Đăng bởi

Quan Hoàng Năm chính là quan thứ năm trong Tứ Phủ Quan Hoàng.

 Có ý kiến cho rằng Quan Hoàng Năm không giáng trần nên không có đền thờ chính. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng Quan Hoàng Năm giáng trần đó là thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Công Chất. Nếu như vậy, Đền Quan Hoàng Năm tức là đền thờ Hoàng Công Chất tại thành Bản Phủ – Thành Phố Điện Biên.



  Quan Hoàng Năm là ai
 
 Quan Hoàng Năm chính là quan thứ năm trong Tứ Phủ Quan Hoàng. Quan Hoàng Năm ngài rất ít giáng đồng nên rất ít người biết về ngài. Các đền phủ cũng ít nơi phối thờ Quan Hoàng Năm.
 Quan Hoàng Năm còn được coi là một viên tướng của Vĩnh Công (tức Vua Cha Bát Hải Động ĐÌnh), và sau này được coi là con của Vua Cha khi ngự trong Tứ Phủ.
 Tuy nhiên, từ bao giờ, từ thời nào coi Quan Hoàng Năm là Tướng Quân Hoàng Công Chất thì chưa thấy có tài liệu nào đề cập. Tướng Quân Hoàng Công Chất cùng thời với Thủ lĩnh nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu – Người được coi là Quan Hoàng Tư Thủy Phủ.

 Tướng Quân Hoàng Công Chất

 Người viết xin trích dẫn một số thông tin về Hoàng Công Chất – Người được coi là Quan Hoàng Năm giáng trần để các bạn tham khảo:
   “Ông là một lãnh tụ nông dân kiệt xuất, dựng cờ khởi nghĩa chống lại triều đình Lê Trịnh cứu dân nghèo vì nghĩa lớn “Bảo Quốc an dân” diệt cường hào ác bá, lấy của giàu chia cho dân nghèo, với hoài bão xoá bỏ bất công, lập lại kỷ cương, phục hưng đất nước thống nhất giang sơn, thái bình muôn thủa.
  Theo Minh đô sử, năm 1739, Hoàng Công Chất và Nguyễn Hữu Cầu đi theo Nguyễn Cừ và Nguyễn Tuyển hoạt động ở vùng Sơn Nam. Sau khi quân Nguyễn Cừ bị đánh bại, Công Chất tụ tập lực lượng riêng tiếp tục hoạt động ở Sơn Nam. Quân khởi nghĩa giỏi thuỷ chiến, thường ra vào nơi cỏ rậm bùn lầy không để lại dấu tích.

 Năm 1740, chúa Trịnh cử các tướng Hoàng Công Kỳ, Phạm Trần Tông mang quân đánh Công Chất ở Công An nhưng không nổi.
 Năm 1743, Công Chất lại chống cự thành công cuộc bao vây của thống lĩnh Trương Nhiêu. Quân triều đình lại buộc phải rút về. Cuối năm đó, chúa Trịnh Doanh sai sứ đi chiêu an, đòi Công Chất phải về yết kiến. Chất cự tuyệt, chiếm giữ phủ Khoái Châu (Hưng Yên). Trịnh Doanh bèn điều Đinh Văn Giai mang đại quân đi dẹp, quân khởi nghĩa thất bại nặng nề ở Đỗ Xá nhưng vẫn giữ được Khoái Châu.
 Năm 1745, quân khởi nghĩa tập kích bắt và giết chết trấn thủ Sơn Nam là Hoàng Công Kỳ. Công Chất mang quân đánh phá các huyện lân cận và phối hợp với quân khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu.

 Năm 1746 và 1748, quân Công Chất phối hợp với quân của Hữu Cầu đánh Sơn Nam và Thăng Long nhưng thất bại. Cuối năm 1748, Trịnh Doanh sai Hoàng Ngũ PhúcPhạm Đình Trọng tấn công vào Mã Não và Hương Nhi, quân khởi nghĩa thua to, Công Chất cùng con là Công Toản đến Mỹ Lương theo thủ lĩnh khởi nghĩa tên là Tương. Sau đó quân của Tương bị đánh tan, cha con Công Chất bỏ chạy vào Thanh Hoá. Triều đình ban thưởng ai bắt được ông thì được tước quận công, hàm tam phẩm. Tuy nhiên năm 1750 ông theo đường núi tiến ra vùng Hưng Hoá.
 Năm 1750, Hoàng Công Chất liên kết với một thủ lĩnh khởi nghĩa giáp biên giới Vân Nam (Trung Quốc) là Thành, quân triều đình do Đinh Văn Thản tới đánh không dẹp nổi. Năm1751, Thản chết, Lê Đình Châu được cử thay. Tháng 6 năm 1751, Lê Đình Châu đánh bại Công Chất và Thành. Thành bị bắt, Chất rút lên động Mãnh Thiên, châu Ninh Biên, tức là Mường Thanh (Điện Biên), xây dựng căn cứ kháng cự lâu dài.
 Tại đây quân khởi nghĩa đã lấy thành Tam Vạn do người Lự xây dựng trước đó (tiếng Thái gọi là Sam Mứn) làm đại bản doanh. Tương truyền tên gọi Tam Vạn là do trong thành có thể chứa 3 vạn quân, có thuyết nói rằng vì trong thành có 3 vạn cối giã gạo. Sau đó nhận thấy thành Tam Vạn ở địa thế bất lợi, Công Chất xây thành Bản Phủ làm căn cứ.

 Hoàng Công Chất rất được lòng dân bản địa. Ông đánh tan quân giặc cướp, phát triển lực lượng ra khắp miền Tây Bắc, chia ruộng cho dân nghèo, lôi kéo những người cầm đầu ở các châu mường.
 Quân khởi nghĩa của Công Chất ngoài người Kinh còn có cả người thiểu số. Người bản xứ gọi ông là “Then Chất” (tiếng Thái là “Thiên Chết”) với ý tôn kính. Trong “Quám tổ Mường” (sử người Thái ở Tây Bắc) gọi ông là “vua Hoàng”. Các tướng dưới quyền Công Chất nổi danh có: Bun Xao, Cầm Phẳn,.anh em Ngải, Khanh, cha con Cầm Tom, Cầm Phanh.
 Quân Công Chất có thời gian phối hợp với lực lượng khởi nghĩa của hoàng thân Lê Duy Mật. Từ Tuần Giáo, Điện Biên trở lên thuộc phạm vi Công Chất, phía nam từ Mộc Châu tới Văn Chấn thuộc Duy Mật.
 Từ động Mãnh Thiên, quân khởi nghĩa đánh ra xung quanh, làm chủ 10 châu Yên Tây, ngày nay thuộc địa bàn Lai Châu và một phần Vân Nam (Trung Quốc). Cuối năm 1767, Công Chất từ Yên Tây đánh xuống chiếm châu Mộc (Sơn La), châu Mai (Hoà Bình), lại chia quân tiến xuống thượng du Thanh Hóa. Các trấn thủ Thanh Hóa, Hưng Hoá cáo cấp, chúa Trịnh Sâm huy động các tướng Trịnh Phưởng, Đinh Văn Phục, Hoàng Đình Thể mang quân đi đánh. Quân Công Chất thua chạy vào Xa Hổ và Nậm Ban.

 Tháng 2 năm 1768Trịnh Sâm cử Nguyễn Đình Huấn và Phạm Ngô Cầu mang quân đánh Mường Thanh. Lê Duy Mật nghe tin bèn điều quân cứu ứng cho Công Chất. Đình Huấn sợ không dám tiến phải rút về.
 Trịnh Sâm bèn giao quân cho Đoàn Nguyễn Thục chia làm nhiều cánh đánh thẳng vào Mường Thanh. Trong lúc chiến sự căng thẳng thì Hoàng Công Chất lâm bệnh qua đời tại căn cứ.
 Con ông là Hoàng Công Toản tiếp tục cầm quân chống Trịnh. Đầu năm 1769, Toản đặt phục binh ở Nậm Cô đón đánh quân Trịnh nhưng thất bại. Nguyễn Phục một mặt đánh Nậm Cô, mặt khác điều quân đánh úp đốt căn cứ thành Bản Phủ. Công Toản chạy về thấy thành mất bèn bỏ trốn, không biết sau đó kết cục ra sao. Sách Đại Nam nhất thống chí chép Toản chạy sang Vân Nam, theo Minh đô sử thì Toản chạy vào Trấn Ninh. Cũng có nguồn cho rằng Hoàng Công Toản chạy sang Vân Nam, sau được an sáp ở Ô Lỗ Mộc Tề (Tân Cương).[1] Ngày nay ở Điện Biên, trong di tích thành Bản Phủ cũ còn miếu thờ Hoàng Công Chất và 6 viên tướng nổi tiếng của ông.

 Đôi điều về các Quan Hoàng ít giáng đồng và là các thủ lĩnh nghĩa quân.

 Chúng ta có thể thấy thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Công Chất được coi là Quan Hoàng Năm. Cùng thời với thời Hoàng Công Chất còn có thủ lĩnh nghĩa quân Nguyễn Hữu Cầu được coi là Quan Hoàng Tư. Còn Quan Hoàng Tám được gán vào Thủ lĩnh nghĩa quân Nùng Chí Cao. Bạn cùng thời với Nùng Chí Cao là An Biên Đại tướng Quân Hoàng Lục, có nơi coi ngài là Quan Hoàng Sáu. Nhưng có tài liệu nói rằng Hoàng Lục chính là họ tên thật của ngài chứ không phải quan Hoàng Sáu nào cả.
Đăng bởi

Đền Mẫu Sòng Sơn là nơi thờ Mẫu Đệ Tam hay còn gọi là Mẫu Thoải

 Đền Mẫu Sòng Sơn nằm ngay cạnh đường 1A thuộc địa phận thị trấn Sòng Sơn, Thanh Hóa. Đền Mẫu Sòng Sơn là nơi thờ Mẫu Đệ Tam hay còn gọi là Mẫu Thoải. Đền Mẫu Sòng Sơn nằm cách đền Cô Chín Sòng Sơn chừng 1 km.

Đền Mâu Sòng Sơn



Lịch sử và thần tích Đền Mẫu Sòng Sơn

 
 Đền Mẫu Sòng Sơn có từ thời Vua Lê Hiển Tông – Thế kỷ 18 với lịch sử gần 300 năm.  Đền Mẫu Sòng Sơn gắn liền với sự tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh hiển thánh.  Đây được coi là một trong các nôi đền linh thiêng nhất xứ Thanh. Thủa xưa, đây là một ngôi đền uy nghi. Tuy nhiên, do thời gian và chiến tranh ngôi đền bị xuống cấp nghiêm trọng. Năm 1998, ngôi đền được trùng tu tôn tại lại với dáng cổ ngày xưa.

Cung thờ Mẫu Thoải mới được xây dựng



 Chuyện rằng: Năm 1939, khi trùng tu đền. thợ xây đã đào được một cái tráp. Trong tráp có có một cuốn sách thời Vĩnh Tộ ( 1619- 1628) đời vua Lê Thần Tông chép lại lịch sử gia đình nữ thần Vân Hương. Ngày xưa, ngôi đền có tên Đền Sùng Sơn có một chiếc cầu đá do một Hoàng Hậu thời Lê Cảnh Hưng xây dựng.

Nơi thờ Đức Trần Hưng Đạo mới được xây dựng
 

 Thần tích về Đền Mẫu Sòng Sơn:  Có một ông lão người làng Cổ Đam, được nữ chúa Vân Hương nhập hồn và lấy một cái gậy cắm xuống đất và truyền cho bà con xây một ngôi đền ở đó. Chiếc gậy, đã bén rễ, đầm chồi. Trước sự linh ứng này, dân làng đã xây dựng ngôi đền theo chỉ dẫn của nữ chúa.

Dòng suối quanh đền luôn róc rách

 

 
  Các cung thờ tại Đền Mẫu Sòng Sơn
 
 Qua công Tam Quan của đền là một sân rộng có tượng Phật Bà Quan Âm. Trong đền có các cung thờ các quan Hoàng, các cô, Đức Thánh Trần Triều, Vua Cha Ngọc Hoàng.

Tượng Phật Bà Quán Âm

 Trong cung cầm thờ Tam Tòa Thánh Mẫu.

 Phía bên ngoài, gần dòng suối trong có cung thờ vọng Cô Chín Sòng Sơn.
 

 

 Sau khi đến thăm đền Mẫu Sòng Sơn , chúng ta có thể đên thăm đền Cô Chín Sòng Sơn cách đó khoảng gần 1 km. Đền Mẫu Sòng, Đền Cô Chín, đền Mẫu Sòng Sơn  tạo thành một quần thể tâm linh Sòng Sơn.

Lầu Cô Chín
 Sau khi thăm quần thể di tích tâm linh này chúng ta có thể tiếp tục vào thăm Khu du lịch tâm linh Hàn Sơn cách đó khoảng 18 km.

Đăng bởi

Quốc Mẫu Tây Thiên khi sinh thời là thiếu nữ tên là Lăng Thị Tiêu, người thôn Đông Lộ, xã Đại Đình ngày nay

 Quần thể du lịch tâm linh Tây Thiên được coi là cái nôi đầu tiên của Phật Giáo Việt Nam bởi Đạo Phật nơi đây đã có từ thời Vua Hùng của nước Văn Lang. Theo Ngọc phả 18 đời Vua Hùng thì  vào đời Vua Hùng thứ VII tức thế kỷ 17 trước công nguyên đã có Tây Thiên Cổ tự (Đền Thượng Tây Thiên ngày nay), còn tài liệu khác cho rằng vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên hai  nhà truyền giáo Ấn Độ là Sona và Uttara thấy vùng đất này linh thiêng nên đã tọa lại nơi đây để hoằng dương Phật Pháp. Như vậy, đạo Phật đã đến Tây Thiên ít nhất trên 2000 năm nay.



 Vào đời Trần thì cùng với Yên Tử, Tây Thiên trở thành một trong hai trung tâm Phật Giáo lớn nhất Việt Nam lúc đó. Hiện nay, di tích còn lại có 3 ngôi chùa cổ: Thiên Ân cổ tự – nằm dưới chân núi, Tây Thiên Thăng Long cổ tự (nay là chùa Phù Nghì) và Tây Thiên cổ tự (chùa Thượng Tây Thiên).

 Đến với khu thắng cảnh tâm linh Tây Thiên là đến với cội nguồn của Đạo Phật Việt Nam. Đây là nơi hội tụ khí thiêng sông núi, là nơi địa linh, linh khí đầy nên thơ và hùng vĩ. Ngày nay Tây Thiên đã trở thành một trung tâm thắng cảnh du lịch tâm linh với một quần thể thờ Phật – Thánh – Thần hết sức sơn thủy hữu tình, linh thiêng huyền ảo giữa rùng núi nguyên sinh bạt ngàn.

Cổng Tam Quan của Khu du lịch tâm linh Tây Thiên
 Ngay khi vừa đến quần thể du lịch tâm linh này chúng ta đã thẫn thờ với cổng Tam Quan rất hoàng tráng, vĩ đại sau đó là Đại Bảo Tháp Mandala được bài trí theo phong cách Ấn Độ. Hiện nay Đại Bảo Tháp tuy chưa hoàn thiện, hồ Hương Thủy tuy chưa hoàn thành nhưng cũng đã đủ sự huyền ảo, thơ mộng và linh thiêng của vùng đất, vùng núi này.
 
   Sau này, khi Đại Bảo Tháp Mandala hoàn thành, Đại bảo Tháp sẽ nằm giữa hồ Hương Thủy tạo thành một Tiểu Vũ trụ gồm mặt trời, mặt trăng, núi Tu Di và bốn châu thiên hạ. Đại Bảo tháp sẽ là trung tâm tích tụ thu hút năng lượng linh thiêng và màu nhiệm của đại vũ trụ. Ngôi bảo tháp sẽ là nguồn cảm hứng giác ngộ, có thể khai mở bồ đề tâm, từ bi trí tuệ đã đóng kín trong chúng ta từ lâu.
  
