm món nem rán nhé!
  • 5
    Nộm gà
    Dù là món ăn không bắt buộc phải có trong mâm cỗ cúng. Nhưng món nộm bao giờ cũng được nhiều người lựa chọn. Món nộm giúp cho bữa cơm ngày Rằm của gia đình bạn bớt ngấy ngán hơn bởi những món giò chả, nem rán.
    Bạn có thể làm rất nhiều món nộm khác nhau từ nộm đu đủ, nộm dưa chuột hay nộm hoa chuối…Tuy nhiên, nếu để đặt trên mâm cỗ cúng Rằm tháng 7 thì món nộm gà xe phay ngọt mát sẽ sang trọng và ngon miệng hơn nhiều.

    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt5
    Nộm gà sẽ giúp bạn chống ngán trong bữa ăn.
  • 6
    Miến nấu lòng gà
    Sau khi làm xong tất cả các món trên, bạn hãy tận dụng nước luộc gà để nấu miến nhé. Theo quan niệm, mâm cỗ cúng phải có bát canh, nhưng thay vì nấu canh, bạn có thể nấu bát miến để đặt lên mâm cơm cúng Rằm tháng 7 của gia đình.
    Miến nên nấu sau nhất bởi nấu sớm, miến sẽ bị nát ăn mất ngon. Sau khi nấu miến, bạn nên vớt riêng ra, khi nào ăn mới chan nước dùng vào. Những sợi miến dai dai, ăn kèm với nước dùng ngọt thanh cũng là món ăn giúp bạn đỡ ngấy ngán hơn trong ngày này đấy.

    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt6
    Món ăn cuối cùng trong mâm cỗ mặn là miến nấu lòng gà.

Mâm cơm cúng Rằm tháng 7 bằng cỗ chay gồm có:

  • 1
    Tôm chay
    Trong các mâm cỗ, nếu có điều kiện, nhiều gia đình cũng không quên làm thêm một đĩa tôm chiên, hoặc tôm hấp để cúng. Tuy nhiên, nếu là cỗ chay, bạn vẫn có thể có một đĩa tôm rất đẹp mắt trên mâm cỗ của gia đình bằng cách tự tay tạo ra món tôm chay cực ngon miệng.
    Tôm chay không chỉ là món ăn giúp cho mâm cơm cúng Rằm tháng 7 thêm bắt mắt mà còn rất ngon miệng nữa. Cách làm tôm chay khá đơn giản, bạn có thể tạo ra chúng bằng những miếng váng đậu phụ rất dễ kiếm.
    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt7
    Tôm chay là món ăn ngon miệng mà rất bắt mắt cho mâm cỗ Rằm tháng 7.
  • 2
    Nem nấm chay
    Để cho mâm cỗ cúng Rằm tháng 7 đầy đủ, bạn cũng đừng quên làm món nem chay nhé. Nếu chưa có ý tưởng nào cho món nem này thì làm nem nấm có thể là gợi ý hay ho cho bạn đấy.
    Nem nấm chay ăn giòn tan, vỏ ngoài vàng ươm, nhân bên trong gồm nhiều loại nấm ngọt thanh, cũng ngon chẳng kém gì các món nem mặn mà bạn vẫn thường làm đâu.

    Nem nấm chay ngon chẳng kém các loại nem mặn khác.
  • 3
    Đậu phụ non sốt chay
    Trong danh sách của những người ăn chay trường, không thể nào thiếu món đậu phụ. Tuy nhiên, trong mâm cỗ chay nếu bạn chỉ cúng vài bìa đậu phụ luộc thì mâm cỗ sẽ không bắt mắt và hấp dẫn. 
    Để thay đổi khẩu vị cũng như màu sắc món ăn, bạn có thể tham khảo món đậu phụ non sốt chay nhé. Đậu phụ non sốt chay với vị cay cay của nước sốt cùng với vị mềm mịn của đậu phụ non chắc chắn sẽ khiến bạn hài lòng.

    Đậu phụ non sốt chay cay cay cũng là món ăn vô cùng hấp dẫn cho mâm cỗ cúng Rằm.
  • 4
    Chả lá lốt chay
    Chả lá lốt chay có công thức làm khá đơn giản, nhưng lại là món rán khá ngon miệng và bắt mắt cho mâm cơm cúng Rằm tháng 7 cho gia đình bạn.
    Nếu bình thường, làm chả lá lốt, bạn thường gói bằng nhân thịt, cá thì với món chả lá lốt chay, bạn chỉ cần thay nhân bằng đậu phụ, mộc nhĩ, đậu Hà Lan và ngô ngọt là cũng có món chả rán thơm lừng cho cả nhà rồi. Chắc chắn, ai ăn cũng ngạc nhiên về sự khéo léo của bạn trong việc sáng tạo ra món ăn lạ vị như thế này.

