Đăng bởi Để lại phản hồi

Cách sắm lễ vật, hành lễ, khấn bái khi đi chùa

Đi chùa là một phong tục đẹp của người Việt Nam trong những ngày giằm , mùng một, ngày lễ Tết hay những lúc gia đình có việc quan trọng hoặc tâm trạng bế tắc người ta cũng cầu khấn đến chùa. Việc đi chùa thành tâm khấn Phật , chư đại Bồ Tát, Thánh Hiền làm tăng thêm phúc đức bản mệnh tai qua nạn khỏi , tiêu trừ điềm xấu mang lại tâm lý bình an cho người đi và gia đình. Khi lên chùa ngoài thành tâm bạn cũng cần sắm sửa lễ vật cho phải đạo.

Cách sắm lễ vật khi đi chùa

Việc sắm sửa lễ vật khi đi chùa, đi tế lễ cần biết những quy định cơ bản của nhà chùa mà bạn cần tuân thủ.
– Chùa là nơi thanh tịnh nên khi sắm sửa lễ vật bạn phải chọn những lễ chay như hương , hoa quả tươi, oản, xôi chè và cấm kị lễ vật mặn như một số người thường mang lên chùa. Nếu mang như vậy không khác gì phỉ báng thánh thần vì họ chỉ ăn chay, dâng đồ mặn thật khó coi.
– Dâng lễ mặn chỉ được áp dụng trong trường hợp đền chùa đó có các vị Thánh , Mẫu, Thành Hoàng,…Các vị này thường an tọa ở các khu ngoài chính điện. Lễ mặn có thể dâng gồm gà , giò , chả, rượu, trầu cau.
– Đi chùa có thể chuẩn bị tiền giấy âm phủ và hương nhưng chớ đặt tiền thật hoặc vàng mã lên hương án, chính điện kẻo bị cho là đút lót thánh thần, lợi bất cập hại. Tiền hãy để vào hòm công đức để cải tạo chùa chiền mang lại phúc đức lâu dài cho con cháu.
– Dâng hoa ở các đền chùa nên chọn các loại hoa thanh tao như hoa sen, hoa huệ, mẫu đơn, hoa cúc… Tránh dùng những loại hoa lạ, hoa dại

Cách hành lễ khi đi chùa

Hành lễ đi chùa cũng cần có phép tắc và thứ tự. Trước hết hãy đặt lễ vật lên và thắp hương ở chính điện trước. Sau khi đặt lễ và thắp hương ở chính điện xong hãy đi đến các bạn thờ khá, thường đều có 3-5 ban để thờ mẫu, tứ phủ, bạn cần đặt lễ và dâng hương tất cả tránh sót ban thờ nào. Nếu đình chùa có nhà thờ Tổ, nhà Hậu thì cũng cần phải ghé qua. Cuối buổi lễ sau khi lễ tạ để hạ lễ thì nên đến trai giới hay phòng khách để thăm hỏi và trò chuyện với các nhà sư và công đức nếu có.

Cách khấn bái khi lễ chùa.

1. Khấn ở ban Tam Bảo
Nam mô a di đà phật (3 lần 3 lạy)
Đệ tử con nay thành tâm kính lạy mười phương chư Phật
Hôm nay là ngày, tháng , năm. Tín chủ con là… ngụ tại… Con thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng lên mười phương thường trụ Tam Bảo. Kính xin chư vị rủ lòng từ bi , phù hộ độ trì cho con được …. (công danh, tài lộc, nhân duyên, sức khỏe)….
Chúng con người trần phàm tục còn nhiều lỗi lầm, cúi mong Phật Thánh từ bi đại xá để cho con và gia đình được tai qua nạn khỏi, mọi sự bình an, sở cầu như ý.
Tín chủ chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin phù hộ độ trì.
Nam mô a di đà Phật (3 lần 3 lạy)
2. Khấn bồ Tát, thánh hiền
Tương tự như khấn ở tam bảo chỉ cần thay ở đoạn “Đệ tử con nay thành tâm kính lạy mười phương chư Phật” thành ban bệ cần khấn. Ngoài ra bạn cũng có thể thành tâm khấn nôm theo ý hiểu của mình. Không nên mưu cầu quá nhiều về lợi lộc cá nhân.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Hướng dẫn cầu thi cử may mắn

I/ Chuẩn bị:

– Một gói bánh đậu xanh.
– 3 cái bóng đèn điện.
– Một quyển vở, một cái bút, hoa quả tùy tâm biện lễ.
– 05 lễ tiền vàng
– Ai có vật phẩm hỗ trợ khác, gói vào rồi đặt lên mâm lễ.