 


   Chưa hết, Quần thể du lịch văn hóa tâm linh Tây thiên còn đang chuẩn bị đại trùng tu Chùa Phù Nghì. Nếu chùa Phổi Nghì được xây dựng xong sẽ tạo thành một nơi đón nhận năng lượng linh thiêng từ vũ trụ và từ các Chư Phật Bồ Tát giúp cho chúng sinh sự bình an, chấm dứt mọi nỗi đau trong cuộc đời thế tục.
 Như vậy, cùng 3 ngọn núi Thạch Bàn, Phù Nghĩa, Thiên Thị đã tạo ra một nơi hội tụ khí thiêng sông núi, nay còn có thêm Đại Bảo Tháp Mandala, Chùa Phù Nghì hấp thụ năng lượng linh thiêng từ Vũ trụ và năng lượng mầu nhiệm của Chư Vị Bồ Tát, lại còn được phù trợ bởi hồn thiêng sông núi qua của các đền phủ của hệ thống Tứ Phủ và Thần Núi Sông thì nơi đây chắc chắn sẽ trở thành  một chốn tâm linh linh thiêng bậc nhất của nước Việt Nam ta – Một quần thể du lịch tâm linh đắc địa nhất mà không nơi nào sánh được
 
Phối cảnh toàn khu tâm linh Tây Thiên phần dưới chân núi sau khi hoàn thành
  
 Đến với khu danh thắng Tây Thiên chúng ta vừa có một cuộc du lịch với một danh lam, thắng cảnh tuyệt đẹp với núi rừng nguyên sinh mơ mộng, thanh bình; thác nước ào ạt, con suối róc rách, tiếng chim líu lo…chúng ta vừa có cơ hội chiêm ngưỡng những kiệt tác của Phật – Thánh – Thần hòa quyện tạo thành một cõi linh thiêng vô bờ, đầy huyền bí và chan chứa chất thơ.
    Tại khu vực Chùa Thượng ngày xưa, ngày nay đã trở thành một quần thể liên hoàn Phật- Thánh – Thần gồm: Đền Quốc Mẫu Tây Thiên, Đền Tam Tòa Thánh Mẫu, Đền Địa Mẫu, Đền Cô Chín, Miếu Sơn Thần, Đền Thần Núi Tam Đảo và Chùa Tây Thiên, Nhà Tổ chùa Tây Thiên.   
 
 Với thế chân vạc của Đại Bảo Tháp, Chùa Phù Nghì, Quần thể Phật – Thánh – Thần nơi chùa Thượng thì không chỉ thu hút mọi năng lượng linh thiêng và màu nhiệm của vũ trụ và chư vị bồ tát và còn giữ được vượng khí của sông núi Việt Nam tạo nên một dòng chảy năng lượng linh ứng từ bắc xuống nam suốt chiều dài đất nước. 
 Tại khu di tích danh thắng Tây Thiên, tín ngưỡng thờ Mẫu và Phật giáo hòa quyện vào nhau, tạo thành một bầu không khí thanh tịnh, linh thiêng ít nơi nào có được. Những người hành hương tới đây, vì vậy, luôn tin rằng những nguyện ước của mình sẽ được chứng tâm và thành hiện thực. 
  
 
  NÉT ĐẶC BIỆT CỦA CÁC NGÔI CHÙA TÂY THIÊN
 
 Trong khu du lịch tâm linh Tây Thiên có công trình Đại Bảo Tháp Mandala, Nhà tổ chùa Thượng Tây Thiên có một nét đặc biệt ít ngôi chùa nào ở Việt nam có được, đó là nhà chùa có gắn trên tường các bánh xe Kim Luân, hay còn gọi là bánh xe cầu nguyện theo truyền thống Kim Cương Thừa
 
  Chỉ cần quay hay ở gần bánh xe Kim Luân thì chúng ta đã nhận được năng lượng từ trường an lành cực mạnh. Nếu quay bánh xe Kim Luân với bồ đề tâm thì tịnh hóa được bất thiện nghiệp, thậm chí cả các ác nghiệp. Nếu đã đến được Tây Thiên chúng ta chớ bỏ lỡ cơ hội quay bánh xe Kim Luân để giải nghiệp cho bản thân. Khi quay bánh xe Kim Luân nên niệm câu niệm chú:  Úm ma ni bát minh hồng. Mỗi vòng quay một câu niệm.


   Đại Bảo Tháp được xây dựng với một kiến trúc độc đáo phong cách Ấn Độ do đức Pháp Vương GYALWANG DRUKPA gợi ý ý tưởng. Với kiến trúc vòng tròn cho phép chúng ta đi vòng quanh để vừa đi vừa niệm phật. Khi chúng ta đi vòng tròn như vậy chúng ta có thể đẽ dàng hấp thụ được năng lượng vô biên linh thiêng, màu nhiệm của các vũ trụ và các Chư vị Bồ Tát mà Đại bảo Tháp đã hấp thụ được. Đến Đại Bảo Tháp mà không vừa đi vừa trì niệm hay quay bánh xe Kim Luân được vài vòng thì thật là đáng tiếc cho một cơ hội cầu phúc, và bình an.
 
 
  HÀNH TRÌNH “ĐẾN VỚI PHẬT VỀ VỚI MẪU “
 
 Sau khi vượt qua Tam Quan của Khu du lịch thắng cảnh tâm tinh Tây Thiên chúng ta sẽ đến chiêm ngưỡng Đại Bảo tháp Mandala. Tại đây chúng ta sẽ được ngắm một kiệt tác của Đạo Phật. Nhung điều quan trọng là sau khi lễ phật chúng ta nên quay bánh xe Kim Luân để nạp năng lượng và giải nghiệp cho bản thân. Khi năng lượng vũ trũ được nạp đầy trong ta, chúng ta tiếp tục  hành trình  đến Đền Thỏng, chùa Thiên Ân để trình với Quốc Mẫu. Đèn Thỏng và chùa Thiên Ân có phong cảnh tuyệt vời với khuôn viên rộng rải, có ” Cây đa ngàn năm tuổi” sum xuê và uy nghi bên cảnh đền yên bình, thuần khiết.
 Sau khi đặt lễ và thư giãn với không khí nhộn nhịp của đoàn người hành hương về đất phật, đất mẫu chúng ta sẽ ra bến xe điện ngay sát của Thiên Ân để tiếp tục hành trình đến nhà ga Cáp Treo. Trên xe điện chúng ta được ngắm một con đường đầy hoa, ngắm sự hùng vĩ của dẫy Tam Đảo cao vời trong mây và con suối xanh róc rách dưới khe núi. Rời khỏi xe điện chúng ta có một hành trình ngắn đi bộ vừa lắng nghe tiếng nhạc không Phật Giáo du dương vừa thưởng thức những con gió nhẹ thơm hương núi rừng, những cánh chim bay và sắc xanh bạt ngàn của rừng nguyên sinh trùng điệp.
 Trước khi lên ga cáp treo chúng ta hãy đến với Đền Cậu để cầu phúc, cầu lộc. Nhưng nơi đây là nơi rất thiêng và linh ứng cho các bạn trẻ cầu duyên. Đèn Cậu tuy nhỏ nhưng đến với Đền cậu chúng ta được đi qua một dẫy hàng quán che kín tạo ra một không gian huyền bi.
 Sau khi ghé qua thăm Đền Cậu và đã thỏa lòng cầu xin cậu, chúng ta lên ga cấp treo. Từ cáp treo chúng ta có dịp ngắm con đường mòn quanh co, dòng suối lượn quang, thác nước trắng mờ, sắc xanh bạt ngàn, mầu hoa cây cỏ, dây leo chằng chịt…của khu rừng nguyên sinh.
 Xuống ga cáp treo là chúng ta đã đến với quần thể tâm linh tuyệt vời nằm sát nhau dưới tán là của bạt ngàn cây cổ thụ với làn gió mát với không khí trong lành. Bạn sẽ cảm thấy ngực mình căng ra, mọi mệt mỏi tan biến cả. Bạn đã có thể hòa mình vào sự linh thiêng, kỳ bí của vùng núi nguyên sinh đầy vẻ đẹp thơ mộng mà không thể nơi nào có được. 
 Chúng ta có thể lần lượt thăm chùa thượng Tây Thiên, đền Quốc Mẫu, đền Tam tòa Thánh Mẫu, Đền Địa mẫu, đền Cô Chín. Sau đó chúng ta có thể thư thái sang đền thần núi Thanh Sơn Đại Vương.
 Từ đây, sau khi thưởng ngoạn một không gian tâm linh đầy năng lượng vũ trụ chúng ta cảm thấy mình nhẹ bỗng và khỏe khoắn lạ thường. Chúng ta thả hồn vào gió và sự trong lành để xuống núi bằng đôi chân. Con đường nhỏ gập ghềnh và thơ mộng giữa bạt ngàn cây cỏ bên dòng suối róc rách nên thơ sẽ dẫn chúng ta đến chùa Phù Nghì và Đền Cô Bé Tây Thiên. Đó là chặng dừng chân cuối cùng của chuyến hành hương lên núi cao.
 Xuống chân núi, sau khi nghỉ ngơi để nạp lại năng lượng chúng ta tiếp tục hành trình đến với Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên. Một con đường bằng phẳng và quanh co sẽ đưa bạn lên lưng chừng ngọn núi nơi tọa lạc của Thiền Viện. Bạn sẽ thực sự kinh ngạc về một thiền viện cổ kính ẩn mình dưới rừng thông. Một không gian thoáng đãng đầy mơ mộng và huyền bí đem đến cho bạn một năng lượng vũ trụ vô bờ. Bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi tan biến hết. Từ nơi đây bạn có thể phóng tấm mắt ngắm thung lũng nơi có ngôi Đại bảo Tháp Mandala, cổng Tam quan, con đường và quảng trương trước đền Trình và những nhôi nhà nhỏ bé với khói lam chiều.
 Rời khỏi nơi đây, xuống chân núi bạn có thể nghỉ ngơi, ăn uống tại những nhà hàng san sát. Trước khi lên xe rời khỏi chốn linh thiêng này bạn hãy nhớ rằng đừng quên mua làm quà mấy mớ ngọn su su và khoai môn núi cao. Ngọn su su tươi và rất rẻ. Khoai môn ở đây nổi tiếng là thơm và dẻo. 
 Kết thúc hành trình này bạn sẽ có một năm tràn đầy khí thế, sức khỏe và tài lộc.
  
  
MỘT SỐ NGÔI ĐỀN VÀ CHÙA TRONG KHU 
THẮNG CẢNH TÂM LINH TÂY THIÊN
 
 Đền Thỏng

 

 Đền Thỏng có ít nhất từ triều Lê. Đền Thỏng thờ Quốc Mẫu Tây Thiên và đây cũng  là Đền Trình của Quốc Mẫu Tây Thiên. Ngôi đền được đại trùng tu vào năm 1998.
 Đền Thỏng nằm ngay dưới chân núi và là nơi diễn ra các sự kiện chính của Lễ hội Tây Thiên hàng năm với lễ dâng hương, lễ khai hội, lễ tế….  Dưới sân Đền Thỏng là cây đa cổ thụ có biệt danh” Cây Đa ngàn năm tuổi”, một biểu tượng rất đặc trưng của khu danh thắng Tây Thiên. Bên đền Thỏng còn có một ngôi chùa nhỏ rất khang trang, đó là chùa Thiên Ân. ( Xem thêm tại đây: Đền Thỏng Tây Thiên )
 

   Đền Cậu Trường Sinh


 Sau khi qua lễ tại đền Thỏng chúng ta có thể đi xe điện lên chân nhà ga cáp treo sẽ đến thăm đền Cậu. Đền cậu có tên Đền cậu Trường Sinh được trùng tu lớn vào năm 1993.

 Khi lên đền Cậu, ngoài cầu tài, cầu phúc, lộc, thọ thì đền còn là nơi mà các cặp bạn trẻ đến đây để cầu duyên.



   Đền Cô Bé Tây Thiên


 Từ đền Cậu đi thêm khoảng 2km nữa là đến đền Cô. Đền Cô được xây dựng từ rất lâu đời thờ Cô Bé Thượng Ngàn. Đền được trùng tu xây dựng trên nến cũ năm 2009. Hiện nay ngôi đền được thờ Cô Bé Thượng Ngàn (còn gọi là Đền Cô Bé Tây Thiên) đã được phối thờ thành thờ Tứ Phủ Thánh Cô. Cô Bé Tây Thiên là Cô bé bản đền.

Đền Cô Bé Tây Thiên

 Nằm trong khu vực rừng cấm quốc gia nên khung cảnh ở đây tuyệt đẹp, xung quanh đền là các thực vật phong phú và không khí trong lành tạo nên một cảnh sắc thanh nhã, thoáng đãng, yên bình. Bên cạnh đền Cô là suối Giải Oan và một chiếc giếng cổ, rất nhiều khách hành hương từng đến đây đã thừa nhận rằng suối này rất thiêng. Nếu ai lấy nước từ suối hoặc giếng dâng lên cúng rồi uống sẽ thấy trong lòng mình thư thái, thanh thản và tịnh tâm nên đền Cô Bé thu hút được rất nhiều du khách gần xa.


   Đền Thần Núi Tam Đảo


 Đền Thần Núi Tam Đảo thờ Thanh Sơn Đại Vương là thần núi Tam Đảo. Đền Thần núi Tam Đảo nằm trong Quần Thể chùa Thượng

 Thần tích tóm tắt của Thanh Sơn Đại Vương: Năm 1291, trời đại hạn, vua Trần Nhân Tông sai người đi cầu đảo khắp nơi mà trời vẫn không mưa. Đến Tam Đảo thì cầu mưa được ngay. Nhà Vua đã phong cho thần núi Tam Đảo là Thanh Sơn Đại Vương. Sau dó hàng năm nhiều triều đại đã tiếp tục đến đây cầu mưa.  

 Ngôi đền được xây dựng vào năm 2012 để nhớ ơn công ơn của Thanh Sơn Đại Vương.
 
   Đền Quốc Mẫu Tây Thiên


 Theo ngọc phả thời Hùng Vương, Quốc Mẫu Tây Thiên khi sinh thời là thiếu nữ tên là Lăng Thị Tiêu, người thôn Đông Lộ, xã Đại Đình ngày nay. Bà đã có nhân duyên được vua Hùng thứ VII là Chiêu Vương  được tuyển làm Hoàng phi khi nhà vua cầu “Tiên tử” ở núi Tam Đảo. Từ bà đã mở ra một triều đại mới với 7 đời vương kế tiếp nhau là thời kỳ thiên hạ thái bình, xã hội ổn định

 Trong Từ điển Bộ Lễ nhà Lê, bà được xếp thứ hai sau Tản Viên Sơn Thánh, được vinh phong là: “Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu Tối Linh Đại Vương”. Trên núi Thạch Bàn, đền thờ bà tọa lạc cùng với chùa Tây Thiên, nên cũng gọi là đền Thượng Tây Thiên.
 Tương truyền,  khi còn sống, trong nước có loạn giặc Thục, bà có công chiêu mộ binh sĩ, phò vua cứu nước, cứu dân. Khi mất, bà lại thường hiển linh, âm phù giúp các đời vua đánh giặc, giữ nước nên được sắc phong làm Quốc Mẫu.

 Đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên gồm có 4 cung: Hậu Cung thờ Quốc Mẫu Tây Thiên, 3 cung trước thờ Ngọc Nữ ( bên tay trái), Ban Công Đồng (giữa), Tiên Đồng (bên tay phải)


    

Đăng bởi

Lễ hội đền Xâm Thị

 

 Đền Xâm Thị thờ mẫu Thoải và Mẫu Địa nằm ở làng Xâm Thị, xã Hồng Vân Thường Tín, Hà Nội. Lễ hội Đền Xâm Thị luôn được gắn với Đình Xâm thị tạo thành một lễ hội Đình – Đền đặc sắc. Lễ hội thường kéo dài 10 ngày từ mùng 1/2 đến hết 10/2 hàng năm. Lễ hội này được coi là Hội làng quan trọng nhất trong năm của ba con Xâm Thị nói chung và khách thập phương yêu thích Đạo Mẫu.