    Chả lá lốt chay là gợi ý thú vị cho mâm cỗ chay của bạn vào Rằm tháng 7.
  • 5
    Canh rau củ chay
    Trong bất kỳ mâm cỗ nào dù là cỗ chay hay cỗ mặn thì không thể thiếu được bát canh. Nếu trong mâm cỗ mặn, bạn có thể thay canh bằng bát miến nấu lòng gà thì với cỗ chay, bạn có thể nấu một bát canh rau củ để cúng tổ tiên.
    Canh rau củ là sự kết hợp của các loại củ, quả như hạt sen, củ đậu, cà rốt, su hào…Không chỉ tạo nên món canh cực hấp dẫn với nhiều dưỡng chất mà món canh này còn rất bắt mắt nhờ sự kết hợp nhiều màu sắc của các loại rau củ. Chắc chắn, ai nhìn thấy món canh này cũng không thể rời mắt khỏi nó.

    Canh rau củ sẽ là món ăn giúp mâm cơm cúng Rằm tháng 7 của bạn thêm trọn vẹn.
Đăng bởi Để lại phản hồi

THẾ NÀO LÀ ĐỦ LỄ

Cúng lễ là cúng Trời Đất và Người. Người đây là người trần thắp hương và người âm mà ta thờ cúng (Đức Phật, các Tiên Thánh, Thần linh, Gia tiên…). Tức là khi cúng, ta đã kết hợp Thiên Địa Nhân thành hợp nhất. Thiên Địa Nhân hợp nhất luôn là yếu tố đảm bảo phát triển bền vững. Vì vậy khi cúng ta phải có đủ 3 thứ sau đây trên bàn thờ thì mới thành lễ: Lửa, Nước và Hương.





Vì sao phải đủ 3 thứ trên?


– Lửa: chỉ có ở trên Trời mới có lửa. Mặt trời tắt thì Trái đất đóng băng, không còn sự sống. Sấm sét cũng chỉ có trên Trời. Vậy Lửa là Thiên (T).


– Nước: Chỉ có Trái đất mới có nước. Các hành tinh khác trong hệ Mặt trời đều không có nước. Vậy Nước là Địa (Đ).


– Hương: là người châm hương, người làm ra hương. Vậy Hương là Nhân (N).


Có 3 thứ trên là có T+Đ+N. Cộng với tấm lòng thành là đủ lễ rồi. Đồ lễ nhiều ít, thậm chí không có cũng không quan trọng. Thần linh và gia tiên không đòi cái đó. Nhưng tấm lòng thành thì không thể thiếu được. Vì vậy nếu tâm ta chưa tịnh, lòng ta chưa thành thì chưa vội thắp hương. Vợ chồng vừa mới cãi nhau xong, hay vừa quát mắng con xong thì chưa nên thắp hương cúng lễ vội. Đi lễ chùa, đền miếu cũng vậy, cần chuấn bị cho ta một tâm hồn thanh tịnh, một tấm lòng thành rồi hãy đi.


Nói như trên không có nghĩa là ta không cần đồ lễ. Nhưng không nên quá vị vào đồ lễ nhiều hay ít. Nhiều ít đều được, nhưng phải đủ loại hình tùy theo lễ (thí dụ: lễ Phật chỉ có lễ chay, lễ Thánh Thần, Gia tiên có thể lễ chay hoặc lễ mặn v.v…). Đồ lễ phải tươi thơm vì người cõi âm chỉ hưởng cái hương của đồ lễ. Không được đưa lên bàn thờ đồ lễ đã ôi thiu, trái cây đã héo, hoa đã úa tàn.


Thiếu một trong 3 thứ T Đ N nêu trên thì không thành lễ. Thực tế cho thấy, hầu hết mọi người khi cúng đều có thắp hương. Tỷ lệ quên thắp hương chỉ khoảng 1/1000. Nhưng thiếu nước hoặc thiếu lửa thì nhiều. Tỷ lệ này có đến 50% các nhà. Rượu không phải là nước, nên không thay nước được. Nước phải là nước sạch tự nhiên (như nước máy, nước mưa, nước giếng, nước sông hồ…). Không nhất thiết phải là nước đun sôi, nhưng không được dùng nước ôi thiu có mùi hoặc nước bị ô nhiễm. Lửa phải châm được hương mới là lửa. Đèn điện đỏ không thay lửa được vì không châm được hương. Cũng không dùng lửa quá nhiều vì người âm sợ nóng. Có thể dùng một ngọn nến nhỏ hoặc một đèn dầu nhỏ lửa. Không thắp quá nhiều nến hoặc nhiều đèn dầu trên bàn thờ. Trên bàn thờ không nên thắp đèn đỏ, và không đặt đèn chiếu sáng ngay phía trên bàn thờ. Bàn thờ nên tối và mát.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Hướng dẫn cách cúng khấn tế lễ khi đi chùa theo đúng những quy định cơ bản của nhà chùa.

Đi chùa là một phong tục đẹp của người Việt Nam trong những ngày giằm , mùng một, ngày lễ Tết hay những lúc gia đình có việc quan trọng hoặc tâm trạng bế tắc người ta cũng cầu khấn đến chùa. Việc đi chùa thành tâm khấn Phật , chư đại Bồ Tát, Thánh Hiền làm tăng thêm phúc đức bản mệnh tai qua nạn khỏi , tiêu trừ điềm xấu mang lại tâm lý bình an cho người đi và gia đình. Khi lên chùa ngoài thành tâm bạn cũng cần sắm sửa lễ vật cho phải đạo.