II/ Bài khấn:

Văn khấn ở đền Ngọc Sơn, để cầu may mắn, thi cử đỗ đạt như mong muốn.

Phúc lộc thọ khang ninh

Nãi nhân tâm chi kỳ nguyện;

Duy!

Việt nam quốc ; Hà nội thị ; Văn miếu Quốc Tử Giám.

Môn sinh : Nguyễn Minh Trí – Sinh Quý Dậu niên.

Kính cẩn tấu trình : Văn xương Thánh Đế.

Chư vị Thượng Trung Hạ bản từ.

Hôm nay là ngày:……tháng …. năm Tân Mão 2011.

Con xin kính cẩn biện cung trần bạc lễ (Chuẩn bị từ trước: Bánh đậu xanh, trầu cau tiền vàng, kèm theo một cái bút, một quyển vở, và một cái bóng đèn điện gói trong một tờ giấy đỏ).

Cúi xin chư vị Đại Đức Thánh Hiền học giả chứng giám cho con là :………….

Trú tại : số nhà……Hàng Đào phố – Hoàn Kiếm quận – Hà nội Tỉnh – Việt nam quốc. Nay đang học tại: THPT Chu Văn An – Tây Hồ quận – Hà nội Tỉnh – Việt nam quốc. Kim niên Nhâm Thìn 2012 ứng thí kỳ thi : Tốt nghiệp và kỳ thi liên thông.

Trước linh đài Văn xương Thánh Đế linh đài con xin tâm thành kính cẩn xin các ngài chứng giám tâm thành, phù độ gia trì cho con năm nay được bản mệnh khang an, tinh thần dong sảng, trí lực tinh anh, minh mẫn, gạt bỏ tạp phế, chú tâm đèn sách học tập để bước vào kỳ thi tới được gặp nhiều hanh thông cát tường, học giỏi đỗ cao, thày yêu bạn giúp, hoàn tất được bài thi đến nơi đến chốn, đạt điểm số tối đa của trường: Đại học Bách khoa Hà nội.

Con kính xin chư vị chấp lễ chấp cầu trợ lực cho con được kim bảng danh đề toại tâm như ý.

Con xin khấu đầu cảm tạ !

Môn sinh con: .…………. xin rập đầu cúi lạy đến bách bái.

Thiên vận:

Nhâm Thìn niên – Nhị nguyệt – Đại cát nhật

Lưu ý:

1. Sau khi lễ tạ hóa vàng, mang cái bút và quyển vở về nhà, khi nào đi thi mang đi để dùng làm bài.

2. Còn cái bóng điện, lắp vào đèn bàn học để ôn luyện hàng ngày.

3. Còn bánh đậu xanh ăn hàng ngày và trước lúc đi thi lấy may mắn.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Phân biệt hương sạch và hương hóa chất.

1. Dùng thị giác để phân biệt:

Hương sạch: Màu que hương không đều, màu như đúng như thân gỗ tự nhiên

Hương hóa chất: Màu que hương đều do trộn hóa chất phẩm màu

2. Dùng khứu giác:

Hương sạch: Khi đốt có mùi trầm nhẹ. Khi cháy toả ra hương trầm dễ chịu, không gây nhức đầu, cay mắt. Cháy lâu, khi hương cháy hết mùi thơm vẫn phảng phất trong không gian.

Hương hóa chất: Do tẩm hóa chất nên que hương khi chưa đốt cũng đã có mùi rất thơm, khi đốt lên có nhiều mùi khác nhau tùy theo loại hóa chất tạo mùi được sử dụng, mùi hương đậm đặc, thơm nồng, đặc biệt là cháy xong hương sẽ nhanh hết mùi.