Lễ hội Đình Đền Xâm Thị



Nguồn gốc lễ hội Đình – Đền Xâm Thị

 Theo Thần phả Đình Xâm thị do Đại Các Học Sĩ Nguyễn Bính biên soạn năm 1572 và Lễ Bộ Thượng Thư Tuấn Doãn biên soạn lại năm 1626 thì Đình Xâm Thi thờ Nhị Vị Đại Vương:  Nhập Nội Cảm Ứng Kiến Quốc Hưng Cơ Đại Vương và Linh Quốc Hiển Ứng Đại Vương. Đây là các vị đại vương vốn là tiên thánh được giáng thế, giúp vua Hùng đánh đuổi quân Thục. Sau khi thắng trận, hai Ngài đã hóa tại vùng đất Xâm Thị để trở về thủy cung.  Đình Xâm Thị đã được 17 đạo sắc phong, ban mỹ tự của các triều đại kể từ thời Trần Nhân Tông đến nay. Thân thế và sự nghiệp cụ thể của nhị vị đại vương này vẫn được lưu giữ ở ngôi đình này.

 
Đình Xâm Thị đang được tu bổ.


 Theo các tài liệu cổ thì vùng đất Xâm Thị hiện nay thuộc Tổng Xâm Thị (nếu gọi đúng thì là tổng Thâm Thị), phủ Thượng Phúc, thành Đông Quan ngày xưa. Thời đó Tổng Xâm Thị có 6 làng. Trong đó làng Xâm Thị nằm ở trung tâm; phía đông là làng Xâm Khố (nay thuộc đất Hưng Yên ở bên kia sông Hồng, phía bắc là Xâm Dương, phía tây là Xâm Động, phía nam là Xâm Hồ và Xâm Xuyên. 
 Theo các tụng truyền thì Xâm Dương là nơi đóng quân thủy của vua Trần Nhân Tông, làng Xâm Khố là nơi có kho muối, kho lương của Ngài. Có lẽ vì vậy, làng này có tên là Xâm Khố bởi Khố trong âm Hán Việt có nghĩa là kho. Đình Xâm Thị thuộc làng Xâm Thị là nơi Ngài đến cầu đảo trước khi xuất binh chống giặc. Đền Xâm Thị là nơi Ngài và quần thần ghé thuyền lên Đình Xâm Thị để cầu đảo.
 
Đền Xâm Thị
 
 Theo tụng truyền thì Đền Xâm Thị ngày xưa là bến thuyền giao thương giữa 2 làng Xâm Khố và Xâm Thị. Nơi đây cũng là nơi xuất phát của bà con ngư dân Xâm Thị đi đánh cá trên sông Hồng. Nghe danh Đình Xâm Thị thờ nhị vị đại vương rất linh thiêng, vua Trần Nhân Tông và quần thần, trước khi xuất binh nghênh địch, đã ghé đến bến sông này để vào Đình Xâm Thị cầu đảo. Sau này, nhờ sự anh linh của nhị vị đại vương, vua Trần Nhân Tông đã được Mẫu Thoải linh ứng giúp đỡ. Thắng trận trở về Ngài đã cho dân chúng xây dựng đền thờ Mẫu Thoải tại bến sông Xâm Thị và Xâm Dương để ghi công phù độ của Mẫu Thoải và nhị vị Đại Vương. Chính vì vậy, trước đây lễ hội đền Xâm Dương và Xâm Thị đều được phối lễ, phối hội với Đình Xâm Thị. Tuy nhiên, sau này khi phục dựng lại lễ hội Đền Xâm Dương (còn gọi là Đền Dầm) thì nghi thức phối lễ, phối hội với Đình Xâm Thị của Đền Xâm Dương đã được giản tiện. Có lẽ một phần vì Xâm Dương đã tách về xã mới là Ninh Sở nên việc tế hội đã giản tiện lại. Ngày nay, lễ hội của Đền Xâm thị vẫn luôn gắn chặt với Đình Xâm Thị như phong tục ngày xưa. Làng Xâm Khố cũ, tuy bên kia sông, tuy đã thuộc đất Hưng Yên nhưng vẫn duy trì tục cũ phối hợp với Xâm Thị để phụ trợ lễ hội của Đình – Đền Xâm Thị.

Lễ hội Đình – Đền Xâm Thị

 Lễ hội Đình – Đền Xâm Thị tuy kéo dài 10 ngày, từ mùng 1 đến mùng 10 tháng 2 âm lịch hàng năm, nhưng được tập trung vào 4 ngày chính: Ngày mùng một rước kiệu từ Đình ra Đền. Ngày mùng 5 tiến hành lễ cấp nước và rước nước trên sông Hồng, ngày mùng 7 ngày tế chính; ngày mùng 10 rước kiệu về Đình. Còn các ngày khác trong lễ hội là ngày để bà con có thời gian lễ Đình, lễ Đền để cầu phúc, tài, lộc cho cá nhân,
 Lễ hội này được phục dựng lần đầu năm 1987, đến năm 1992 trở lại đây mới được hoàn thiện theo lối xưa. Đây là một lễ hội đặc trưng của vùng sông nước với tục thờ Mẫu Thoải. Nhưng nét đặc sắc ở đây là sự phối hội, phối lễ giữa Đình thờ thành hoàng với Đền thờ Mẫu Thoải. Đây là một nét riêng của vùng đất này mà không đâu có. Lễ hội được phục dựng theo lối cổ trang nghiêm, sống động, hoành tráng và là dịp thỏa nguyện tâm linh của dân chúng quanh vùng.
 
Một góc của Đền Xâm Thị
 
 Ngay từ sáng sớm mùng 1 lễ hội bắt đầu bằng cuộc rước kiệu từ đền ra đền. Đoàn kiệu gồm kiệu Long Đình, kiệu Ông, kiệu Bà với di hiệu, cờ thần, bát bửu… với sự hộ tống của các chức sắc, dân chúng trong làng trong tiếng trống rộn ràng, tạo nên một không khí uy nghi, trang trọng trong sự hồ hởi vui sướng hân hoan của bà con. Trước đây, theo các cụ cao niên của làng thì buổi rước kiệu thường xuyên xẩy ra hiện tượng “Kiệu bay”. Các cụ bảo đó là do các Ngài linh ứng.
 Lễ cấp nước và rước nước trên sông Hồng được diễn ra trong một khung cảnh trang nghiêm, rộn rã. Một thuyền rồng lớn lớn trang hoàng cờ xí rợp trời chở bầu trang (tráp lễ mặn), chóe nước cùng đoàn tùy tùng rời bến và ngược sông Hồng trong tiếng trống, tiếng hò reo của mọi người tạo nên một không khí sôi động, hồ hởi nhưng đậm chất tâm linh trên dòng sông vốn hàng ngày thơ mộng, thanh bình.

Lễ rước kiệu trong lễ hội Đền Đình Xâm Thị

 

 Phía bên làng Xâm Khố cũng có một con thuyền rồng uy nghi với cùng xuất phát và hòa nhập với thuyền rồng của làng Xâm Thị tạo thành lưỡng rồng trên sông. Trên thuyền, các chức sắc vừa chiêng trống vừa tiến hành khấn lễ theo lễ nghi hòa trong tiếng trống thúc, tiếng hò reo rộn rã của cả hai bên bờ sông. Một không khí rộn ràng, hồ hởi trên dòng sông thơ mộng khiến lòng mỗi người lâng lâng, rạo rực. Khi xong lễ nghi lễ bái xong thì cũng là lúc con thuyền qua khỏi địa phận Xâm Thị. Lễ cấp nước được khởi đầu bởi một cụ lão ” Đức cao vọng trọng” trong làng thực hiện, sau đó tiếp tục đến các chức sắc. Con thuyền trở lại bến trong tiếng trống, tiếng hò reo của mọi người để tiếp tục nghị thức thả thuyền rồng. Nghi thức thả thuyền rồng là một nghi thức quan trọng để cầu mong cho mưa gió thuận hòa và cầu phúc cho mọi người dân.
 
Đền Xâm Thị và bến sông nơi xưa
 
 Buổi chiều sau khi nghi lễ cấp nước và rước nước thì phần hội được diễn ra với các trò chơi dân gian như đuổi vịt, đập niêu và văn nghệ dân gian với những điệu nhạc dân gian vùng đồng bằng bắc bộ, các điệu chầu văn. Đây là phần hội vui nhất trong lễ hội.
 Ngày mùng 7 là ngày tế chính diễn ra tại đền. Buổi sáng các đội tế nữ thực hiện các nghi lễ tế. Buổi chiều là các nghi lễ cúng khấn, tấu văn sớ. Buổi tối là nghi thức hầu bóng để tạ ơn Mẫu Thoải và các vị thánh trong Tứ Phủ. Nghi lễ này còn gọi là “Lễ ngả bóng”. Điều kỳ lạ nghi thức này thường có những biểu hiện huyền bí mà chỉ vào dịp lễ hội mới xẩy ra khiến chưa ai giải thích được.

 

 Ngày mùng 10 là ngày rước kiệu về Đình. Buổi sáng Đình sẽ tiến hành tế bởi đội tế nam. Sau phần lễ là tiệc thụ lộc lễ tạ của dân chúng và các chức sắc trong làng để mừng cho lễ hội thành công.

Giá trị văn hóa và tâm linh của lễ hội Đình – Đền Xâm Thị

 Theo các cụ cao niên trong làng thì được về dự lễ hội là một diễm phúc, là một thời điểm hiếm có và tốt nhất cho việc cầu tài, cầu lộc, cầu phúc. Vì thế, cứ đến ngày lễ hội, các con cháu của làng dù xa đến mấy đều cố gắng thu xếp để về tham dự. Khách thập phương biết đến sự linh thiêng của Đền Xâm Thị cùng không bỏ qua cơ hội để đến xin tài lộc của Mẫu và nhị vị đại vương.

 

 Như trên đã nói, theo truyền tụng thì đền Xâm Thị chính là nơi vua Trần Nhân Tông đã ghé thuyền để lên Đình Xâm Thị để cầu đảo, còn Xâm Dương là nơi đóng quân của Ngài. Vì thế, sau này chiến thắng Ngài đã sắc phong cho nhị vị đại vương ở Đình và cho xây đền Xâm Dương và Xâm Thị. Vì thế, có thể coi Đền Xâm Thị, Đền Xâm Dương (đền Dầm) là hai đền chính gắn với tích Mẫu Thoải phù độ cho vua Trần Nhân Tông đánh giặc. Tuy nhiên, chỉ có đền Xâm Thị vẫn giữ được lễ hội Đình – Đền như thời cổ.

 Theo các nhà nghiên cứu về văn hóa và tâm linh thì Lễ hội Đình – Đền Xâm Thị là một lễ hội đặc sắc mang nét đặc trưng của riêng vùng miền. Đây là một nghi thức lễ hội được phục dựng theo lối cổ từ xa xưa, ít nơi nào còn giữ được. Một lễ hội mang mầu sắc tâm linh vừa để tạ ơn Mẫu, tạ ơn thành hoàng làng vừa để cầu mưa thuận gió hòa, vừa cầu phúc lộc cho bà con dân làng và khách thập phương. Lễ hội đặc sắc này là một niềm tự hào, vinh dự của những người con Xâm Thị.


 

Đôi nét về Đền Xâm Thị

 Đền Xâm Thị nằm ở một vị trí đắc địa. Theo phong thủy thì đây là một địa điểm tràn trề linh khí. “Lưng tựa sơn, mặt hướng thủy”, Chu Tước là dòng sông trong xanh, hiền hòa; Huyền Vũ là con đê quai và làng quê trù phú; thế đất này còn có đủ tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ. Đây là một điểm phong thủy hiếm có. Vì thế, nơi đây luôn là nơi cầu đảo linh thiêng cho dân làng và du khách thập phương.

 

 

Đăng bởi

Đền Bà Đế Đồ Sơn thờ thiếu nữ Đào Thị Hương – một thiếu nữ xinh đẹp, nết na

 Ðền Bà Đế Đồ Sơn nằm ở núi Độc, Đồ Sơn – Hải Phòng. Ðền Bà Đế Đồ Sơn đã được vua Tự Ðức về thăm và ban sắc phong “Ðông Nhạc Ðế Bà – Trịnh chúa phu nhân”. Đền Bà Đế Đồ Sơn còn được gọi là” Đông Nhạc Linh Từ”. Đền Bà Đế Đồ Sơn thờ thiếu nữ Đào Thị Hương – một thiếu nữ xinh đẹp, nết na đã phải chết oan khuất vì sự dâm đãng của chúa Trịnh Giang.

 Đây là một ngôi đền đẹp nằm sát ngay cạnh bãi biển Đồ Sơn. Đây là một nơi linh thiêng của đất Hải Phòng. Đây là nơi mọi người có oan gia đến đây để kêu xin giải tỏa nỗi oan khuất.
 Hiện nay, Đền Bà Đế Đồ Sơn đang được cải tạo, mở rộng.
 

  Bà Đế Đào Thị Hương là ai

 Theo biên soạn của nhà đền thì sự tích về Bà Đế Đào Thị Hương tóm tắt như sau:
  Năm 1718, gia đình họ Đào đã xin cầu tự và sinh được một cô bé xinh đẹp. Nàng rất khéo tay và hát hay. Năm 1736, chú Trịnh Doanh về kinh lý Đồ Sơn và đã gặp bà.  Bà đã mang thai. Nhưng làng tổng không biết đó là bà mang thai với chúa nên đã dìm chết bà.
 Khi chúa Trịnh Doanh về đón bà thì bà không còn nữa. Trịnh Doanh đã cho lập đền thờ Bà, lập đàn giải oan cho Bà.
  
   Sự trang cãi về người đã mang thai cho Bà Đế Đào Thị Hương
 
 Tuy nhiên, theo tờ báo An Ninh Thế Giới thì sự thật không chính xác như biên soạn của nhà đền Bà Đế Đồ Sơn.  Theo bài báo này thì: Bà Lưu Quế Hoa – Thủ nhang đền Bà Đế Đồ Sơn đã nhầm lẫn Chúa Trịnh Giang sang chúa Trịnh Doanh và ngược lại. Đây là một sự lầm lẫn đáng tiếc về lịch sử ngôi đền. Một điều lầm lẫn nữa của bà Lưu Quế Hoa là việc xây đền Bà Đế là do chúa Trịnh Doanh, con của chúa Trịnh Giang.
 Dưới đây là trích đoạn bài báo viết:
 
 “Tuy nhiên, một tài liệu có tiêu đề là “Sự tích đền Bà Đế. Núi Độc – Đồ Sơn” do bà Lưu Quế Hoa tự in ấn và phát hành đã giới thiệu về di tích một cách sai lệch. Tài liệu này viết rằng, kẻ tạo ra bào thai oan khiên cho nàng Hương là Chúa Trịnh Doanh.
 Theo chính sử, năm 1736 Trịnh Doanh chưa lên ngôi chúa. Lúc đó, Trịnh Giang đang tại vị. Vả lại, Trịnh Doanh là vị chúa có công điều chỉnh lại những điều cha mình (là Trịnh Giang) làm quấy. Chính Trịnh Doanh là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam thực hiện thiết chế “song quyền lập pháp phong kiến”. Ông đã đưa Vua Duy Diêu (tức Lê Hiển Tông) lên ngôi vua, tức chế độ có 2 ngôi vua, chúa song quyền. Nói cách khác, Trịnh Doanh được dư luận dân gian thời đó đánh giá là một vị chúa anh minh. Tài liệu của bà Lưu Quế Hoa đã bóp méo một góc lịch sử, khiến Chúa Trịnh Doanh mang tiếng oan, Trịnh Giang mới là bạo chúa“.
  