Cách sắm lễ vật khi đi chùa

Việc sắm sửa lễ vật khi đi chùa, đi tế lễ cần biết những quy định cơ bản của nhà chùa mà bạn cần tuân thủ.
– Chùa là nơi thanh tịnh nên khi sắm sửa lễ vật bạn phải chọn những lễ chay như hương , hoa quả tươi, oản, xôi chè và cấm kị lễ vật mặn như một số người thường mang lên chùa. Nếu mang như vậy không khác gì phỉ báng thánh thần vì họ chỉ ăn chay, dâng đồ mặn thật khó coi.
– Dâng lễ mặn chỉ được áp dụng trong trường hợp đền chùa đó có các vị Thánh , Mẫu, Thành Hoàng,…Các vị này thường an tọa ở các khu ngoài chính điện. Lễ mặn có thể dâng gồm gà , giò , chả, rượu, trầu cau.
– Đi chùa có thể chuẩn bị tiền giấy âm phủ và hương nhưng chớ đặt tiền thật hoặc vàng mã lên hương án, chính điện kẻo bị cho là đút lót thánh thần, lợi bất cập hại. Tiền hãy để vào hòm công đức để cải tạo chùa chiền mang lại phúc đức lâu dài cho con cháu.
– Dâng hoa ở các đền chùa nên chọn các loại hoa thanh tao như hoa sen, hoa huệ, mẫu đơn, hoa cúc… Tránh dùng những loại hoa lạ, hoa dại


Cách hành lễ khi đi chùa

Hành lễ đi chùa cũng cần có phép tắc và thứ tự. Trước hết hãy đặt lễ vật lên và thắp hương ở chính điện trước. Sau khi đặt lễ và thắp hương ở chính điện xong hãy đi đến các bạn thờ khá, thường đều có 3-5 ban để thờ mẫu, tứ phủ, bạn cần đặt lễ và dâng hương tất cả tránh sót ban thờ nào. Nếu đình chùa có nhà thờ Tổ, nhà Hậu thì cũng cần phải ghé qua. Cuối buổi lễ sau khi lễ tạ để hạ lễ thì nên đến trai giới hay phòng khách để thăm hỏi và trò chuyện với các nhà sư và công đức nếu có.

Cách khấn bái khi lễ chùa.

1. Khấn ở ban Tam Bảo
Nam mô a di đà phật (3 lần 3 lạy)
Đệ tử con nay thành tâm kính lạy mười phương chư Phật
Hôm nay là ngày, tháng , năm. Tín chủ con là… ngụ tại… Con thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng lên mười phương thường trụ Tam Bảo. Kính xin chư vị rủ lòng từ bi , phù hộ độ trì cho con được …. (công danh, tài lộc, nhân duyên, sức khỏe)….
Chúng con người trần phàm tục còn nhiều lỗi lầm, cúi mong Phật Thánh từ bi đại xá để cho con và gia đình được tai qua nạn khỏi, mọi sự bình an, sở cầu như ý.
Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin phù hộ độ trì.
Nam mô a di đà Phật (3 lần 3 lạy)
2. Khấn bồ Tát, thánh hiền
Tương tự như khấn ở tam bảo chỉ cần thay ở đoạn “Đệ tử con nay thành tâm kính lạy mười phương chư Phật” thành ban bệ cần khấn. Ngoài ra bạn cũng có thể thành tâm khấn nôm theo ý hiểu của mình. Không nên mưu cầu quá nhiều về lợi lộc cá nhân.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Thờ Thần tài có cần thờ ai cụ thể không?

Có, phải cụ thể là thờ ai làm thần tài của nhà mình, không thờ chung chung được. Cũng như thờ Đức Phật thì phải là Đức Phật nào, thờ Thần linh thì phải Thần linh của nhà nào, căn hộ nào, thờ Gia tiên thì phải gia tiên dòng họ nào hoặc tên Ông Bà cụ kỵ nào. Trong bát hương thờ Thần tài phải có Dị hiệu ghi rõ như vậy.





Hiện nay có tình trạng nhiều nhà lập ban thờ Thần tài, nhưng không rõ thờ ai, thậm trí không biết có Thần về hay không. Qua kiểm tra nhiều ban thờ Thần tài ở các nhà và các cửa hàng tác giả thấy rất ít ban có Thần về. Thậm trí không ít ban thấy có các “Thần” mặc quần đùi áo may ô!? Có lẽ đấy là những vong hồn phiêu bạt ngoài đường phố, thấy có lộc thì vào xơi? Thế thì hy vọng gì ở họ được? Cho nên thờ ai thì phải có tên hiệu cụ thể.


1) Nên thờ ai làm Thần tài?


Theo tác giả thì có thể thờ một trong các vị sau đây làm Thần tài cho gia chủ:


– Triệu Công Minh, hay Triệu huyền Đàn. Đây là vị Thần mà người xưa vốn tôn thờ là Thần tài. Ngài có dung mạo oai phong, có khả năng trừ ôn diệt ác, nhờ thờ Ngài mà có được tài. Thường các nhà quan võ hay thờ Ngài làm Thần tài.