3. Dùng xúc giác:

Hương sạch: Khi vuốt nhẹ thân nhang, màu nhang không bám vào tay, cảm giác thấy sần sùi ở tay. Do là thảo mộc nên không thể xay bột quá kỹ, nếu xay quá kỹ thì bột nhang sẽ bị cháy, mất mùi.

Hương hóa chất: Vuốt nhẹ cây nhang thấy mịn. Do chỉ làm bằng mùn cưa nên bột sẽ được xay kỹ và tẩm hóa chất, nên que hương làm ra sẽ mịn, bóng.

4. Giá cả:

Hương sạch: Giá cả bao giờ cũng đắt gấp đôi hoặc ba so với hương hóa chất.

Hương hóa chất: Giá rẻ, giá nào họ cũng bán. Do chỉ có mùn cưa trộn với hóa chất tạo mùi.

5. Nguồn gốc, xuất xứ

Hương sạch: Phải được ghi rõ thông tin về nhà sản xuất, thương hiệu có uy tín được nhiều người tiêu dùng biết đến.

Hương hóa chất: Thương hiệu ít người biết, nhiều khi bao bì không ghi rõ địa chỉ, tên nhà sản xuất. Các nhà phân phối thích bán loại hương này vì lợi nhuận cao, nhập nhèm giữa hương sạch và hương hóa chất.

>>>>>Để biết thêm về Hương sạch tham khảo thêm>>>>>>

Đăng bởi Để lại phản hồi

Đến với Phật là đến với niềm hy vọng, làm Thế Nào Để Đến Với Phật.

Kinh Phật không nói về chân lý, đúng-sai, yêu thương – hận thù hai mặt. Cho nên Phật không làm quan tòa để phán xử ai. Muốn biết đúng-sai, có tội hay không có tội xin tới tòa án, luật sư, đừng tới Chùa, đừng hỏi Phật.


Ngòai ra Đức Phât cũng không độc quyền về Chân Lý. Bởi vì Chân Lý từ sự vật đi lên. Khi mà “thị chư pháp không tướng” (1) tức thực tướng của muôn vật (vạn pháp) là Không thì Chân Lý cũng chỉ là hư ảo. Do đó, nếu bạn cứ nằng nặc cho rằng điều mà bạn đang tin là Chân Lý thì xin bạn đừng tìm đến Phật kẻo uổng công.

Phật không phải là một ông thần tạo ra trái đất rồi hủy diệt nó vì phẫn nộ. Trái đất và vũ trụ này tự vận hành bởi quy luật Thành-Trụ-Họai-Diệt mà không một quyền năng nào có thể ngăn cản nổi. Một tỷ năm nữa Ngày Tận Thế sẽ đến và đến một cách từ từ. Tất cả đều chết hết, chẳng ai cứu được ai. Chẳng ai có thể chết thế cho ai. Đó là sự thật rất “chân thật”. Cho nên đến với Phật là đến với lòng thành thật. Khi mình chưa thấy sự thành thật là cần thiết: Thành thật với mình và với người thì…cũng chưa nên vội đến với Phật.

Phật cũng không phải là một ông thần, bà thần giáng thế hoặc cha mẹ của thần để ban phúc giáng họa khi nhân loại thờ phượng ngài không đúng cách hoặc làm phật ý ngài vì thế mà nhân gian đã nói và sử sách đã ghi “Hiền như Bụt” cho nên không có gì phải sợ hãi Phật. Vì Phật “hiền như Bụt” cho nên hãy đến với Phật như tấm lòng của con đến với cha mẹ.

Vì Phật là ung dung tự tại do đó trong thế giới chứng đắc của thiền sư không có gì bí mật mà chỉ là những gì đơn sơ như hoa nở, suối reo, chim bay, cá lội, trẻ thơ nhớ mẹ, đói ăn khát uống… thật nhẹ nhàng và an lành.