   Để minh chứng điều chưa chuẩn xác của nhà đền thì bài báo đã minh chứng bằng tài liệu lịch sử. Tóm tắt bài báo như sau:
 
 Theo chính sử, thì Trịnh Giang nổi tiếng ăn chơi, trác táng ngay khi chưa lên ngôi. Vì thể, Chúa Trịnh Cương( Bố của Trịnh Giang) đã có ý định không truyền ngôi cho Trịnh Giang. Nhưng năm 1730, ông mất đột ngột, nên Trịnh Giang đã chiếm ngôi chúa.  Khi lên ngôi, Trịnh Giang càng ăn chơi trác táng và dâm loạn hơn. 
 Vào năm 1736, chúa Trịnh Giang rong thuyền về Đồ Sơn dạo cảnh. Chúa Trinh Giang đã nghe thấy một giọng hát lanh lảnh như chim sơn ca nên lùa lũ thị vệ bắt lên thuyền cưỡng hiếp. 
 Sau khi cưỡng hiếp xong, Trịnh Giang đe dọa nếu nàng để lộ cơ sự sẽ tru di cả làng. Sau đó sai thị vệ ném nàng xuống biển rồi rong thuyền bỏ đi.
 May mắn là nàng không chết, nhưng nàng đã mang thai. Dân làng cho rằng nàng chửa hoang và bắt khai ra bố của bào thai. Nhưng nàng câm lặng không khai vì sợ Trịnh Giang trỏ về giết cả làng và cả cha mẹ của nàng.
 Tức giận vì nàng chửa hoang làm ô danh của làng, các chức sắc trong làng đã trói nagf và dìm xuống biển tại ngay núi Độc ngày nay. 
 Trước lúc bị dìm, nàng Hương cất tiếng than oán: “Tôi vì sinh mạng dân làng mà chịu chết. Nỗi oan này thấu trời động đất. Khi chết oan hồn tôi quyết ở lại trần gian khi nào giải được tội mới về trời”.
  Năm 1739, Trinh Giang loạn luân với phi tần của cha bị phát giác. Trịnh Giang bị trời phạt mắc bệnh tự kỉ, tâm thần tự xây mộ để lẩn trốn ánh nắng mặt trời 11 năm đến khi qua đời.
 Khi Trịnh Giang mất, con của Trịnh Doanh đã lên thay ngôi chúa. Trịnh Doanh đã về hang Giải Oan bên núi Độc (nơi cửa hang là nơi bà Đế bị dìm chết) để giải oan cho bà và cho lập đền thờ bà.

  Căn cứ chính sử thì sự kiện được nêu trong bài viết này xác đáng hơn. Rất mong Sở VHTT Hải Phòng cần vào cuộc để làm rõ vấn đề hơn lịch sử ngôi đền linh thiêng này.
 
Đăng bởi

Đền Quan Lớn Phủ Dầy

 Đền Quan Lớn Phủ Dầy còn gọi là Đền Quan Lớn Đệ Tam. hay đền Công Núi nằm ở chân núi Ngăm thuộc xóm 4 thôn Tiên Hương, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, là một trong số các di tích thuộc Quần thể di tích lịch sử văn hóa Phủ Dầy. Đây là đền thờ vọng Quan Lớn Đệ Tam.

Tam Quan Đền Quan Lớn Phủ Dầy

 Theo truyền thuyết xưa kia thì nơi đây thờ “Hữu Sơn Thần” (Thần núi). Do vậy trong cung cấm có ban thờ Sơn Thần tượng bằng đồng cao khoảng 90 cm, đầu đội mũ cánh chuồn, mặc long cổn với nhiều hoạ tiết trang trí như rồng long mã. Một tay để trên đầu gối, tay phải như đang dữ ấn. Dân gian tôn vinh ngài là bậc quang minh chính đại: “Đại đức quang minh”.
 Trong đền còn có một đôi câu đối :

“Đức bố quận phương nhân dân đồng ngưỡng vọng
Uy linh tứ bảo kim cổ cộng tri danh”

Tạm dịch:

Ân đức rộng khắp gần xa, mọi người cùng trông đợi
Uy linh lừng bốn biển xưa nay danh tiếng vẫn còn truyền.

 Trên ban có bài vị riềm chạm hoa chanh cùng hoạ tiết tứ linh thế kỉ 19 rất tinh vi, có hàng chữ: “Đương cảnh thành hoàng Hữu Sơn Thần, thần vị”.
 Cung đệ nhị, đệ Tam thờ Quan Lớn Đệ Tam cùng các vị trong hệ Tứ Phủ, Quan Lớn Đệ Tam hay còn gọi là Vương quan, theo truyền thuyết  ông là con của Vua Cha Bát Hải. Ông là một vị tướng tài thời Hùng vương đánh giặc giúp nước, giúp dân khi gặp thuỷ nạn. Vì vậy, trong văn chầu có đoạn như sau:

“Sơn xuyên dục tú, hà hải chung linh
Quan Lớn Đệ Tam con vua Bát Hải Động Đình
Tên danh hiệu Đệ Tam Hoàng Thái tử
Văn thần cẩm tú, võ tòng ông lớn lược thao
Bởi dung tướng mạo anh hào
Đại trung chính, tài cao quán cổ… “

 Tại cung thờ quan lớn Đệ Tam có đôi câu đối như sau:

Nguyện giả chân thành Vương quan đa giáng phúc
Cầu chi tất ứng Thần đức tối uy linh.
 Tạm dịch:
Nguyện ước thành sự, nhờ Vương quan ban nhiều phúc
Cầu tất ứng nghiệm là nhờ Thánh đức uy linh.

 Lại có một đại tự trong đền ghi:

“Nam Hải ân thâm” (Ân đức sâu như biển Nam )
“Thần linh khắc tướng” (Thần thiêng liêng hiển hiện rõ rệt)

 Đền quan Lớn thờ Hữu Sơn Thần, các vị trong Tứ Phủ, như Ngũ Vị Tôn Quan, ông Hoàng Bẩy, ông Hoàng Mười, lại có lầu Cô, Cậu theo hệ điện thần Tứ Phủ.

 Quan Lớn Đệ Tam còn được thờ ở đâu

 

Quan Đệ Tam

 Quan Lớn Đệ Tam có khá nhiều đền thờ. Có hai đền rất đáng được chú ý là Đền Lảnh Giang và Đền Xích Đằng. Đó là hai ngôi đền liên quan đến sự thăng hóa của Ngài. Đền Quan Đệ Tam – Thái Bình gần đền Đồng Bằng liên quan đến sự tích Ngài phục vụ Đức Vua Cha Bát Hải chống giặc ngoại xâm. Đền Quan Đệ Tam – Lạng Sơn, liên quan đến chiến tích chống giặc ngoại xâm.


((Bài viết được lược trích từ  Phủ dầy)

Đăng bởi

Đền An Sinh – Di tích Trần triều. Khu di tích được xếp hạng là Di tích Quốc Gia đặc biệt

 Đền An Sinh nằm ở xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.  Đền An Sinh nằm cách quốc lộ 18 khoảng 5 km.

 
 An Sinh vốn là quê gốc của nhà Trần. Đền An Sinh thờ 8 vị vua nhà Trần có lăng mộ tại khu vực này. Cũng lưu ý rằng nhà Trần có 14 đời vua, nhưng chỉ có 8 vua Trần có lăng mộ nơi đây nên Đền An Sinh chỉ thờ 8 vị vua Trần. 

Cổng vào khu di tích nhà Trần và Đền An Sinh
 

  Đền An Sinh nằm trong khu di tích lịch sử nhà Trần. Khu di tích được xếp hạng là Di tích Quốc Gia đặc biệt. Nơi đây có đến 14 di tích của nhà Trần. Khu di tích này cũng là một bộ phận của quần thể di tích danh thắng Yên Tử.

 
Một góc khuôn viên Đền An Sinh

Khu di tích nhà Trần ở khu An Sinh

 Khu di tích nhà Trần nơi đây gồm các lăng mộ vua, Thái Miếu, Am Ngọa Vân, chùa Ngọa Vân, chùa Ngọc Thanh, chùa Tuyết, chùa Quỳnh Lâm và chùa Hồ Thiên.
 
Ngải Sơn Lăng thờ vua Trần Hiến Tông


 Nơi đây có 7 lăng thờ 8 vị vua Trần như sau:
 – Tư Phúc Lăng:  Thờ Vua Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông
 – Thái Lăng:  Thờ vua Trần Anh Tông
 – Mục Lăng:     Thờ vua Trần Minh Tông. 
 – Ngải Sơn Lăng: Thờ vua Trần Hiến Tông.
 – Phụ Sơn Lăng:   Thờ vua Trần Dụ Tông. 
 – Nguyên Lăng:    Thờ Trần Nghệ Tông.
 – Đồng Hỷ Lăng:  Thờ vua Trần Duệ Tông (Trần Giản Đế).
 
Đường lên chùa Ngọa Vân trên đỉnh Ngọa Vân
 
 Trước đây, mộ các vua Trần nằm ở Nam Định, Thái Bình nhưng năm 1381 để tránh nạn người Chiêm sang cướp phá, nhà Trần đã chuyển các lăng mộ về An Sinh. Ngoài các lăng vua trên, nơi đây còn có các di tích:
 – Thái Miếu (hay còn gọi là đền Thái): Nơi thờ 8 vị vua Trần và tổ tiên nhà Trần.
 – Am Ngọa Vân: Đây là nơi tu hành và viên tịch của Trần Nhân Tông, và cũng là nơi lưu giữ xá lị của Người.
 – Chùa Ngọa Vân: Chùa Ngọa Vân là công trình mới được xây dựng nằm phía dưới khoảng 100 m so với Am Ngọa Vân.
 
Những vật tích còn lại của ngôi đền An Sinh thời xưa
 
 – Chùa Hồ Thiên (Trù Phong tự): Nơi đăng đàn thuyết pháp của Phật hoàng Trần Nhân Tông và Pháp Loa (đệ tử của Trần Nhân Tông).
 – Chùa Quỳnh Lâm: Chùa do Pháp Loa – vị Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm xây dựng và mở mang chùa thành một trong những trung tâm phật giáo lớn đương thời. 
 – Chùa Trung Tiết (chùa Tuyết):  Ngoài thờ Phật, chùa còn thờ hai vị cận thần của vua Trần Anh Tông là Thái học sinh Đặng Tảo và Gia nhi Chủ nô Lê Chung.
 – Chùa – quán Ngọc Thanh:  Chùa được xây vào đờ vua Trần Phế Đế.
 tường hồi bít đốc.
 – Am Mộc Cảo: Nơi Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng thái hậu phụng thờ và chăm sóc lăng mộ vua Trần Anh Tông. 
 
Nhà ga cáp treo lên đỉnh Ngọa Vân

Không gian kiến trúc, tâm linh Đền An Sinh  

 Đền An Sinh được xây dựng thời Trần, trùng tu vào thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Qua thời gian, di tích đã xuống cấp và đã được trùng tu, phục dựng vào năm 2000.
 Quanh đền có 14 cây đại thụ, biểu hiện cho 14 đời vua nhà Trần. Trước đền có tám cây vạn tuế biểu hiện cho tám vị vua được thờ ở đây.
Cổng đền có những hàng nhãn cổ thụ làm cho cảnh quan đền thêm cổ kính.
Một góc khuôn viên Đền An Sinh
 Đền An Sinh (xưa kia gọi là Điện An Sinh) toạ lạc trên một đồi đất thoai thoải thuộc địa phận thôn Trại Lốc, xã An Sinh, huyện Đông Triều. Phía sau Đền là lăng miếu và bàn thờ ngũ vị vua thời nhà Trần: Anh Tông hoàng đế, Minh Tông hoàng đế, Dụ Tông hoàng đế, Nghệ Tông hoàng đế và một người tuy không làm vua nhưng được tôn làm hoàng đế đó là An Sinh Vương Hoàng Đế (Trần Liễu), anh trai của Trần Thái Tông. Cùng với việc thờ ngũ vị hoàng đế trên thì tại Điện An Sinh ngày đó còn có miếu thờ công chúa Linh Xuân của nước Ai Lao (nước Lào ngày nay).
 
Cung thờ tám vị vua Trần trong đền An Sinh
 
 Đền An Sinh ngày nay có kiến trúc gồm ba toà nhà rộng 5 gian theo kiểu chữ “Tam”;  Hậu cung thờ 8 vị hoàng đế triều Trần. Trung cung thờ Hưng Đạo Đại Vương. Tiền cung là Công Đồng Trần Triều.
 
Ban thờ Hưng Đạo Đại Vương ở đền An Sinh.

Giá trị tâm linh đền An Sinh và khu di tích nhà Trần

 Đền An Sinh chỉ là một tâm điểm của khu di tích nhà Trần. Đến với Đền An Sinh và khu di tích này, chúng ta đã đến với nguồn cội của Đức Thánh Trần Hưng Đạo, gốc tổ của Thiền Phái Trúc Lâm, quê hương cùng lăng mộ của các vua Trần. 
 
Thái Miếu nhà Trần đang được hoàn thiện
 Hiện nay, Đền An Sinh đã được xây dựng và hoàn thiện. Thái Miếu đang được xây dựng, Chùa Ngọa Vân đang hoàn thiện, các lăng mộ vua Trần mới được khảo cổ hiện đang rất hoang tàn. Các lăng mộ nghe đâu đã có kế hoạch trùng tu. Hiện con đường lên chùa Ngọa Vân và Am Ngọa Vân đã được hoàn thành. Đường đi lên chùa và Am đã có hệ thống cáp treo.
 Nơi đây, chỉ vài năm sau sẽ trở thành một địa điểm du lịch tâm linh đặc sắc của Phật, của các vua Trần.
 
Am Ngọa Vân nơi Trần Nhân tông nhập niết bàn
 
 Lễ hội nơi đây lấy ngày  ngày 20 tháng 8 hàng năm là ngày mở hội. Nghi lễ có phần lễ tế dâng hương tại đền của dòng họ Trần. Phần hội sẽ có các trò chơi chọi gà, bóng chuyền vào ban ngày và thi văn nghệ vào buổi tối…

Nỗi buồn lăng mộ vua Trần

 Nếu có dịp đến đây, chúng ta hãy cố gắng đến thăm lăng mộ của các vua Trần kẻo sau này xây dựng lại không còn chứng kiến cảnh hoang tàn của thời gian. Ngắm nhìn các lăng mộ này có lẽ nước mắt chúng ta sẽ chảy bởi sự vô tình của nhân tình thế thái của lịch sử, thời gian thăng trầm, khắc nghiệt.
 
Đau xót cho Nguyên Lăng của Trần Nghệ Tông chỉ như thế này.
 
 Nguyên Lăng của Trần Nghệ Tông bị đào trộm, nay mới chỉ có một bàn đá, cây hương đá nằm chổng chơ bên ngôi mộ đất đắp lại sơ sài trên một ngọn đồi trồng nhãn với những tán lá cằn cỗi.
 
Đắng cay cho Tư Phúc Lăng nơi kia là một cung điện thờ nguy nga.
 
 Tư Phúc Lăng chỉ còn một ngôi miếu đơn sơ, siêu vẹo do dân chúng dựng tạm trong một khuôn viên đổ nát, đào bới ngổn ngang, đó là dấu vết của các nhà khảo cổ. Tư Phúc Lăng nằm lạnh lùng giữa rừng keo trên một đỉnh núi âm u, lạnh lẽo như thách thức với thời gian về sự trường tồn.
 
Phụ Sơn Lăng chỉ còn có thế này.
 
 Phụ Sơn Lăng hoang tàn trơ trọi một bát hương ẩn mình cô độc trong một vườn nhãn giữa đổ nát hoang tàn của gạch đá đền cũ thủa xửa.
  
 
Phụ Sơn Lăng của Trần Anh Tông lạnh lẽo cô đơn giữ hồ lạnh lẽo.

 Thái Lăng thờ Trần Anh Tông thì lạnh lẽo, quạnh hiu, trơ trọi trên một ốc đảo nhỏ nhoi giữa lòng hồ mênh mông như một nỗi buồn, một nỗi cô đơn trải dài hàng mấy thế kỷ.

Ngải Sơn Lăng



 Chỉ có Ngải Sơn lăng của Trần Hiến Tông, tuy xưa đổ nát nhưng đã được nhân dân xây dựng lại cách đây khoảng 10 năm là khang trang hơn cả. Nơi đây còn giữ được một số tượng cổ tại vườn” Thượng uyển”.

Một góc vườn ” Thượng uyển” ở Ngải Sơn Lăng


 Than ôi, thời gian thăng trầm khắc nghiệt làm sao. Những vị vua anh minh, nguyện cả đời vì dân vì nước giữ gìn non sông gấm vóc mà nay lăng mộ tan hoang, lạnh lẽo không bằng một ngôi mộ của kẻ bần hàn. Cũng may thay, nghe đâu nhà nước đã có dự án trùng tu để các ngài lại được vang danh như thủa ban đầu, khi về lại quê cha đất tổ. Mong sao những ngày đó chóng đến để con cháu có cơ hội nhìn lại công lao to lớn của các vị vua vang bóng một thời.
  