– Quan Vân Trường. Ngài là một danh nhân nổi tiếng thời Tam Quốc, nhân vật mà nhiều người biết trong truyện Tam Quốc diến nghĩa. Nhiều nhà thờ Ngài như một thần Tài. Những nhà có truyền thống võ bị thờ Ngài rất tốt. Người ta thờ Ngài còn vì những mục đích khác ngoài cầu tài.


– Tài Bạch Tinh Quân, còn gọi là Thái Bạch Tinh Quân. Tương truyền ông là Kim Thần trên Trời, được nhà Trời giao chuyên quản kim ngân, tiền bạc của nhà Trời. Ông có diện mạo trông phúc hậu. Những nhà làm nghề buôn bán thường thờ ngài.


– Ông Lộc. Là một trong 3 vị Tam đa Phúc Lộc Thọ. Tương truyền ông có tên là Đông Phương Sóc, ngũ đại đồng đường, lộc đủ nuôi 5 đời ở cùng một nhà ăn cùng một mâm. Các nhà làm nghề kinh doanh thường thờ Ngài. (Nếu có thờ cả 3 vị Tam đa thì cũng chỉ có ông Lộc là giúp mang tài về mà thôi).


– Bà Chúa Kho. Bà là người có công tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, cai quản kho lương vào thời kỳ chiến trận sông Như Nguyệt. Bà mất năm 1077 trong cuộc kháng chiến chống quân Tống ở phương Bắc. Nhà vua phong Bà là Phúc Thần. Dân dựng đền thờ Bà ở núi Kho và vẫn quen gọi Bà là Bà Chúa Kho. Đền thờ Bà còn có ở một số địa phương khác nữa. Người buôn bán kinh doanh chân chính thờ Bà làm Thần tài rất tốt.


– Thổ Thần tại gia. Nhà có đất rộng thì có thể lập một cây hương thờ Thổ Thần trong vườn đất nhà mình. Ngài là Thần được giao quản khu đất nhà ta, nên thờ Ngài để được trợ giúp về Tài vận và sự an lành cũng rất hiệu quả.


– Thần linh+ Gia tiên. Thành tâm thờ Thần linh Gia tiên trên bàn thờ tại gia sẽ được trợ giúp về Tài vận và nhiều lĩnh vực khác của cuộc sống. Cho nên bàn thờ Thần linh Gia tiên cần phải đặt tại góc trụ tài trong phòng. Và việc thờ cúng phải luôn thành tâm.


2) Khi lập ban thờ Thần Tài thì cần tránh mấy quan niệm sai sau đây:


– Thờ không rõ Thần nào;


– Thờ Thần Tài và Thổ địa chung trong một ban;


– Đặt ban thờ Thần tài dưới đất mà không đặt trên cao;


– Đặt ban thờ Thần tài ngay trước cửa ra vào mà không đặt vào góc tụ tài.


– Trong ban thờ Thần tài đặt quá nhiều thứ cầu tài khác gây lộn xộn.


– Thắp đèn đỏ hoặc đèn sáng trong ban thờ.


3) Ban thờ Thần tài cần đạt các yêu cầu sau đây:


– Có bát hương với Dị hiệu ghi rõ thờ ai làm Thần tài cho ta;


– Không thờ chung với Thổ địa;


– Ban thờ Thần tài, cũng giống như ban thờ Thần linh Gia tiên, cần đặt vào góc tụ tài và phải có tọa hướng hợp với mệnh chủ nhà. Góc tụ tài xác định theo từng phòng theo sơ đồ


– Bày biện đơn giản, có thể đặt mấy thứ sau đây: Tượng Thần tài hoặc Bài vị, bát hương, lọ hoa, lọ cắm hương, chén nước, đĩa bày đồ lễ chay. Cạnh ban thờ có thể đặt một Tỳ hưu cầu tài, hoặc 1 cóc ba chân, hoặc 1 quả cầu thu tài. Tỳ hưu hoặc cóc 3 chân đặt trông về đâu cũng được, tốt nhất là trông ra cửa đi hoặc cửa sổ. Chỉ nên đặt 1 thứ thôi, đặt nhiều là tham vọng đấy!. Bên thành ban thờ có thể dán Phù cầu tài để trợ giúp thêm. Dán trong hay ngoài ban thờ, hoặc dán trên tường bên cạnh ban thờ đều được.


– Không thắp đèn trong ban thờ, tối kỵ là đèn đỏ. Khi cúng có thể thắp 1 đèn dầu hoặc một ngọn nến nhỏ lửa.


– Ban thờ tối kỵ để nắng và gió thổi vào, tránh đặt gần cửa ra vào hoặc trên lối đi lại làm cho ban thờ sẽ luôn bị xáo động.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chùa Đỏ ( Linh Độ Tự ) , quận Ngô Quyền, Hải Phòng

Nguồn gốc lịch sử sâu xa, chùa Đỏ là tên gọi dân dã của Linh Tự Độ, xưa thuộc xã Đông Khê huyện An Dương phủ Kinh Môn Đạo, Hải Dương. Thuở xa xưa, chùa tọa lạc trên khu bãi bồi thường có người chết trôi dạt vào. Quan nha khám nghiệm tử thi bắt dân sở tại phải phục dịch và hay hạch sách phiền nhiễu dân làng.