Những cảm nghiệm đó không nảy nở từ những lâu đài tráng lệ, từ những bữa tiệc linh đình, từ nơi quyền thế, từ những trung tâm tài chánh của thế giới, từ những trung tâm quyền lực, từ kế họach, âm mưu bàn tính, từ kinh đô ánh sáng, từ những lễ nghi huyền bí hay những ngôn từ huyền hoặc, hoa mỹ, sấm truyền vu vơ.

Nó là những cảm nghiệm tinh khôi nhất thoát đi từ vũng lầy khổ đau của kiếp người. Đạo Phật vốn đi lên từ Khổ Đế (2) rồi thăng hoa lên từ Khổ để vượt thóat khỏi thân phận cay đắng, nghiệt ngã của kiếp người… từ đó nhìn thấy cuộc đời này có một chút ý nghĩa.

Do đó trong cuộc sống, người nào chưa từng nếm một chút mùi vị của khổ đau; chưa từng thấy ngoài thế giới vật chất; cuộc sống này còn bao hàm một niềm hoài vọng thiết tha về một cái gì đó vượt lên trên những tương tranh, đố kỵ, tỵ hiềm, những thành công hay thất bại, phú quý tựa như phù vân; những người như thế không thể hiểu Đạo Phật.

Ngoài ra, những ai tự trói buộc mình vào một tín điều, niềm tin, những cấm kỵ nào đó mà không thể thoát ra được – thì cũng không thể hiểu được Phật bởi vì Đạo Phật vượt lên trên mọi ràng buộc câu thúc – nhất là câu thúc về trí tuệ.

Khi bạn nghèo mà bạn không thấy tủi nhục, ray rứt vì nghèo – mà cần mẫn vươn lên trong đạo đức, tuân thủ luật pháp quốc gia và …lúc nào cũng hy vọng. Hiểu được như thế là bạn đã thấy Phật. Xưa kia Đức Phật còn nghèo hơn bạn rất nhiều. Tới bữa trưa ôm bình bát vào thành xin ăn, bữa đói bữa no. Thí chủ cho gì ăn nấy. Áo chỉ ba bộ và là loại áo tầm thường nhất của xã hội lúc bấy giờ, chân đi đất… mà Phật lại trở thành con người vĩ đại nhất hành tinh này. Do đó nghèo không phải là bước đường cùng của con người. Vậy thì đến với Phật là đến với niềm hy vọng.

Khi bạn là người trí thức mà bạn không coi thường người thất học hay người ít học mà tìm cách để giúp họ

Đăng bởi Để lại phản hồi

CHỮ TÌNH TRONG CUỘC SỐNG

Thành công là đích đến của rất nhiều người. Tuy nhiên, để có thể vươn tới cái đích ấy, nhất định cần phải có “tĩnh khí”. Bình tĩnh sẽ giúp bạn rèn luyện bản lĩnh vững vàng. Ngay cả khi sóng gió ập tới trước mặt, thậm chí gặp phải chuyện tưởng như không thể cứu vãn được, sự bình tĩnh vẫn sẽ mang đến cho bạn cách giải quyết tốt nhất.

Chuyện kể rằng, khi xưa có một phú thương vì thời thế loạn lạc nên muốn về quê sinh sống. Bấy giờ, ông đem tất cả gia sản đổi thành chi phiếu, sau đó cất công đặc chế một chiếc ô (dù) có cán rỗng để nhét tất cả ngân lượng vào ngăn bí mật trong đó.

Sau khi chuẩn bị hành lý, phú thương thay đổi y phục giống dân thường, mang theo chiếc ô có chứa tất cả tài sản và lên đường hồi hương. Không ngờ rằng, con đường về quê của ông lại đột nhiên xảy đến một biến cố bất ngờ.

Khi đó, phú ông vì mệt mỏi nên dừng chân tại một ngôi đình và ngủ một giấc. Nào ngờ sau khi tỉnh dậy, chiếc ô cất chứa gia tài của ông đã “không cánh mà bay”.

Nhưng phú thương dẫu sao cũng từng là một kẻ lão làng trên thương trường, khi biến cố đột nhiên xảy đến, ông dù hốt hoảng nhưng rất nhanh đã lấy lại bình tĩnh.