  
  
Đăng bởi

Đền Bắc Lệ – Bia ký nhà đền

  Lời ban biên tập: Đền Công Đồng Bắc Lệ thờ ai. Việc dịch các bia ký của Đền Công Đồng Bắc Lệ có năm 1922 và năm 1933 của Viện Hán Nôm cho thấy Đền Công Đồng Bắc Lệ của bạn Hoàng Giáp – Viện Hán Nôm cung cấp và bạn Đỗ Tùng đăng tải sẽ giúp các bạn sẽ rõ.
 Chúng tôi xin đăng lại bài viết này do bạn Đỗ Tùng đăng tải lên một nhóm về Đạo Mẫu trên Facebook để các bạn tham khảo.
 

Tam Quan đền Công Đồng Bắc Lệ

 VĂN BIA ĐỀN CÔNG ĐỒNG BẮC LỆ

 Những ai còn thắc mắc, băn khoăn hoặc tranh luận về thần chủ của đền Bắc Lệ – Hữu Lũng, Lạng Sơn thì kính xin tham khảo thêm tư liệu ở bài viết này. Đền Bắc Lệ thờ Tam tòa Thánh Mẫu là: Đệ nhất tiên Thiên Phủ Dày (Mẫu Liễu), Đệ Nhị Sơn lâm Đông Cuông (Mẫu Thượng Ngàn) và Đệ Tam Thủy tinh Xích Lân (Mẫu Thoải) trong đó ngôi thần chủ là Thánh Mẫu Vân Hương Phủ Dày (Tức Mẫu Liễu). Theo bia văn ký thì Đền Bắc Lệ không phải là đền thờ chính của Thánh Mẫu Thượng Ngàn như vẫn quan niệm từ trước đến nay. Thần chủ của Đền Bắc Lệ là Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Việc tranh cãi về thần chủ của đền Bắc Lệ vẫn tồn tại dai dẳng trong rất nhiều năm giữa các thanh đồng. Nguyên nhân chủ yếu vì những quan niệm được truyền miệng một cách không chính xác do bởi không căn cứ vào tư liệu gốc của đền còn giữ được cộng thêm tâm lý bảo thủ, hiếu thắng mà đã gây ra những sai lệch trong nhận thức về thần chủ của đền trong suốt thời gian qua. Nay đã phiên dịch bia ký của đền mong sự thông tỏ rõ ràng của chư đồng đạo để những nhận thức đúng trở nên nhất quán
 
1. Bia số 1 (đền Công đồng Bắc Lệ)
 
 Phiên âm: BẮC LỆ TỪ BI KÝ
   Cung văn:
 Thiên tiên Thánh mẫu, Vân Hương mẫu tú, Sùng Lĩnh chung anh, đình truy ngọc bội, ký Thiên thượng giáng sinh chi cơ. Khánh mộc để mão khẩu lưu nhân gian bất tử chi kỳ tích, lịch đại minh doanh, tứ phương ngưỡng đức.
 Quyến duy:
 Bắc Giang tỉnh, Hữu Lũng châu, Bắc Lệ phố cung phụng: Tam vị Thiên thánh, Thượng Ngàn thánh Mẫu lệ giá công đồng, nẫm trừ linh ứng, tiền thu thảo xá, lũ bị hỏa tai, chí Khải Định tứ niên sở hữu Hoa dân quốc trụ hỏa Hải Phòng châu thành tây án tọa thông phán Trần Khải Xâm có thê Nguyễn Thị Tỷ hiệp các quý đồng mưu hương bản. Công bộ chính tốt toại Nguyễn Bá Xương cúng ngân thập nguyên, Lưu Phúc Xương cúng ngân nhị thập nguyên, trịnh sắc dịch cập thập phương tiến cúng đẳng trùng tu ngõa miếu trù chí nhân thiên thất bách nguyên tiến cúng ước tam bách nguyên, linh hồn can Trần Công Tự tự xuất gia tư tu lý hoàn thành trung văn vu dư. Dư viết công Bắc quốc nhân nãi tưởng đồ thành tể sự diệc nhất đại công đức ý văn minh thời đại hiển hách. Thần quyền thiên lý tại nhân tâm bất khả dẫn một dã. Viên minh vu thạch dĩ thọ kỳ truyền bi hậu nhân đăng tư đình bái yết giả kỳ hữu sở tư hổ. Tư lập bi kì.
 Khải Định thất niên, cửu nguyệt sắt nhật. Nam Thành thanh đồng Vũ Xuân Lan phụng chí; Mộc ân đệ tử Vũ Đức dụ kính thư.
 
  Dịch nghĩa bia ký số 1
 BIA KÝ ĐỀN BẮC LỆ
 Kính nghe:
 Bậc Tiên thiên thánh Mẫu, Vân Hương thánh Mẫu, núi Sùng Lĩnh chung đúc linh thiêng, do đánh vỡ chén ngọc, Trời cho giáng sinh. Tương truyền cây gỗ quý nêu sử tích kỳ dị, trở thành nhân gian bất tử, tiếng tăm lẫy lừng, muôn phương ngưỡng đức.
 Kính nghĩ:
 Phố Bắc Lệ, châu Hữu Lũng, tỉnh Bắc Giang phụng thờ ba vị Thiên tiên Thánh Mẫu, trong đó có Mẫu Thượng. Đền thờ Thánh Mẫu tỏ rõ linh ứng. Trước đây đền lợp lá gianh, thường hay bị hỏa hoạn. Đến năm Khải Định thứ 4 (1919), có một người Hoa ở thành tây Hải Phòng giữ chức Thông phán là Trần Khải Xâm cùng vợ là Nguyễn Thị Tỷ đã hiệp sức với các tín đồ mưu dựng lại. Công việc còn lại do Nguyễn Bá Xương cúng tiến 10 quan; Lưu Phúc Xương (*) cúng tiến 20 quan cùng các bậc sắc dịch và khách thập phương cúng tiền cùng tu sửa mái ngói của đền chính đến 1.700 đồng. Số tiền cúng được 300 đồng, số còn thiếu do ông họ Trần tự xuất tiền của riêng ra tu sửa cho đến khi hoàn thành xin tôi viết văn. Tôi viết ông người phương Bắc đã nghĩ đến công việc hoàn thành để lại sự tích to lớn, công đức ấy thật văn minh, hiển hách một thời. Thần thiêng muôn dặm cũng ở lòng người không thể ngăn được, bèn khắc vào đá để truyền mãi về sau. Bia này người sau khi lên đình (đền) này sẽ bái lạy và nêu theo. Đó là điều ân đức vậy. Nay ghi lời từ vào bia.
 Ngày 01 tháng 9 năm Khải Định thứ 7 (1922) Thanh đồng ở Thành Nam: Vũ Xuân Lan. Mộc ân đệ tử Vũ Đức Dụ kính viết.
 
2. Bia số 2 (đền Công đồng Bắc Lệ)
 
 Phiên âm: BẮC LỆ TỪ BI KÝ
  Cung văn:
 Thiên đức Thánh mẫu, Vân Hương mẫu tú, Sùng Lĩnh chung linh, đình truy ngọc bội, ký Thiên thượng giáng sinh chi cơ. Khánh mộc để mão khẩu lưu nhân gian bất tử chi kỳ tích, lịch đại minh doanh, tứ phương ngưỡng đức.
 Quyến duy:
 Bắc Giang tỉnh, Hữu Lũng châu, Bắc Lệ phố. Công đồng linh từ cung phụng: Tam tòa Thánh Mẫu, Thượng Ngàn tiên chúa hội đồng liệt vị nại ư thượng thượng niên từ thu thảo xá lũ bị hỏa tai. Tư hữu Thanh đồng Nguyễn Thị Khoan hiệu Diệu Chính hiệp thừa phụng lệnh đầu thác. Thánh môn thiết niệm: Độc trụ bất thành, lâm đại nhất quỹ tức sơn cao nhưng lập phả khuyến khích khải thập phương tiện tín ưng cúng hằng sản trợ thành, quả phúc tương hồi tu tạo từ vũ nội ngoại các tòa tân thành hiệp khải trù chí ngân nguyên vô kể tư tưởng quan hài đại sự diệc nhất đại công đức y văn minh thời đại hiển hách. Thần quyền thiên lý tại nhân tâm bất khả dẫn một dã thụ minh vu thạch dĩ thọ kỳ truyền bi hậu nhân đăng tư bình bái yết giả hữu sở tư đồ. Tư lập bi từ thời.
Bảo Đại bát niên chính nguyệt Phúc Sinh nhật.
 
Dịch nghĩa: BIA KÝ ĐỀN BẮC LỆ số 2
  
 Kính nghe:
 Bậc thiên đức thánh Mẫu, Vân Hương thánh Mẫu, núi Sùng Lĩnh chung đúc linh thiêng, do đánh vỡ chén ngọc, Trời cho giáng sinh. Tương truyền cây gỗ tốt lưu sự tích kỳ dị, thành nhân gian bất tử, tiếng tăm lẫy lừng, muôn phương ngưỡng đức.
 Kính nghĩ:
 Đền thờ ở Phố Bắc Lệ, châu Hữu Lũng, tỉnh Bắc Giang phụng thờ Tam tòa Thánh Mẫu, Thượng Ngàn công chúa. Đền dựng bằng lá từ rất lâu lại ở mãi trên núi (ngàn) đã bị cháy. Nay có vị Thanh đồng là Nguyễn Thị Khoan hiệu Diệu Chính lòng thành xin đầu tư sửa chữa.
 Trước cửa thánh trộm nghĩ rằng: Một cây gỗ không thể thành rừng; một tảng đá to chưa thể đủ núi cao, nếu đứng ra mở rộng việc quyên góp của thiện tín thập phương bằng lòng hằng sản tâm trợ giúp thì quả phúc (công việc tu sửa) sẽ thành. Các Tòa trong ngoài của đền được sửa chữa thành mới, lại mở thêm khu nhà bếp, tiền của vô kể, muôn lòng đều vui vì công việc cung đức to lớn, văn minh và hiển hách một thời. Quyền thần muôn dặm cũng tại lòng người không sao ngăn được. Khắc tên vào đá để truyền mãi về sau. Người sau khi lên đền này thấy bia này được ân đức này vậy. Nay lập bia tại đền.
 Ngày Phúc Sinh tháng giêng năm Bảo Đại thứ 8 (1933).
 

Ghi chú:
 – Phiên âm và dịch hai bia ký này:  Hoàng Giáp (Viện Hán Nôm).
 – Trước đây Đền Công Đồng Bắc Lệ thuộc tỉnh Bắc Giang. Sau này, mới chuyển về đất của Lạng Sơn

Lịch sử tên đền Công Đồng Bắc Lệ

  Theo bạn Đỗ Tùng thì lịch sử tên gọi Đền Công Đồng Bắc Lệ như sau:
 Năm 1888, để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của mình, người Pháp tiến hành xây dựng các tuyến đường sắt từ bắc vào nam. Trong đó có tuyến đường sắt Hà Nội – Đồng Đăng. Năm 1902, tuyến đường sắt này được đưa vào khai thác. Trong quá trình thi công công trình đường sắt này, người Pháp tiến hành giải tỏa mặt bằng để xây dựng. Tất cả các ngôi đền ở trong hành lang đường sắt đều phải dỡ bỏ. Khi đó tượng pháp, đồ thờ tự, tế khí….của các đền đều được rước về tại Đền Bắc Lệ, một số khác thì rước vào các động núi gần xung quanh (như đền quan Giám Sát Lạng Sơn rước đồ thờ, tượng thánh vào động Ba Nàng, Cai Kinh ). Chính bởi vì việc này mà đền Bắc Lệ mới được nhân dân gọi là đền công đồng. Sau này, khi đường sắt xây dựng xong, các đền lần lượt xây dựng lại và rước đồ thờ của đền về sở mới. Nhưng cái tên gọi Công Đồng tồn tại trong hơn 10 năm đã trở thành 1 tên gọi quen thuộc và từ đó nhân dân đều dùng đó là tên gọi nôm của đền Bắc Lệ, gọi đủ ra là đền Công Đồng Bắc Lệ.  Tên gọi đền Công Đồng là xuất phát từ lý này.

 

Đăng bởi Để lại phản hồi

Đền Thượng Lao Cai, ngôi đền còn có tên gọi Thánh Trần Từ.

Đền Thượng Lào Cai nằm trên đồi HỏaHiệu thuộc dãy núi Mai Lĩnh thuộc phường Lào Cai, thành phố Lào Cai. Đây là ngôi đền thờ Trần Hưng Đạo Đại Vương, vì vậy, ngôi đền còn có tên gọi Thánh Trần Từ.

Nghinh Môn Đền Thượng Lao Cai

Lịch sử Đền Thượng Lao Cai

Đền Thượng Lào Cai được xây dựng vào thời Lê, niên hiệu Chính Hòa (1680 – 1705). Qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo đến năm 1996 Đền Thượng đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.

Tương truyền nơi đây, năm 1257, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã chỉ huy quân đội Đại Việt phòng thủ chống quân Trung Quốc.

Gốc đa 300 năm tuổi trên đường vào đền.

Không gian kiến trúc Đền Thượng Lào Cai

Đền Thượng Lào Cai được xây dựng theo lối kiến trúc cổ hình chữ Công (I), tuân theo thuyết phong thủy vừa đường bệ mà lại rất trang nghiêm. Khu vực đền Thượng có cảnh quan thiên nhiên sơn thủy hữu tình cùng sự kết hợp hài hòa  giữa kiến trúc truyền thống với nét văn hóa bản địa, tạo cho ngôi đền mang dáng vẻ uy nghi lộng lẫy.

Soi mình bên dòng sông Nậm Thi, nơi đây xưa có vị trí vô cùng quan trọng trong chiến lược phòng thủ chống quân xâm lược. Ngày nay, gần cửa ngõ giao thương giữa hai tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc), vùng đất linh thiêng nơi địa đầu Tổ quốc này mỗi năm đón hàng vạn lượt du khách trong và ngoài nước thăm viếng, tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc. Ngay từ khi bước chân đến cổng đền, du khách đã được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của cây đa 300 năm tuổi đang vươn cành trổ tán, dưới bóng cây cổ thụ là miếu thờ Bà chúa Thượng Ngàn (Nữ chúa rừng xanh). Tương truyền, trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bà đã góp công đánh giặc bảo vệ bờ cõi nước Nam, ghi công ơn bà, nhân dân lập miếu thờ ngay dưới gốc cây đa xum xuê cành lá.

Nghi Môn: Trước Nghi Môn của Đền Thượng Lào Cai có bức hoành phi “Văn hiến tự tại” và hai bên có hai câu đối:

Việt khí linh đài hoành không lập

Đông A hào khí vạn cổ tồn.

Có nghĩa là:

Nước Việt đài thiêng vắt ngang trời

Nhà Trần hào khí còn muôn thủa.

Mặt sau Nghi môn nội có dòng chữ “Quốc thái dân an” với hai câu đối:

Thiên địa dịu y, thiên địa cựu

Thảo hoa kim dị, thảo hoa tiền.

Có nghĩa là:

Trời đất vẫn nguyên, trời đất cũ

Cỏ hoa nay khác, cỏ hoa xưa.

Nội cung: Đền Thượng được xây dựng khang trang, tố hảo với một số gian thờ chính :

  • Cung thờ Phật Thích Ca Mâu Ni.
  •  Cung thờ Tam tòa Thánh Mẫu.
  • Ban thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo.

  •  Cung thờ Đức vua cha Ngọc Hoàng
  • Ban Chầu bà Đệ Nhị Sơn Trang.
  • Ban Thập Nhị Tiên Cô
  • Cậu Bé thủ đền.

Bên cạnh Đền Thượng Lào Cai là ngôi đình hình vuông với 4 cửa, 8 rồng chầu, giữa phương đình hình rùa vàng lưng đội bia đá khắc tích “Đức Thánh Trần”. Nơi đây trước kia là nơi nghỉ chân của các quan quân đi tuần, ngày nay, là rừng sinh thái với đủ các loại cây trồng bảo vệ môi trường, phục vụ du khách tham quan, nghỉ chân thưởng thức khí hậu trong lành.