Do đó người ta nhường khu bãi bồi ấy cho Đông Khê, xã đầu tổng lại có nhiều người đậu đạt làm quan không sợ bị hạch sách, dân làng dựng một ngôi chùa nhỏ ở khu gò cao gần bờ sông thờ Phật, cầu Như Lai độ cho linh hồn những người xấu số.
Theo truyền ngôn, năm Mậu Tuất (1288) Hưng Đạo Vương khi đến vùng An Dương để nghiên cứu trận thuỷ chiến tiêu diệt đoàn thuyền Ô Mã Nhi rút chạy qua cửa Bạch Đằng, có đội hỏa đầu quân ở chùa Linh Độ Tự lo việc phục dịch ăn uống cho bộ chỉ huy chiến dịch. Chùa vốn là nơi am thanh cảnh vắng, khi đội hỏa đầu quân đến đóng, bếp luồn đỏ lửa. Do đó có thêm tên dân dã để nhớ đến kỷ niệm ngày Đức thánh Trần trú quân ở đây.
Sau khi Trần Hưng Đạo qua đời, dân làm hai ngôi miếu ở hai bên chùa để thờ ngài và các bộ tướng thân tín là các con trai và con rể, tức Điện soái Phạm Ngũ Lão.
Chùa Đỏ đã được sửa chữa nhiều lần với quy mô ngày một mở mang. Theo bia ký của chùa hiện còn ghi việc sửa chữa lớn vào năm Đinh Dậu – Quý Mão (1717 – 1723) đài Lê Dụ Tông (bia tạo năm Bảo Thái thứ 6 (1725) và trùng tu năm Tự Đức 32 ghi việc sửa chữa ghi tên nhiều quan chức của tỉnh Hải Phòng, của tỉnh Hải Dương cung tiến chữa chùa).
Cho đến trước cách mạng tháng tám 1945, Chùa Đỏ là một chùa đẹp, nhiều bản đồ thành phố ghi tên. Trong khoảng thời gian Pháp đô hộ (1946 – 1954) và cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1964 – 1973) chùa bị hư hại nhiều.

Kiến trúc

Chùa có kiến trúc độc đáo chưa từng có trong lịch sử kiến trúc chùa chiền Việt Nam Kiến trúc cổ diêm chồng đấu có 3 tầng 20 mái, mối liên hệ giữa Tiền đường – Trung đường và Hậu cung đã xử lí hai mái giao nhau, tạo ra sự hòa quyện giữa các khu, liên kết khéo léo các khu lại tạo ra hình khối liên kết nguy nga, hoành tráng.
Chùa được chia làm ba cung chính: Phía ngoài là mặt Tiền đường, ở giữa là Trung đường, phía sau là Hậu cung.
Chùa Đỏ cao tới 26m. Cách trang trí bên trong và trên mái Tiền đường được thiết kế một tháp 7 tầng cao 5m, chân tháp cao 1,2m, bên trên tháp có sen, trong tòa sen có cột cờ cao 5m,
để treo cờ trong mùa lễ hội.
Ở Trung đường có hàng “hoa chanh” được cách điệu là các lá đề kép bằng men màu xanh cổ chạy dọc nóc chùa. Trên mỗi lá đề kép đều có biểu tượng Linh Độ Tự.
Hậu cung có hai tầng mái đao, ở giữa trên nóc mái có đặt lá bồ đề (cao 1,20m) như ngọn lửa bập bùng, thể hiện sự tinh khiết, trong sáng của đạo Phật, của tăng ni, Phật tử hướng thiện cứu khổ, cứu nạn. Xung quanh các tầng mái đều lắp lá đề kép, làm bằng chất liệu đặc biệt, ở giữa trang trí nhiều bóng đèn xung quanh và được thắp sáng trong những ngày đại lễ. ;
Mặt chính chùa làm bằng đá xanh, cột được trang trí những cọn Rồng, mang đậm sắc thái nghệ thuật thời Lí Trần.
Bên ngoài Chính điện tầng một có bố trí 4 cây cột đá (đường kính 50 cm, cap 4,2m) chạm khắc Long – Phượng, đối xứng hai bên, giữa các cột là các lan can bằng đá chạm khắc “Tùng – Trúc – Cúc – Mai” được biểu hiện ở dạng hóa Rồng. Bệ dưới ốp đá chạm trổ mây và hoa sen nở nền chùa được tạo dựng trên một tòa sen khổng lồ với ý nghĩa Liên Hoa Tạng Giới.
Những ngày đầu xuân, người dân thành phố Hoa phượng đỏ nô nức đến vãn cảnh chùa, vừa thỏa mãn lòng chiêm bái và cầu cho một ăn mưa thuận, gió hòa ở một địa danh tâm linh.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Đền Mẫu Bắc Biên thờ Mẫu ( Gia lâm )