“Sao phải lo lắng về những thứ bạn không thể thay đổi? Hãy buông bỏ và tiếp tục tiến lên vì cuộc sống không chờ đợi ai”. Vị phú thương nhận thức được rằng của đã mất đi là có thật, công việc tiếp theo của ông không phải là hốt hoảng, than thân, mà tìm cách lấy lại được những gì đã mất.

Vị phú thương cẩn thận quan sát xung quanh. Thấy bọc tay nải mình mang theo vẫn không thiếu thứ gì, ông kết luận rằng có người lấy cây dù kia để che mưa chứ không nhằm mục đích trộm của cải.

Tiếp tục suy nghĩ sâu xa hơn, ông lại khẳng định người lấy ô có tới tám, chín phần sống ở khu vực lân cận. Người này hẳn là trên đường đi về nhà gặp phải cơn mưa và trú dưới mái đình, khi thấy chiếc ô của ông thì tiện tay mang đi.

Vì vậy, vị phú thương ấy quyết định tạm hoãn chuyến hồi hương của mình, mua một ít đồ nghề, ở lại đó mở một sạp chuyên sửa chữa ô dù.

Thoáng chốc đã một năm kể từ ngày chiếc ô biến mất không tung tích. Vị phú thương vẫn kiên trì chờ đợi ở ngôi đình, nhưng chưa hề gặp lại chiếc ô năm ấy.

Trong lòng chất chứa nhiều thất vọng, nhưng ông vẫn không nản chí. Cẩn thận suy nghĩ thêm một chút, ông nhận ra rằng, khi ô đã cũ, có nhiều người sẽ mua một chiếc mới thay vì mang chúng đi sửa.

Nghĩ vậy, ông quyết định mở một sạp bán ô, lại viết thêm một tấm bảng hiệu có ghi: “Đổi ô cũ lấy ô mới, không phải bù thêm tiền”.

Quả nhiên số người tới đổi ô đông không đếm xuể. Không lâu sau đó, có một người đàn ông trung niên cầm theo một chiếc ô làm từ giấy dầu đã cũ tìm đến vị phú thương ấy.

Chỉ vừa nhìn thoáng qua một cái, ông đã biết chiếc ô cũ nát trên tay người kia chính là thứ cất chứa gia tài tích cóp cả đời của mình. Chiếc ô không còn mới, nhưng phần cán ô chẳng hề có lấy một chút suy chuyển nào.

Phú thương trong lòng dù mừng vui khôn xiết, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ ra điềm tĩnh, từ tốn đổi cho người đàn ông nọ một chiếc ô mới rồi nhận lại ô cũ.

Người kia vừa rời đi, phú thương liền thu dọn sạp hàng, hồi hương sống một cuộc đời giàu sang, phú quý.

Bài học thành công chỉ gói gọn trong chữ “tĩnh”.

Giống như vị phú thương trong câu chuyện, cẩn thận suy nghĩ, lẳng lặng chờ đợi, sau cùng cũng thu về kết quả như bản thân mong muốn. Khi biến cố xảy đến, ông đã bình tĩnh đối mặt, tỉnh táo suy tính để tìm ra giải pháp tối ưu nhất.

– Sưu tầm và biên tập –

Đăng bởi Để lại phản hồi

Sự hình thành nhà nước ở cuối thời Hùng Vương

Họ là những người tách ra khỏi xã hội và tựa hồ như đứng trên xã hội. Theo truyền thuyết dân gian và sử sách cổ, đứng đầu nước Văn Lang là Hùng Vương. Nước Văn Lang được chia thành 15 bộ (vốn là 15 bộ lạc), đứng đầu mỗi bộ là lạc tướng (còn gọi là phụ đạo). Dưới đó là bồ chính đứng đầu công xã nông thôn.