Tháp bia tại Đền Thượng Lào Cai

Lễ hội Đền Thượng Lao Cai

Hàng năm Đền Thượng Lào Cai tổ chức lễ hội vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, chiêm bái.

Lễ hội Đền Thượng Lào Cai

Quần thể di tích tâm linh Đền Thượng Lao Cai

Đền Thượng Lào Cai nằm trong quần thể di tích tâm linh với chùa Tân Bảo, đền Am, Đền Mẫu Lào Cai, đền Cấm, đền Quan. Đặc biệt, Đền Thượng Lào Cai là một trong những ngôi đền linh thiêng được nhiều người biết đến nhất trong hệ thống các đền, chùa ở Lào Cai.

Đăng bởi

Công Đồng Bắc Lệ là công chúa La Bình, con gái của Sơn Tinh, cháu ngoại vua Hùng.

 Đền Công Đồng Bắc Lệ thuộc xã Tân Thành Huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Đền Công Đồng Bắc Lệ nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn – một trong ba vị được thờ phụng trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam. Đền nằm cách thị trấn Hữu Lũng khoảng 10 km, cách Hà Nội khoảng  80 km.
Tam Quan Đền Công Đồng Bắc Lệ

Lịch sử Đền Công Đồng Bắc Lệ

 Ở Đền Công Đồng Bắc Lệ lại lưu truyền câu chuyện Mẫu Thượng ngàn là công chúa La Bình, con gái của Sơn Tinh, cháu ngoại vua Hùng. Nàng thường cùng với cha đi chu du các bản mường, hang động, giúp cho cuộc sống dân lành được sung túc. Vào thời Lê Lợi, bà đã hiển linh, âm phù, hóa thành bó đuốc dẫn quan quân Lê Lợi thoát khỏi sự truy kích của quân giặc. Công cuộc bình Ngô đại thắng, Lê lợi lên làm vua và cho dựng đền Bắc Lệ để ghi nhớ công ơn của bà. Nếu theo tích này thì Đền Công Đồng Bắc Lệ có từ thời vua Lê Lợi.
Tam Quan Đền Bắc Lệ nhìn từ trong đền ra
 Trải qua 5 lần tu bổ và tôn tạo nhưng những kiến trúc xưa vẫn còn nguyên vẹn và mang đậm dấu ấn điêu khắc dân gian. Sự giao thoa giữa nền văn hóa Việt Nam và Trung Quốc tạo ra những nét độc đáo riêng cho Bắc Lệ. Thêm vào đó, các hàng cột bằng gỗ, liền khối vẫn còn giữ nét nguyên sơ tạo thêm cho đền sự ấm cúng linh thiêng.
 Theo văn bia khắc năm Khải Định thứ 4 (1919) thì trước đó đền chỉ là một am thờ nhỏ, sau bị hỏa hoạn, sau đó nhân dân đã cung tiến xây dựng thành một ngôi nhà 3 gian gồm 3 cung: Đệ Nhất – Đệ Nhị – Đệ Tam (cung cấm) ngôi đền mang bóng dáng nghệ thuật kiến trúc điêu khắc Trung quốc. Sau nhiều lần trùng tu, tu bổ ngôi đền mới được khang trang như ngày hôm nay.
 Đền Công Đồng Bắc Lệ đã được tỉnh Lạng Sơn xếp hạng di tích lịch sử tâm linh vào năm 1992.

Không gian kiến trúc Đền Công Đồng Bắc Lệ

 Từ dưới chân đồi đi lên, chúng ta đi qua cổng Tam Quan uy nghi,  tráng lệ chúng ta sẽ bước vào không gian đền.  Bên trái đền là miếu Chầu Bé Bắc Lệ. Trước kia, miếu thờ Chầu Bắc Lệ ở một khoảnh đất bằng phẳng sát bờ suối Bắc Lệ, nay mới chuyển lên đây. Trong miếu có tượng Chầu Bé và tượng Cô Bé Bắc Lệ và tượng Cậu Bé Bắc Lệ. Đây là hai cô cậu hầu cận của Chầu Bé.
Mùa xuân về lễ Đền Công Đồng Bắc Lệ
 Bất kỳ ai muốn lên chiêm bái, cầu đảo Mẫu Thượng Ngàn nơi đâu đều phải thắp hương ở miếu Chầu Bé để xin Chầu có lời tâu đối lên Cửa Mẫu cùng chư thánh tại đền.
 Sau khi thắp hương ở miếu Chầu Bé, ta đi thêm khoảng chục bậc thang nữa là lên đến đền chính. Đền chính được xây theo kiểu chữ Đinh gồm tiền tế và hậu cung, đền mới được xây mới lại nhưng vẫn giữ được nét uy nghi và phong cách kiến trúc cũ.
 Trên mái đền chính có đắp “Long triều lưỡng nghi”. Lưỡng nghi tượng trưng cho trời và đất, âm và dương, âm dương hài hòa sẽ sinh vạn vật.             Nhà bái đường gồm 5 gian. 3 gian ngoài thờ Ngũ Vị Tôn Quan.  Phía trên cung thờ Ngũ Vị  tôn Quan là bức hoành phi đề: “Hưng Tiên Hiền Từ”. Hai bên thờ đôi câu đối:
Quốc sắc thiên hương nhân gian thánh nữ
Băng cơ ngọc cốt thế thượng thần tiên.
  Tạm dịch:
Sắc nước hương trời nhân gian thánh nữ
Mặt hoa da phấn thượng giới thần tiên.
 Cung đệ nhị thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế. Tượng Ngọc Hoàng đặt trang trọng ở chính giữa, hai bên có tượng quan Nam Tào – Bắc Đẩu đứng hầu. Phía trước ban thờ Ngọc Hoàng là Ban Tứ Phủ Thánh Hoàng với tượng Thánh Hoàng Bảy, Thánh Hoàng Mười.

Giá trị tâm linh của Đền Công Đồng Bắc Lệ

 Đền Công Đồng Bắc Lệ được coi là một trong ba nơi thờ chính của Mẫu Thượng Ngàn. Ba nơi thờ chính của Mẫu Thượng Ngàn là  Đền Mẫu Đông Cuông, Đền Suối Mỡ, Đền Công Đồng Bắc Lệ.
 Căn cứ theo truyền thuyết và các bản văn chầu thì Đền Công Đồng Bắc Lệ chính là nơi Mẫu Thượng Ngàn hiển linh, âm phù; Đền Suối Mỡ là thắng tích lưu lại dấu vết bà tu tiên luyện đạo còn Đền Đông Cuông là nơi bà giáng sinh và ngự.
 Đền Công Đồng Bắc Lệ còn là nơi thờ chính của Chầu Bé. Một vị thánh chầu nổi tiếng trong Tứ Phủ Chầu Bà.  Tương truyền Chầu Bé là vị thánh chầu luôn hầu cận bên Mẫu Thượng Ngàn. Chính vì thế, khi đến Đền Công Đồng Bắc Lệ, chúng ta thường phải khấn tấu Chầu trước khi vào lễ Mẫu.

Thần tích Mẫu Thượng Ngàn tại Đền Công Đồng Bắc Lệ

   La Bình Công chúa là con gái của Sơn Tinh (tức Tản Viên Sơn Thánh) và Mỵ Nương. Tức La Bình là cháu ngoại của Vua Hùng. Lúc còn nhỏ, La Bình thường được cha cho đi cùng, đến khắp mọi nơi, từ miền núi non hang động đến miền trung du đồi bãi trập trùng để dậy dân săn bắn, chăn nuôi, trồng cây, cấy lúa, làm nhà, làm thuốc chữa bệnh… Đó luôn luôn được theo cha như thế nên La Bình cũng học hỏi được rất nhiều điều. Vốn thông minh sáng dạ, lại chăm chỉ thực hành nên việc gì La Bình cũng biết, cũng giỏi. Những khi Sơn Tinh bận việc hay không thể đi khắp những nơi mà dân chúng cần đến thì La Bình thường được cha cho đi thay. Những lần như thế, La Bình luôn tỏ ra là một người đầy bản lĩnh, biết tự chủ trong giao tiếp, lại cũng biết thành thạo trong mọi công việc. Các sơn thần, tù trưởng đặc biệt quý trọng nàng, coi nàng là người đại diện xứng đáng của Sơn Thánh. 
 Khi Tản Viên và Mỵ Nương, theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế trở về trời thành hai vị thánh bất tử thì La Bình cũng được phong là Công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả 81 cửa rừng và các miền núi non hang động, các miền trung du đồi bãi trập trùng của nước Nam.

Thần tích Chầu Bé Bắc Lệ

 Nhiều tài liệu cho rằng: Chầu Bé Bắc Lệ vốn gốc người Nùng, dưới thời Lê Thái Tổ, chầu giáng sinh xuống miền Bắc Lệ, Lạng Sơn.   Chầu Bé nơi đây chính là Mẫu Thượng Ngàn hóa thân, giúp vua Lê Thái Tổ trong cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh. Như vậy, Chầu Bé có thể là một nhân vật có thật tại vùng này, có công giúp vua Lê Lợi chống giặc.
 Chầu Bé Bắc Lệ thường dạo chơi khắp chốn thắng cảnh hữu tình, dạy dân chúng trồng trọt chăn nuôi, lên rừng làm ruộng bậc thang, xuống sông suối đánh bắt cá tôm. Tương truyền, Chầu Bé có phép thần thông do Đức Thái Tổ ban quyền có thể lay núi chuyển ngàn, đôi lúc rong chơi chầu lấy tàu lá giả làm hàng bán để trêu đùa người trần gian. Tuy đành hanh sắc sảo nhưng chầu cũng hết sức nhân hậu, có việc dữ lành chầu đều mách bảo cho người trần.
Cung Chầu Bé Bắc Lệ
 Chầu Bé cùng với Chầu Đệ Nhị và Chầu Lục, là một trong ba vị Chầu Bà trên Thượng Ngàn hay về ngự đồng nhất.
 Đền thờ chính của Chầu Bé là ngôi miếu nhỏ bên cạnh Đền Công Đồng Bắc Lệ.

Lễ hội Đền Công Đồng Bắc Lệ

 Lễ hội chính của Đền Bắc Lệ được tổ chức vào ngày 20/9 âm lịch. Nhưng hiện nay với sự độc đáo của phong cảnh sơn thủy hữu tình cũng như sự linh thiêng của ngôi đền nên Đền Công Đồng Bắc Lệ lúc nào cũng đông khách thập phương đến vãn cảnh, hành lễ như lễ hội.
 Lễ hội gồm có các phần lễ chính như lễ tắm ngai, lễ chính tiệc, lễ rước. Lễ tắm ngai diễn ra trước lễ rước. Trong đó, người dân lấy nước suối đền Bắc Lệ về lau tượng Mẫu đệ nhất Thượng ngàn và ngai đức vua cha Ngọc Hoàng. Lễ chính tiệc bao giờ cũng có cỗ tam sinh làm vật hiến tế. Ngoài ra, còn có nhiều đồ lễ mã khác như voi, ngựa, thuyền, mũ, hình nhân. Cỗ tam sinh dâng ban Công Đồng, ban Ngũ vị Tôn Ông, cỗ chay (có khi cả mặn) ban cho Mẫu. Sau đó, lễ rước Mẫu đi xem hội trong tiếng chiêng, trống rộn ràng. Đoàn rước đến đền Đèo Kẻng (một di tích liên quan đến đền Bắc Lệ) làm đại tế. Đại tế ở Đền Đèo Kẻng xong mọi người quay về làm đại tế đền Công Đồng Bắc Lệ.
Đăng bởi

Cậu bé Lệch

Cậu bé Lệch được thờ tại Đền Trần Hưng Đạo bên Hồ Thùm Thùm – Khu Du lịch Tâm Linh Suối Mỡ. Cậu bé Lệch được thờ tại một cung mẫu tại đền. Trước đây, đền nằm dưới lòng hồ Thùm Thùm. Khi Nhà nước cho xây dựng hồ thì Đền được di chuyển  xây dựng mới trên đồi cao.

Sau khi đến Đền Hạ, vượt qua Đền Trung, Đền Thượng của khu Suối Mỡ chúng ta đi thêm cỡ 2 km là đến Đền Quan Trần Triều.  Đền Quan Trần Triều. Điểm thú vị là đến được Đền thì chúng ta cần tự kéo đò qua hồ mà không phải chèo đò đâu nhé.

Đền tọa lạc trên lưng một quả núi nhìn xuống hồ Thùm Thùm nước trong xanh biếc tạo nên một phong cảnh sơn thủy hữu tình hiếm có. Đây được coi là một ngôi đền thiêng.

Truyền thuyết về Cậu bé Lệch

Tương truyền: Cậu Bé Lệch là con vua Hùng khi sinh ra miệng cậu bị lệch và tay cũng bị khèo nên nhà vua sợ nên đã thả bè trôi sông. Sau khi mất, cậu ngự về vùng đất này. Nghe nói cậu rất linh thiêng. Trước đây, tại ngôi đền cũ chỉ có hai tấm bia thờ trần Hưng Đạo và thờ Cậu. Khi lên chỗ mới, đền trần được Nhà nước xây khang trang còn cung thờ Cậu chưa có.

Cung thờ Cậu được xây dựng là công đức của một gia đình ông Phạm Quý Tiêu và một thanh đồng Nguyễn Thị Mai theo linh ứng báo mộng của Cậu.

Đến cậu có thể xin công danh, tài lộc và nhân duyên. Cậu rất nổi tiếng linh thiêng. Vì thế lúc nào cung thờ Cậu Bé Lệch lúc nào cũng đầy đồ chơi, kẹo bánh do mọi người dâng Cậu.

Sưu tầm

Đăng bởi

Phủ Quảng Cung nơi Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh lần thứ nhất

Phủ Quảng Cung thuộc xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnh Nam Định. Phủ Quảng Cung còn gọi là Phủ Nấp. Phủ Quảng Cung, nơi Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh lần thứ nhất nằm cách quần thể du lịch tâm linh Phủ Giầy khoảng 15 km.

Phủ Quang Cung đã được cấp Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc giá năm 2009, được Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam trao bằng bảo trợ di sản năm 2011.

Phủ Quảng Cung coi như cái nôi của Đạo Mẫu Việt Nam. Nơi đây ghi nhận lần giáng sinh thứ nhất của Mẫu Liễu Hạnh – Một chốn linh thiêng cỡ bậc nhất Việt Nam mà hiện nay mọi người còn ít biết đến, có lẽ vì giá trị tâm linh của Phủ Quảng Cung mới được phát hiện rất gần đây.

Lịch sử Phủ Quảng Cung

Ngôi đền phủ hiện nay, theo Quảng Cung linh từ phả ký thì có sớm nhất vào niên hiệu Hoằng Định, năm 1601, nhưng đến năm 1741, thì ngôi đền được hưng công từ ngày 2 tháng 8 đến 15 tháng chạp thì xong. Có lẽ trước khi hưng công, ngôi đền phủ còn sơ sài, vốn trên nền đất cũ của Tiên Chúa để lại sau khi về trời.
Phủ được tu sửa nhiều lần, đến năm Duy Tân thứ năm (1911) được tôn tạo to đẹp và trang nghiêm. Do tác động của thiên nhiên, giặc dã và chiến tranh, Phủ bị xuống cấp nghiêm trọng. Năm 1994, Phủ Quảng Cung dưới sự chủ trì của Thủ Nhang Vân được phục dựng lại trên nền đất phủ xưa bằng nguồn kinh phí của tỉnh, huyện, xã và sự tri ân công đức của nhân dân địa phương cùng quý khách thập phương.

Cổ vật của Phủ Quảng Cung

Hiện nay trong phủ còn giữ lại được nhiều đồ tế tự tiêu biểu:
– Tượng Mẫu Phạm Thị Tiên Nga bằng đồng với tư thế ngồi thiền trên toà sen, bát hương bằng đồng, thân chạm lưỡng long chầu nguyệt mang phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê và khắc chữ Hán Quảng Cung linh từ;        – 64 bản khắc gỗ có nội dung của 64 quẻ thẻ, một hiện vật quý hiếm và một số bia đá, sắc phong hoành phi, câu đối ghi dấu sự tích và ca ngợi công đức của Mẫu từ lâu đời.