Đền Mẫu Bắc Biên nằm ở sát sông Hồng, phía trước có lạch nước rộng, phía ngoài lạch nước có bãi nổi, rồi mới đền lòng sông lớn. Khi nước sông cạn, lạch


nước như là một “hồ” rộng, tạo thế hồ cạnh sông. Đền Mẫu Bắc Biên có thế đất đặc biệt với một vùng sông nước bao la phía trước; phía sau là khu dân cư đến định cư ít nhất là vào thời Lý định đô ở Thăng Long.
Đền Mẫu Bắc Biên thờ Mẫu theo tín ngưỡng dân gian giống nhiều di tích ở các vùng ven sông. Gần đó còn có đền Núi, đền Rừng. Thờ Mẫu là một hiện tượng đặc biệt trong hệ thống thờ cúng tín ngưỡng của người Việt. Hầu như các chùa thờ Phật đều có Điện Mẫu nhưng cũng có nơi Mẫu được thờ riêng, một trong những nơi đó là đền Mẫu Bắc Biên.
Qua những thăng trầm của lịch sử, đền Mẫu Bắc Biên đã có nhiều thay đổi về diện mạo kiến trúc so với gốc cũ. Những kiến trúc hiện nay là kết quả của các đợt trùng tu sửa chữa từ sau năm 1975. Đền chính có tòa nhà 1 gian 2 chái, chồng diêm 2 tầng 8 mái, có đao cong lợp ngói di, bộ khung vì bằng gỗ; phía sau có chuôi duộc xây bằng bê tông mái vòm lợp ngói. Phía ngoài Tiền tế bố trí ban thờ đức vua cha Ngọc Hoàng cùng Nam Tào, Bắc Đẩu; phía trước thờ Ngũ vị Tôn Ông, các Quan hoàng. Ban thờ bên phải thờ Đức Thánh Trần, bên trái thờ Sơn Trang. Trong Hậu cung thờ Tam tòa Thánh Mẫu, Tứ vị vua Bà đều được đặt trong khám gỗ; ở ngoài là tượng Mẫu Thoải chủ đền. Trước đền có sân nhỏ; ở giữa sân có một cây ngái cổ thụ thường xuyên sai quả như sự cầu mong một cuộc sống luôn sung túc, đầy đủ đến với mọi người. Hai bên sân có lầu thờ Cô, Cậu. Bên trái sân đền có một tòa thờ Mẫu Thoải riêng, mái bê tông mới xây dựng năm 2001. Bên cạnh các tượng thờ, đền có các đồ thờ khác như: câu đối, hoành phi, cuốn thư, ngai thờ, bộ chấp kích, biển lệnh, chuông đồng… Đa số các di vật, đồ thờ của đền có niên đại thế kỷ XX.
Đền Mẫu Bắc Biên ra đời và tồn tại nhằm đáp ứng nhu cầu thờ cúng tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Các lễ cúng của đền tập trung vào dịp tứ quý: ngày 10 tháng Giêng, tháng Tư, tháng Bảy và tháng Chạp âm lịch.
Ngày nay, được sự quan tâm của chính quyền và nhân dân địa phương, hệ thống đền, chùa trên địa bàn phường Ngọc Thụy nói chung, đền Mẫu Bắc Biên nói riêng luôn được bảo vệ và chỉnh trang ngày càng khang trang, góp phần làm đẹp thêm cảnh quan của một phường giàu truyền thống cách mạng và có nhiều di tích lịch sử văn hóa.
Nguồn thông tin: UBND quận Long Biên, Di tích lịch sử văn hóa và cách mạng kháng chiến quận Long Biên, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Các lễ hội truyền thống được nhân dân tổ chức hằng năm vào tháng 5 âm lịch.

1. Lễ hội Bánh chưng – Bánh giầy  được  nhân dân Sầm Sơn tổ chức hằng năm :







Lễ hội bánh Chưng – bánh Giầy được tổ chức tại Đền Độc Cước hàng năm. Được tổ chức vào ngày 12 tháng 5 (âm lịch) hằng năm tại đền Độc Cước. Nội dung chính của lễ hội là tế lễ, cầu mưa và thi làm bánh Chưng, bánh Giầy




2. Lễ hội Cầu Ngư Bơi Chải





Nghi thức tế lễ trang nghiêm trước khi bước vào lễ hội Cầu Ngư Bơi Chải


Được tổ chức vào ngày rằm tháng 5 (âm lịch) hàng năm tại cửa biển Lạch Hới. Người dân tổ chức đu thuyền để tỏ lòng tôn kính vị thần biển, thần Mặt Trăng, thần Độc Cước đã che chở, phù hộ cho nhân dân trong vùng.