Ngay các danh hiệu Hùng Vương, phụ đạo, bổ chính cũng đã phản ánh tiến trình các quý tộc thị tộc chuyển hoá thành các quan chức nhà nước, chức năng xã hội được chuyển hoá thành quyền lực nhà nước. Có lẽ các chữ phụ đạo, bồ chính cũng là từ Hán dùng để phiên âm từ Việt cổ: Trong tiếng Mường có từ “đạo”, trong tiếng Giarai có từ “tạo” và trong trong tiếng Bana có từ “ba đao”… đều có nghĩa là tù trưởng, thủ lĩnh, người đứng đầu một vùng; trong tiếng Tày và tiếng Thái có từ “pó chiêng”, trong ngôn ngữ của các dân tộc vùng Tây Nguyên có từ “pô ta rinh” nghĩa là già làng.

Sự hình thành nhà nước ở cuối thời Hùng Vương

Tóm lại, sự chuyển hoá quyền lực từ việc thực hiện chức năng xã hội thành quyền lực nhà nước và quý tộc thị tộc biến đổi thành quan chức nhà nước là hai yếu tố biểu hiện cụ thể của sự hình thành nhà nước. Quá trình chuyển hoá, biến đổi đó diễn ra một cách chậm chạp và lâu dài từ giai đoạn Phùng Nguyên qua các giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, được phát triển mạnh mẽ ở giai đoạn Đông Sơn.

Sự hình thành nhà nước ở cuối thời Hùng Vương

Về sự hình thành của nhà nước ở cuối thời Hùng Vương hiện còn có những ý kiến giải thích khác nhau. Một số học giả cho rằng ở cuối thời Hùng Vương, xã hội nguyên thuỷ đang trong quá trình tan rã, nhà nước chưa ra đời mà mới chỉ có chế độ dân chủ quân sự bộ lạc. Một sò nhà khoa học khác lại cho rằng, dù còn sơ khai nhưng nhà nước đã hình thành vào cuối thời Hùng Vương.

Nghiên cứu về sự hình thành của nhà nước ở Việt Nam trong thời kì này, một mặt phải dựa vào những đặc điểm chung của nhà nước và lí thuyết chung về sự ra đời của nhà nước đồng thời phải tính đến những đặc điểm đặc thù của xã hội đương thời với những yếu tố tác động đặc thù như đã phân tích ở trên.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Bộ máy chính quyền đô hộ 179 tr.CN-40

Dưới cấp quận chưa có tổ chức hành chính mới nào. Chế độ lạc tướng và tổ chức chính quyền ở các công xã nông thôn cổ truyền vẫn mặc nhiên tồn tại. Nói cách khác, tổ chức hành chính – vùng (bộ, công xã) của ngưởi Việt vẫn còn tồn tại. Các lạc tướng vẫn cai trị dân ở địa phương minh như cũ, họ chỉ nộp cống cho triều đình Phiên Ngung thông qua hai viên sứ giả của vua Triệu.

Hai quan điền sứ của nhà Triệu đã tiến hành lập sổ hộ khẩu cư dân của hai quận Giao Chỉ và cửu Chân, tổng số kê khai được 40 vạn dân. Như vậy, cơ sở xã hội của Âu Lạc cũ chưa bị động chạm nhiều và sử sách cũ cũng không thấy ghi chép một biến động chính trị lớn nào ở Giao Chỉ và Cửu Chân trong hơn 60 năm thống trị của nhà Triệu.

Tổ chức bộ máy chính quyền đô hộ giai đoạn 179 tr.CN-40

Năm 111 tr.CN, nhà Hán (từ 206 tr.CN – 85), chiếm được nước Nam Việt, trong đó có Âu Lạc cũ. Nhà Tây Hán (giai đoạn đầu của nhà Hán) cũng chia nước thành quận, huyện theo mô hình đơn vị hành chính nước Tần trước đây, trong đó có cả vùng đất mới chiếm được gồm 9 quận là: Đạm Nhĩ, Chu Nhai (đảo Hải Nam), Nam Hải, Hợp Phố (Quảng Đông), Uất Lâm, Thương Ngô (Quảng Tây), Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Thanh Nghệ Tĩnh), Nhật Nam (từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân), trong đó Giao Chỉ và Cửu Chân là hai quận cũ có từ thời nhà Triệu và là địa bàn sinh sống của dân Âu Lạc, còn Nhật Nam là quận mới được thành lập trên phần đất mới chiếm được của ngưởi Chàm Pa.