Thần tích Mẫu Liễu Hạnh gắn liền với Phủ Quảng Cung và lần giáng sinh lần thứ nhất

Theo thẩm định của Hội đồng khoa học lịch sử Nam về sự tích bà Phạm Tiên Nga (Thánh Mẫu Liễu Hạnh” như sau:

” Vào đầu thời Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vị Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam có ông Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấp Nhuế Duệ, cũng xã Vị Nhuế (nay là thôn Vi Nhuế, xã Yên Đồng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định).

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi dã ngoài 40 mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con. Từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1462) thân phụ của nàng qua đời. Hai năm sau mẫu thân của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng ( nay là thôn La Ngạn. ở đây có đền thờ Phụ thân và Mẫu thân của Phạm Tiên Nga).

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện (Lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi).

Bà đã ủng hộ tiền của và công sức giúp đân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia phía núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tịch Nhi (nay chính là đường đê Ba Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng. Đây cũng chính là con đường nối di tích Phủ Dày với Phủ Quảng Cung.

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dậy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Năm 36 tuổi, Bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ thân phụ và thân mẫu.

Sau đó hai năm, Bà tới tu sửa chùa Sơn Trường -ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán , lập ra làng xã, dậy dân trồng dâu, nuôi tằm , dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1472), Bà trở lại chùa Kim Thoa, và tháng 9 năm ấy, Bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế ( nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn*). Sau đó Bà lại đi chu du ở trong hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Rồi trong đêm ngày 2 tháng 3 năm Quý Tỵ, thời Hồng Đức (1473), trời nổi cơn giông, gió cuốn, mây bay, Bà đã hoá thần về trời. Năm đó Bà vừa tròn 40 tuổi.

Ngay sau khi Bà mất, nhân dân xã Vi Nhuế đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Quảng Cung, tôn Bà làm Phúc thần, với Duệ hiệu là “Lê Triều Hiển Thánh, Tầm Thanh Cứu khổ, Tiên Nga tôn thần” ,

Theo “Vân Hương Thánh Mẫu tam thế giáng sinh sự tích”: Thánh Mẫu Liễu Hạnh” giáng sinh lần thứ nhất vào đêm mùng 6 tháng 3 năm Giáp Dần (1434) thời Lê Thái Tông, hoá thân đêm mùng 2 tháng 3 năm Quý Tỵ (1473) thời Hồng Đức thứ tư tại ấp Quảng Nạp, tổng Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, (Nam Định).

Giá trị tâm linh của Phủ Quảng Cung

Phủ Quảng Cung gắn liền với lần giáng sinh lần thứ nhất của mẫu Liễu Hạnh. Rất tiếc, mặc dù Phủ Quảng Cung chỉ nằm cách Phủ Dầy chỉ có 15 km, nhưng đường đi có hơi chật hẹp nên khách du lịch tâm linh ít đến lễ hoặc là không đến vì không biết. Mặt khác, tháng 9-2009, các tư liệu về thần tích ngôi đền mới được nhà nước chính thức công nhận đây chính xác là nơi thờ Mẫu Liễu giáng sinh lần thứ nhất. Việc này mới, khiến tên tuổi ngôi đền này còn chưa nhiều người biết đến. Hiện nay, người ta chủ yếu biết đến Mẫu Liễu Hạnh với lần giáng sinh lần thữ hai của Mẫu tại vùng Phủ Dầy. Hiện nay, Phủ Tiên Hương trong quân thể di tích tâm linh Phủ Dầy đã quá nổi tiếng khiến các con nhang đệ tử hình nhưa quên mất một chốn linh thiêng của Mẫu tại Quảng Cung.

Theo quan điểm của người viết, thì cuộc đời của một con nhang, đệ tử của Tứ Phủ mà chưa đến được đây ít lần một lần trong đời thì coi như tâm nguyện đến với Mẫu Liễu Hạnh vẫn còn chưa đủ.

Giá trị tâm linh của Phủ Quảng Cung đã được các nhà sử học như Giáo Sư Lê Văn Lan, Nhà nghiên cứu Đạo Mẫu Giáo Sư Ngô Đức Thịnh,  Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam… khẳng định.

 T

Đăng bởi Để lại phản hồi

Đền Cửa Ông thờ phụng Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng

  Đền Cửa Ông thuộc địa phận phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Đền Cửa Ông thờ phụng Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng cùng nhiều nhân vật nổi tiếng thời nhà Trần.
Đường lên Đền Thượng khu Đền Cửa Ông

Đền Cửa Ông là ngôi đền duy nhất ở Việt Nam thờ đầy đủ tượng gia thất Trần Quốc Tuấn và các tướng lĩnh nổi tiếng của Ngài.  Đó là các tượng của Trần Quốc Tuấn, tượng Thánh Mẫu (vợ ông) 2 cô công chúa (con ông), Trần Quốc Tảng, vua Trần Anh Tông cùng các tướng nổi tiếng Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Lê Phu Trần, Đỗ Khắc Trung,… Sở dĩ nơi đây có phối thờ vua Trần Anh Tông là vì Trần Quốc Tảng là bố vợ của Trần Anh Tông.  Chính vua Trần anh Tông đã phong Trần Quốc Tảng là Hưng Nhượng Đại Vương.
Tượng Trần Quốc Tảng tại Quảng trường Trần Quốc Tảng
Đền Cửa Ông cùng với Đền Cặp Tiên thờ Cô Bé Cửa Suốt tạo thành một quần thể tâm linh thờ nhà Trần tại vùng đất kinh thiêng này. Cô bé Cửa Suốt cũng chính là con gái của Trần Quốc Tảng. Cô rất có công giúp Trần Quốc Tảng đánh giặc, gìn giữ biên cương, vùng biển của tổ quốc.
Đường lên khu Đền Thượng

Lịch sử tóm tắt về Đức Ông Trần Quốc Tảng

 
 Trần Quốc Tảng là con thứ ba của Trần Hưng Đạo. Ông có tài chiến đấu, nhưng là người có cá tính riêng, đã làm cho cha phải bất bình, đày ông ra trấn thủ tại Cửa Suốt. Đền Cửa Ông xưa kia là nơi đóng quân bảo vệ biên cương, vùng biển của Trần Quốc Tảng và cũng là nơi Ngài hóa.
Không gian phía trước Đền Thượng đó là quảng trường, bãi xe và khu Đền Hạ
   Truyền thuyết kể rằng: Vì mối hận riêng với vua Trần nên An Sinh Vương Trần Liễu từng trăng trối với Trần Quốc Tuấn là phải lấy được thiên hạ. Sau này, Trần Quốc Tuấn đem hỏi gia tướng và các con ý này, mọi người đều can ngăn. Riêng Trần Quốc Tảng lại bảo: “Tống Thái Tổ là một ông lão làm ruộng mà thừa cơ dấy vận có được thiên hạ”. Trần Quốc Tuấn giận, rút gươm định chém, nhờ Quốc Nghiễn xin tha mới thôi…Trong sử sách có ý kiến cho Trần Quốc Tảng vì thế bị “đày” ra trấn ải vùng Cửa Suốt.
Khu nhà bia ghi danh công đức
 Thế nhưng có nhà nghiên cứu cho rằng: Cửa Suốt là khu vực trọng yếu mà lại rất xa, nếu bất trung mà đuổi ra đây thì không xác tín, mà phải rất tin tưởng mới cử ra, lại phải tài, đại tài nữa.
Trước của Đền Thượng lúc nào cũng đông nghịt.
 Quả thực, lúc sinh thời, khi định công dẹp giặc Nguyên, ông được phong làm Tiết độ sứ, chức quan võ rất to; con gái trưởng được lập làm phi cho thái tử, sau trở thành hoàng hậu của vua Trần Anh Tông. Sau khi mất, ông được truy tặng làm Thái úy (vương triều Trần chỉ có 5 người được phong chức này). Ông cũng từng được phong Đại tướng – tước vị cao nhất dành cho tôn thất nhà Trần, sau khi ông không quản “tuổi cao, sức yếu” cầm quân dẹp phản loạn.
Khu Chùa Thượng kế bên Đền Thượng
 Như vậy cho thấy ông có vị trí đặc biệt trong triều đình nhà Trần từ đời vua Trần Anh Tông trở về sau.  biên viễn.
  Dân gian nơi đây còn truyền tụng về sự hóa của Ông: Một ngày tại biển Cửa Suốt, tự nhiên trời mưa to gió lớn sấm sét nổi lên ầm ầm. Ông đang đi tuần trên biển, thấy có một phiến dã to nổi lên, liền ngang nhiên ngồi lên trên đá. Sóng nổi cuồn cuộn, mực nước dâng lên cao  nhưng phiến đã vẫn nổi trên mặt nước, chở che ông đi, đè đầu những ngọn sóng. Khi mưa gió yên, dân chúng không thấy ông đâu nữa, mà trên phiến đá chỉ có một cái mũ, liền rước về thờ, lập miếu và tâu lên triều đình. Đó là ngày 16 tháng 8 năm 1311, từ đó ngày này được xem là ngày hóa của ông.
Lăng mộ Trần Quốc Tảng phía sau Đền Thượng
 Theo các nhà nghiên cứu thì cho rằng Ngài hóa chính tại mảnh đất của ngôi đền này. Còn câu chuyện trên chỉ là dân gian thần thánh hóa về Ngài.

Lịch sử đền Cửa Ông

 Vị trí Đền Cửa Ông ngày nay, trước đây là Miếu Hoàng thờ Hoàng Cần, người địa phương có nhiều công đánh giặc cướp, được các triều vua phong “Khâm sai Đông Đạo Tiết chế”. Sau khi Trần Quốc Tảng mất, vua Trần Anh Tông đã cấp tiền cho dân chúng lập đền thờ Ông tại nơi đây.
Một góc quảng trường dưới chân Đền Thượng
 Như vậy, Đền Cửa Ông có từ thời vua Trần Anh Tông. Đến đầu thế kỷ 19, ngôi đền đã được trung tu mở rộng với ba khu: Đền Hạ, Đền Trung và Đền Thượng. Đền Hạ và Đền Trung đã bị bom Mỹ phá hủy. Đền Hạ đã được phục dựng đã lâu, đền Trung mới được phục dựng lại gần đây.

Không gian kiến trúc, tâm linh đền Cửa Ông

 Cụm di tích Đền Cửa Ông gồm 3 khu:
 – Khu Chùa Hạ, đền thờ Trung Thiên Long Nữ (đền Hạ)
 – Khu Đền Cửa Ông: Gồm Đền Trung và Đền Thượng, chùa Thượng, lăng mộ Trần Quốc Tảng.
 – Khu Quảng trường Trần Quốc Tảng.
 Trước đây, khu chùa Hạ – đền Trung Thiên Long Nữ và khu Đền Cửa Ông được tách riêng biệt với nhau. Hiện nay, cả hai khu này được thống nhất làm một, tạo thành quần thể di tích Đền Cửa Ông.
Đền Trung mới được xây dựng dưới chân Đền Thượng
  Đền Cửa Ông được quy hoạch lại tạo nên một không gian rộng rãi, thoáng đãng, không còn hàng quán như ngày xưa. Con đường ngày xưa ngay phía sau lưng Đền Cửa Ông đã bịt lại. Một con đường nhựa rộng rãi khác vòng qua nơi Quảng trường Trần Quốc Tảng đi đến trước mặt ngôi đền được xây dựng.
Một góc Quảng trườngTrần Quốc Tảng
 Hiện nay, các hàng quán vàng mã bên con đường xưa kia, trong  sân đền cũng đã được dẹp bỏ. Vì vậy, khu đền đã rộng rãi càng thêm thoáng đạt, tĩnh mịch, linh thiêng. Đến nơi đây, chúng ta cảm thấy tâm hồn bồng bềnh trong một không gian thư thái, êm đềm.
Một góc Quảng trường Trần Quốc Tảng
Khu Đền Thượng tọa lạc trên một ngọn đồi cao khoảng 100 mét nhìn xuống vịnh Bái Tử Long. Hai bên có hai ngọn đồi nhỏ hộ vệ, phù hợp với quy tắc Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ, sau lưng đền là dãy núi xanh chạy dài qua Cẩm Phả, Mông Dương.
 Phía trước đền Thượng là một quảng trường với một tam quan sừng sững cùng khu Đền Hạ.
 Bên phải khu đền Thượng là quảng trường Trần Quốc tảng với tượng của Trần Quốc Tảng uy nghi giữa trời xanh.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Bản văn : Chầu Năm Suối Lân

ĐỆ NGŨ THÁNH CHẦU SUỐI LÂN TIÊN CHÚA VĂN

Non xứ Lạng sơn lâm hùng vĩ
Đền Suối Lân cảnh trí phong quang
Nhang thơm tấu đến tòa vàng
Chầu Năm Sông Hóa đáo đàn chứng đây
Nhang thành kính tỏ bày một nén
Khói ngạt ngào thấu đến cửu thiên
Chính tòa Sông Hóa Chúa Tiên
Thánh Chầu đệ ngũ giáng đền chứng tâm
Đất Sơn Lâm quyền Chầu cai quản
Khắp thượng ngàn Xứ Lạng Tam Thanh
Suối Lân, Sông Hóa quyền hành
Thổ nùng thổ mán phục tình phải theo
Non đá mèo suối khe vực thẳm
Núi đá vôi rừng cấm vào ra
Nhờ ơn Đệ Ngũ Thánh Bà
Ơn bà bảo hộ gần xa an lòng
Khắp làng bản người nùng người thổ

Độ bốn mùa mưa gió hanh thông
Dạy dân phát rẫy vun trồng
Nếp nương khoai sắn thơm lừng gần xa
Dạy dân bản hái hoa làm thuốc
Gỗ cây rừng, thảo dược kỳ tâm
Ngược xuôi mộ đức mến ân
Chầu Năm sông Hóa Suối Lân thượng ngàn
Ngọc như ý soi đàng dẫn lối
Thuyền từ bi đưa khỏi sông mê
Suối Lân cảnh vật bốn bề
Thuyền từ Sông Hóa chèo về Lạng Sơn
Qua Kiệt Cùng rập rờn sóng nước
Lên Đồng Đăng biên giới Bắc Nam
Có phen chính ngự sơn trang

Bài sai thập nhị tiên nàng tới nơi
Chuông ba tiếng một hồi trống giục
Bộ sơn thần chầu phục đôi bên
Bách hoa chư vị nàng tiên
Hoa lan hoa huệ hoa sen hoa hồng
Hoa sim tím ngập ngừng e lệ
Hoa mận đào hoa quế hoa ban
Trăm hoa trăm sắc vẻ vang

Thanh tân yểu điệu dịu dàng tốt thay
Kim chúng đẳng nhớ ngày kị tiệc
Đôi mươi tròn ngũ nguyệt tháng năm
Tâm thành tấu khúc ca văn
Nguyện xin tiên chúa lai lâm độ trì

Tâm kính lễ tâu quỳ trước án
Nguyện xin Chầu lai giáng từ trung
Ban ân tiếp lộc cho đồng
Khuông phù đệ tử thọ trường

Đăng bởi Để lại phản hồi

ĐỀN MẪU KỲ ANH thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu

Đền Mẫu Kỳ Anh thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu. Đây là một di tích lịch sử, đã được dựng lên cách đây trên sáu trăm năm tại xã Kỳ Ninh – Kỳ Anh – Hà Tĩnh.

   Bà Nguyễn Thị Bích Châu là một nhân thần, một nhân vật lịch sử có thật

Năm 1991, Bộ VHTT đã ra quyết định công nhận và xếp hạng Đền thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu là Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia.
Ngôi đền bà Nguyễn Thị Bích Châu là một chứng tích hùng hồn trong lịch sử Việt Nam. Chính ở nơi này, cửa biển hải khẩu, cách đây 628 năm đã xẩy ra một cuộc giao tranh giữa quân đội nước Đại Việt đời Trần với những thế lực gây hấn ở Phương Nam, khiến cho nhà trần suy thoái. Cuộc chiến đã chứng kiến một thất bại của quân đội vua nhà Trần, nhưng bù lại đã mang vào lịch sử Việt Nam một tấm gương hy sinh cao cả.