3. Lễ hội Trà Cổ ( từ ngày 29 tháng 5 đến 6 tháng 6 âm lịch): Lễ hội dân gian Trà Cổ diễn ra tại làng Trà Cổ, thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Hội làng Trà Cổ diễn ra trong 7 ngày với các nghi thức rước từ Trà Cổ về quê tổ Ðồ Sơn, rồi từ Ðồ Sơn quay về Trà Cổ, mồng 1 tháng 6 âm lịch là ngày vào hội rước Vua ra bể (còn gọi là rước vua ra Miếu) với nghi thức gồm một đội quân cầm vũ khí, cờ thần, phường bát âm. Sau lễ rước là cuộc thi các sản phẩm chăn nuôi trồng trọt. Nét độc đáo của hội Trà Cổ là hội thi làm cỗ, thi nấu ăn, ai nấu ăn giỏi đều được cả làng biết đến. Ngày mồng 6 tháng 6 âm lịch là ngày kết thúc hội có múa bông. Trong ngày múa bông, người ta cầu mong trời đất thần linh phù trợ cho đánh bắt được nhiều cá tôm, buôn bán phát đạt, chăn nuôi, trồng cây tươi tốt, cuộc sống ấm no.



4. Hội Yên Lập(tháng 5 âm lịch)


Hội Làng Yên lập được tổ chức từ ngày 24 đên 26 tháng 5 âm lịch tại Xã Yên Lập,Huyện Vĩnh Tường,Tỉnh Vĩnh Phúc Việt Nam.






Hội Làng Yên lập được tổ chức từ ngày 24 đên 26 tháng 5 âm lịch tại Xã Yên Lập,Huyện Vĩnh Tường,Tỉnh Vĩnh Phúc Việt Nam nhằm suy tôn Đăng Đạo Song Nga, âm phù Hai Bà Trưng.


Thông tin chi tiếtThời gian: 25 – 27/5 âm lịch.


Địa điểm: Xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.


Đối tượng suy tôn: Đăng Đạo Song Nga, âm phù Hai Bà Trưng.


Đặc điểm: Lễ trình Thánh, đón Ngài về dự hội trên ba thuyền ghép lại, thi bơi trải.


Sáng 24 :buổi sáng hạ chải, buổi chiều cọ chải.
Ngày 25: Bơi lấy giải. Địa điểm xuất phát từ đình 3 làng (Hạc Đình – Bố thôn và Đa thôn) về miếu làng Trống (Me Trống thuộc xã Việt Xuân) vào buổi sáng.
Chiều 25: Bơi trình thuyền (lễ rước sông nước) sang gò cội Nụ giữa cánh đồng trước cửa đình 3 làng.
Sáng 26: Cọ chảiCả 3 làng, mỗi làng có một chải là một thuyền hình rồng bằng gỗ chò dài 20 mét, rộng 2,2 mét, đầu và đuôi sơn đỏ, thân giữa sơn màu đen. Mũi chải có 40 người, một đứng đầu chải cầm cờ đỏ làm hiệu, 1 người bẻ lái và 38 tay bơi.


Chải làng Đình bao giờ cũng thắng cuộc. Câu ca của dân địa phương là:


“Chải làng Đình rập rình đi trước.


Chải làng Vó chịu khó đi sau


Chải làng Da bơi la bơi liệt”


Đó cũng là thứ tự của cuộc thi tài mùa bơi chải.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Cổ vật Đông Sơn

Tinh hoa cổ vật Việt

Vừa qua, Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam phối hợp với Hội cổ vật Thăng Long; Hà Nội tổ chức trưng bày chuyên đề “Cổ vật Việt Nam” gồm hơn 50 cổ vật tiêu biểu, đặc sắc, được chọn lựa kỹ lưỡng từ bộ sưu tập của các cá nhân và Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam. “Cổ vật Việt Nam” gồm nhiều hiện vật làm từ các chất liệu vàng, bạc, đồng, gốm… có niên đại từ văn hoá Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2.500 năm tới thời các chúa Nguyễn (1533 – 1777). Cổ vật phong phú, làm bằng đồng như trống đồng, ấm, chuông, thạp, chân đèn, bình, bát, muôi, chóe… Gốm có gốm men nâu, men trắng, hoa, màu, hoa lam, men lục… Trưng bày chuyên đề mở đầu bằng các cổ vật, trống đồng Đông Sơn, công cụ đồng, tượng người và thú, dao gắn đồng, muôi đồng, đèn đồng… minh chứng cho thời kỳ rực rỡ của văn hoá Đông Sơn. 




Kendy gốm thế kỷ V-VII.

Kendy gốm thế kỷ VI – VIII.

Chân đèn hình người chất liệu đồng thế kỷ IV – VI.

 Nắp đồ đựng, chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bình chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nắp đồ đựng, chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nồi chất liệu bằng gốm, niên đại trước Công nguyên.

Lọ chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bát bồng chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nắp đồ đựng chất liệu gốm, thế kỷ I – II.