Bà Nguyễn Thị Bích Châu là một người tài giỏi

Bà Nguyễn Thị Bích Châu là người phụ nữ Việt Nam có công thảo ra 10 kế sách (Kê Minh Thập Sách) giữ nước dâng vua trong lúc chính sự đất nước đang suy yếu.
– Giữ cội gốc của nước trừ hà b ạo thì lòng ng ười yên vui.
– Giữ nếp cũ, bỏ phiền nhiễu thì kỷ cương không rối.
– Nén chặt kẻ chuyên thần, để ngăn ngừa chính sự mọt nát.
– Phải bớt kẻ lũng lạm, để trừ tệ khoét đục của dân.
– Cổ động nho phong, khiến cho lửa bó đuốc với ánh mặt trời cùng soi sáng.
– Mở đường cho người nói th ẳng, để cho cửa thành cùng với đường cùng can gián mở toang.
– Kén quân, nên chú trọng vào dũng lực cao lớn.
– Chọn tướng, nên cần người thao lược mà không c ăn cứ vào thế gia.
– Khí giới quý hồ bền chắc không chuộng hình thức.
– Trận pháp cốt cho chỉnh tề, cần chi điệu múa.

 Lịch sử về Bà Nguyễn Thị Bích Châu và sự ra đời của ngôi đền

Chuyện kể rằng: Vua Trần Duệ Tông có một nàng cung phi là Nguyễn Thị Bích Châu. Năm 1377 sau khi lên ngôi được 4 năm, Trần Duệ Tông có ý muốn đem quân đi chinh phạt nước Chiêm Thành. Nhiều người khuyên can song vua không nghe. Bích Châu biết vua không nghe lời nói thẳng, bèn làm một bài biểu dâng lên. Nhưng bài biểu không được vua nghe. Cuối cùng bà xin vua được theo hầu, và được vua và triều đình chấp nhận.

Duệ Tông thân chinh cất quân đánh Chiêm Thành, đạo quân của triều đình được chia làm ba cánh quân trống giong, mở cờ tiến thẳng tới biên thuỳ. Vua Trần cho quân tiến thẳng vào cửa biển Thị Nại và đóng quân ở động ỷ Mang. Năm ấy là năm Đinh Tỵ (1377).
Cuộc hành quân và chiến đấu đã diễn ra không được thuận lợi. Cả vua Trần Duệ Tông và bà Nguyễn Thị Bích Châu đều không được trở về. Cái chết của bà Bích Châu có hai thuyết: Bà đã tự nguyện xin làm vật hiến tế, nhảy xuống sông và bà bảo vệ vua trong cuộc chiến và bị trúng tên tẩm độc mà chết. Nhưng theo thuyến nào, thì vẫn có một sự thực là Nguyễn Thị Bích Châu đã vì vua, vì nước mà hy sinh giữa cuộc hành quân, ngay ở cửa biển Kỳ Hoa.
Triều đình đã xuống chiếu cho an táng bà tại làng Hải Khẩu, và lập thêm miếu thờ vọng tại chân núi Mũi Dòn, tức là đền Eo Bạch ở Vũng Áng ngày nay, để muôn đời hương khói. Đền Chế Thắng phu nhân đã ra đời từ đó.

Năm 1470, niên hiệu Hồng Đức thứ nhất, vua Lê Thánh Tông lại ngự giá thân chinh cất quân đi chinh phạt Chiêm Thành. 26 vạn đại quân Đ ại Việt theo đường biển thẳng về Phương Nam qua cửa biển Kỳ Hoa. Tới đây, vua Lê Thánh Tông cho quân sỹ dừng lại trú quân. Phong cảnh nơi đây thật là huyền ảo làm cho Lê Thánh Tông cảm thấy có gì là lạ, khang khác… Nhà vua bèn xuống thuyền đích thân tìm hiểu, khám phá.
Trong lúc du ngoạn ngắm cảnh trời – đất, nhà vua phát hiện thấy có miếu thờ nằm bên bờ sông gần Cửa Khẩu. Hỏi kỹ dân địa phương, nhà vua mới biết, cách đây 100 năm, quý phi Nguyễn Thị Bích Châu cùng vua Trần Duệ Tông cất quân đi chinh phạt Chiêm Thành đã tử trận và được mai táng lập miếu thờ tại đây.
Vua bèn cho triệu các vị bô lão, chức sắc bản xứ đến để hỏi cho minh bạch. Các vị bô lão và chức sắc bản xứ đã dâng bản sự tích Trần Triều lên Lê Thánh Tông. Vua Lê Thánh Tông xem xong khen rằng: ” đúng là nữ trung hào kiệt” lâu nay còn khuất ẩn ở chốn này mà triều đình lãng. Sau đó, Lê Thánh Tông hạ lệnh cho soạn đồ tế lễ, đích thân ngự giá vào dâng hương và viết 4 chữ ” Nữ trung hào kiệt” dán lên bài vị và nói” “Tiền triều, người là bậc cứu quốc anh hùng vì nước, vì vua mà bị vong thân, nay Ta cũng vì nước bảo toàn bờ cõi mà đi dẹp giặc, có linh thiêng thì giúp Trẫm kỳ khai dắc thắng, mã đáo thành công, khi ban sư về triều, Trẫm sẽ khởi công lập miếu thờ phong tặng”.

Đêm đó, được mộng lành, vua Lê Thánh Tông liền cho xuất quân. Khi thắng trận trở về đến đất Kỳ Hoa, vua cho quân đến trú tại Cửa Khẩu, sai quân sỹ vào rừng chặt gỗ, đào đá gọt thành từng viên, huy động thợ giỏi cùng dân chúng địa phương xây lại lăng mộ và 3 toà điện để dân chúng ngày ngày thờ phụng, hương khói. Vua Lê Thánh Tông ngự bút viết: “Chế Thắng Đ ại Vương Thượng Đ ẳng Thần” và tự mình làm một bài thơ chữ Hán đề lên vách đền.
Tưởng nhớ vị ” Nữ trung hào kiệt”, các triều đại phong kiến Việt Nam đã có sắc phong Đền thờ Nguyễn Thị Bích Châu là ” Chế Thắng phu nhân” và ngôi đền nhiều lần được nhân dân trùng tu xây dựng cho đến nay.
Cứ đến ngày 12 tháng 2 âm lịch, nhân dân địa phương và đạo hữu gần xa đã hành hương về đền thờ Thánh Mẫu
Đến huyện lỵ Kỳ Anh, đi về hướng đông theo con đường liên xã, hay xuôi theo dòng sông Trí khoảng 7 – 8km, tới thôn Hải Khẩu (xã Kỳ Ninh), sẽ thấy một ngôi đền cổ kính. Đó là đền thờ Nguyễn Thị Bích Châu, còn gọi là đền Bà H ải, đền Hải Khẩu, hay đền Chế Thắng phu nhân, cung phi vua Trần Duệ Tông, một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn.
Nguyễn Bích Châu quê ở xã Bảo Lộc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định con gái đại thần Nguyễn Tướng Công một ông quan rất mực thanh liêm. Từ nhỏ được sự dạy dỗ chu đáo nên khi tr ưởng thành đ ã trở thành ng ười văn võ toàn tài. Đến năm Long Khánh thứ nhất (1373) nàng được Trần Duệ Tông tuyển làm cung phi. Nh ưng lúc bấy giờ chế độ phong kiến nhà Trần suy vong chính sự đổ nát nhân tài không được trọng dụng, cung phi Nguyễn Thị Bích Châu bèn th ảo bản  Kê minh thập sách dâng lên nhà vua và được vua khen là thông tuệ. Năm 1377 nhà vua đem quân đi đ ánh Chiêm Thành, trước khi đi Bích Châu làm tờ biểu can ngăn nhưng vua không nghe nên nàng xin theo hộ giá. Khi quan quân nhà Trần đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn) vua Chiêm là Chế Bồng Nga cho sứ giả đem vàng ngọc tới quan quân ta để trá hàng, nhưng sau đó l ại bất ngờ tiến đ ánh vào lúc nửa đêm. Quân của Trần Duệ Tông bị tấn công bất ngờ, long thể nhà vua l ại bất an, Nguyễn Thị Bích Châu c ưỡi ngựa tả xung hữu đột cầm quân xung trận và không may bị trúng tên độc sau đó từ trần. Ba ngày sau vì bệnh quá nặng nhà vua cũng băng hà, quân nhà Trần rút về kinh đ ô khi tới địa điểm Châu Hoan vì sóng to gió lớn tàu thuyền phải ghé vào vũng Ô T ôn (Vũng áng). Lúc này vua Trần Đế mới lên ngôi nghe tin liền xuống chiếu rước linh cữu nhà vua về bằng đường bộ còn linh cửu quý phi đi bằng đường biển. Sau mấy ngày thời tiết không thuận lợi triều đ ình xuống chiếu cho an táng Quý phi t ại Cửa Khẩu, bến Kỳ La huyện Kỳ Hoa thuộc Châu Hoan. N ăm 1470 trong lần đem quân đi đ ánh Chiêm Thành giành chiến thắng trở về vua Lê Thánh Tông cho quân dừng lại nơi đ ây và sai ng ười chặt gỗ, gọt đ á xây dựng ba toà điện thờ bà và sắc phong cho bà là:  Chế Thắng phu nhân

   Không gian đền Bà Nguyễn Thị Bích Châu

Đền Bích Châu được xây dựng trên bãi đất pha cát biển rộng khoảng 4.500m2, quay về hướng đ ông nam. Phía tr ước đền, từ trái sang phải là núi Ô Tôn có đền Eo Bạch được xây dựng cuối đời Trần. Vũng áng còn gọi là ” Cửa Cá” nổi tiếng với nhiều hải sản quý như tôm hùm, mực, yến sào… Núi Cao Vọng có hang nhỏ tương truyền là nơi ẩn náu của Hồ Hán Thương vào năm 1407. Sau lưng đền, xa xa là núi Bàn Độ có đầm Tiên nữ, có bàn cờ tiên, xưa là nơi có rất nhiều hươu sao. Đỉnh núi bằng phẳng giống như cái mâm vàng đặt qua biển (kim bàn đồ hải) nên có tên là núi Bàn Độ. Đền được xây dựng thời Trần chỉ có tiền miếu hậu lăng, đến năm 1470 đền có 3 toà, trải qua thời gian đền được tu sửa tôn tạo nhiều lần. Nằm trong vùng “cửa gió” nên có nh ững bộ phận đ ã bị cát vùi lấp chỉ còn một phần như hai cột nanh, cổng Tam quan. Nhân dân địa phương mở cổng phụ để đi vào đền. Toàn bộ khu di tích có thể chia thành hai khu vực:
– Khu công trình phụ gồm cổng phụ, đường đi, cổng chính và nhà quan tả.
– Khu công trình chính gồm hạ điện, trung điện và th ượng điện nhà tiếp khách, nhà s ắc và khu hành lang.
Toàn bộ công trình của đền hiện tại được bao quanh bằng cát bồi lấp thành bức tường tự nhiên. Ba toà điện Hạ điện, Trung điện, Thượng điện và nhà dâng h ương là hệ thống nối liền khép kín với nhau kiến trúc theo kiểu chữ Công (I). Phía sau th ượng điện tương truyền có mộ của bà Quý phi Nguyễn Thị Bích Châu.

Đăng bởi

Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang có thể coi là Đền Cô Chín Thượng Thiên hay Đền Cô Chín Thượng Ngàn đều được

  Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang thờ Cô Chín Thượng nằm ở Thôn Đền Trắng Xã Đông Sơn, Huyện Yên Thế,Tỉnh Bắc Giang. Đền Cô Chín Thượng cách Đền Chúa Nguyệt Hồ chừng 8 km, cách đền Cô Bé Chí Mìu chừng 35 km.
 Đền Cô Chín Thượng nằm trên đỉnh một quả đồi đầy cây xanh. Hiện nay đường lên đền đã được trải nhựa. Một con đường quanh co, ngoằn nghèo dưới những tán cây xum xuê. Ô tô đã dễ dàng lên thẳng đến sân đền. Ngôi đền nằm giữa bạt ngàn cây xanh trên đỉnh núi tạo nên một khung cảnh  đầy chất thơ, lãng mạn, tràn trề linh khí. Đây là một ngôi đền có tiếng là linh thiêng.

 Lịch sử Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang

 Đền Cô Chín Thượng trước đây chỉ có Động Sơn Trang thờ tam vị Chúa Mường và Chúa Sơn Trang và một gian thờ bằng nứa lá thờ Vua Cha Ngọc Hoàng và Cô Chín Thượng.  Đền mới được xây dựng lại vào năm 2013 và 2014. Khi đó, đền đã phối thờ thêm: Chầu Lục, Tứ phủ thánh Chầu, Đức Thánh Trần Triều. Hiện nay ngôi đền đã khang trang, tố hảo rất nhiều so với trước đây.


Bài trí ban thờ Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang

 Đền Cô Chín Thượng Bắc Giang gồm có 1 nhà đại bái. Bên trái nhà đại bái là gian thờ Chúa Thượng Ngàn trong Động Sơn Trang, ngoài sân là Lầu Cậu và Lầu Cô.

 – Phía sau bên phải ngôi đền là khu thờ đức Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế.

 Trong gian đại bái, nếu nhìn từ ngoài vào gồm các cung như sau:
 – Bên trái:  Ban thờ Chầu Lục, Ban Tứ Phủ Thánh Chầu.

 – Chính giữa: Ban Tứ Phủ Công Đồng. Lần lượt từ trong ra gồm: Tam Tòa Thánh Mẫu, Vua Cha Ngọc Hoàng + Quan Nam Tào, Bắc Đẩu; Tam vị Chúa Mường, Ngũ Vị Tôn ông, Tứ Phủ Quan Hoàng.

 – Trong cung cấm: Thờ Cô Chín và Mẫu Cửu Trùng Thiên. Trong cung cấm phí trên là tượng Mẫu Cửu Trùng Thiên và phía dưới là tượng Cô Chín. Cô Chín là hẫu cận của Mẫu Cửu Trùng Thiên nên thờ Cô Chín thường thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên. Đền Cô Chín Sòng Sơn trong cung cấm cũng có thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên. Đền Cô Chín Sòng Sơn được coi là nơi thờ chính của Mẫu Cửu Trùng Thiên.

 


Đây là Đền Thờ Cô Chín Thượng Ngàn hay Cô Chín Thượng Thiên

 Cô Chín vốn là tiên nữ trên thiên cung, hầu cận Mẫu Cửu Trùng Thiên và Mẫu Liễu Hạnh nên nghiễm nhiên Cô Chín thuộc về Thiên Phủ. Tuy vậy, Cô Chín được thờ tại các nơi miền núi thường được gọi là cô Chín Thượng với nghĩa Thượng Ngàn. Như vậy, Cô Chín Bắc Giang được coi là Cô Chín Thượng Ngàn

 Theo quan điểm của người viết thì Cô Chín ngự ở cả 3 ngôi: Thượng Thiên, Thượng Ngàn và Thoải Phủ.  Trong Tứ Phủ Thánh Cô chỉ có một Cô Chín mà thôi và Cô Chín hóa thân vào cả 3 ngôi: Thượng Thiên, Thượng Ngàn và Thoải phủ. Vì vậy Cô Chín Thượng Bắc Giang ở đây có thể coi là Đền Cô Chín Thượng Thiên hay Đền Cô Chín Thượng Ngàn đều được và không có gì là sai cả.
 Tại các vùng núi còn có Đền Cô Chín Tây Thiên tại Quần thể Du lịch Tâm Linh Tây thiên, Đền Cô Chín Đồng Mỏ tại Đồng Mỏ, Lạng Sơn, tại Đồng Hỉ, Thái Nguyên cũng có một đền Cô Chín Thượng, tại vùng gần cửa biển có Đền Cô Chín Suối Rồng Đồ Sơn. Tất nhiên, đền chính của Cô Chín là Đền Cô Chín Sòng Sơn ở Bỉm Sơn, Thanh Hóa.