Năm 1924, nhiều cổ vật bằng đồng được phát hiện ở làng Đông Sơn bên bờ sông Mã, tỉnh Thanh Hóa. Sự phong phú về các loại đồ đồng ở đây cho thấy kỹ thuật luyện đồng hàng nghìn năm trước, từ nghệ thuật trang trí trên trống đồng Đông Sơn đến công cụ bằng đồng gắn với tôn giáo, tín ngưỡng cổ truyền như thần mặt trời, thần núi, thần sông, thổ sinh, thực khí, ma thuật…; thiên nhiên chan hòa với con người, cỏ cây, hoa lá, muông thú.., Đồ gốm Đông Sơn sử dụng bàn xoay, hình dáng phong phú, bố cục đối xứng ngang dọc xen kẽ. Những chiếc đèn lồng có hình người, hình thú, tượng thú, phản ánh sự tồn tại của thần linh, quan niệm tín ngưỡng thời kỳ Đông Sơn và bản sắc văn hóa, nghệ thuật Lạc Việt không bị đồng hoá bởi ách đô hộ của các triều đình phương Bắc. Mỹ thuật ứng dụng Đông Sơn được các nhà nghiên cứu văn hoá đánh giá là huy hoàng nhất giai đoạn mỹ thuật thời tiền sơ sử Việt Nam và Đông Nam Á.

Tượng thần Brahama, niên đại thế kỷ XII – XIII.

Đồ gốm niên đại thế kỷ IV – VI.

Bát bồng chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bia đá thế kỷ XI.

Tượng Phật bằng gỗ, niên đại thế kỷ VI – VII.

Tượng Phật bằng gỗ, niên đại thế kỷ IV – VI.

Ngoài cổ vật văn hoá Đông Sơn, khách tham quan còn được khám phá nghệ thuật gốm cổ Việt qua nhiều thế kỷ, từ thời Lý (1010 – 1225), Trần (1225 – 1400), Lê Sơ (1428 – 1527), Mạc (1527 – 1592) tới Lê Trung Hưng (1533 – 1789). Vào thời Lý (1010 – 1225) thịnh hành các loại gốm men ngọc, gốm hoa nâu, gốm trắng, gốm men đen, sứ màu nâu sậm. Thời Trần (1225 – 1400) bên cạnh loại gốm men ngọc, hoa nâu còn xuất hiện gốm hoa lam. Gốm men ngọc thuộc hàng cổ vật tiêu biểu của gốm thời Lý, Trần với màu men xanh lá cây từ sẫm đến vàng nhạt, xương gốm trắng mịn, hoa văn trang trí chạm chìm hoặc đắp nổi. “ Thạp gốm hoa nâu” thời Lý, Trần kế tục nhau trở thành loại gốm nổi tiếng. Đặc biệt, có sự kết hợp giữa các thủ pháp nghệ thuật điêu khắc với nghệ thuật phối hợp kỹ thuật men và màu tạo nên vẻ đẹp gốm hoa nâu. Các cổ vật gốm hoa lam thế kỷ XV – XVII làm từ đất sét trắng mịn, nung gần chảy nên xương cứng. Nét vẽ tay bằng bút lông trên sản phẩm đồ thờ cúng tạo sự khoáng đạt, thông thoáng, không lệ thuộc vào các hình mẫu tả thực. Sự phát triển rực rỡ của gốm sứ giai đoạn này đưa sản phẩm gốm sứ Việt theo con đường tơ lụa xuất đi nhiều quốc gia trên thế giới. Đến thời nhà Nguyễn (1802 – 1945), pháp lam Huế, một loại hình trang trí, đã được dùng để gọi tên cho kỹ nghệ chế tác pháp lam ở Việt Nam, khẳng định dấu ấn sáng tạo của người Việt, của văn hoá Việt Nam, minh chứng cho nền kinh tế – chính trị những năm độc lập, tự chủ thời Nguyễn. Hiện vật cặp bình choé có nắp đồng pháp lam, hiệu “Minh Mạng niên chế” (1820 – 1840) trang trí đa dạng với các đồ án từ hoa lá, tứ linh, bát bửu, sơn thuỷ, màu sắc phong phú, phối màu hợp lý, tinh tế. 

 Nhẫn chất liệu vàng, niên đại thế lỷ III – VII.

Hạt chuỗi chất liệu vàng, niên đại trước Công nguyên.

Lá dập nổi hình mặt người, chất liệu vàng, niên đại trước Công nguyên.

Một góc trưng bày chuyên đề ‘Cổ vật Việt Nam’.

Nghề kim hoàn truyền thống Việt Namnổi tiếng với các kỹ thuật chạm, đậu, trơn, đạt đến độ tinh xảo. Kĩ thuật chạm thể hiện sự khéo léo, đạt đến tầm nghệ thuật qua phương pháp chạm trổ những hình vẽ hoa văn trên mặt đồ vàng, bạc. Kĩ thuật đậu là kéo vàng, bạc, rồi uốn ghép thành hình hoa lá, chim muông gắn lên đồ trang sức. Kĩ thuật trơn chuyên đánh vàng, bạc thành những đồ trang sức không cần chạm trổ. Bộ sưu tập đồ trang sức vàng, bạc thời các chúa Nguyễn trưng bày gồm: vòng tay, trâm cài, vòng cổ, nhẫn.., được sưu tập 5 năm trước và đây là lần đầu tiên trưng bày, giới thiệu tới công chúng Thủ đô. Các hiện vật quý giá được trưng bày trong chuyên đề ‘Cổ vật Việt Nam’ góp phần giới thiệu tới công chúng trong nước, bạn bè quốc tế những nét tinh hoa, giá trị lịch sử cũng như văn hóa đặc sắc của Việt Nam./.