 Sau đó, ở nước Hán hình thành thêm một cấp hành chính trên cấp quận gọi là Châu và từ năm 106 tr.CN trở đi, miền đất thuộc Nam Việt cũ được đặt thành châu Giao Chỉ, trụ sở đặt ở quận Giao Chỉ là quận lớn nhất và quan trọng nhất. Đứng đầu cấp Châu là chức Thứ Sử, đứng đầu mỗi quận là một viên thái thú chủ yếu quản lí về hành chính, dân sự, giúp việc cho thái thú có Đô Uý chỉ huy quân sự. Dưới cấp quận là cấp huyện (từ cấp bộ đổi thành).(1) Các lạc tướng vẫn nắm quyền cai trị, cha truyền con nối nhưng được đổi gọi là huyện lệnh. Như vậy, so với nhà Triệu, nhà Hán đã tiến thêm một bước trong việc tổ chức bộ máy đô hộ: Bộ máy chính quyền đô hộ đã cai trị trực tiếp ở châu, quận và thứ sử, thái thú là các quan cai trị chứ không chỉ là sứ giả như trước đây. Tuy nhiên, từ cấp huyện trở xuống về cơ bản chưa có gì thay đổi. Những năm đầu công nguyên, triều đình phong kiến phương Bắc rối loạn. Vương Mãng cướp ngôi nhà Tây Hán lập ra nhà Tấn (8 – 23). Trong 15 năm đó, quan lại nhà Tây Hán ở Châu Giao Chỉ hầu như trở thành một chính quyền cát cứ và bộ máy cai trị không có gì thay đổi.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Hành thiện không đúng cách dễ tạo nghiệp

Làm việc thiện mà không hiểu rõ đạo lý, cứ tự cho việc mình làm là hành thiện, ắt không khỏi tạo nghiệp, uổng phí mất tâm tư một cách vô ích…




Phương pháp tích thiện


1. Bàn luận rõ ràng về thiện:


Nếu xét một cách tinh tường mà nói, thì thiện có chân có giả, có ngay thẳng có khuất khúc, có âm dương, có phải hay chẳng phải, có thiên lệch hay chính đáng, có đầy có vơi, có tiểu có đại, có dễ hay khó, đều cần bàn luận rõ ràng.


Làm việc thiện mà không hiểu rõ đạo lý, cứ tự cho việc mình làm là hành thiện, ắt không khỏi tạo nghiệp, uổng phí mất tâm tư một cách vô ích.


Thế nào là chân thiện và giả thiện?


Xưa có một số nho sinh yết kiến Trung Phong hoà thượng (một vị cao tăng triều đại nhà Nguyên), mà hỏi: Nhà Phật bàn thiện ác báo ứng như bóng theo hình, tức làm lành gặp lành, làm ác gặp ác, nay có người nọ thiện mà con cháu không được thịnh vượng, mà kẻ kia ác thì gia đình lại phát đạt, vậy là Phật nói về việc báo ứng thực vô căn cứ sao?


Hoà thượng nói: Người phàm tâm tính chưa được tẩy sạch, chưa được thanh tịnh, tuệ nhãn chưa khai, thường nhận thiện làm ác, cho ác là thiện; người như vậy không phải là hiếm có, đã tự mình lẫn lộn phải trái cho ác là thiện, cho thiện là ác, điên đảo đảo điên mà không hay lại còn oán trách trời cho báo ứng là sai, là không công bằng ư.


Bọn nho sinh lại hỏi: Mọi người thấy thiện thì cho là thiện, thấy ác thì cho là ác, sao lại bảo là lẫn lộn đảo điên vậy?


Hoà thượng bảo họ thử thí dụ xem sự tình thế nào là thiện thế nào là ác. Một người trong bọn nói: mắng chửi đánh đập người là ác, tôn kính lễ phép với người là thiện.


Hoà thượng nói không nhất định là như vậy.


Một người khác cho là tham lam lấy bậy của người là ác, gìn giữ sự thanh bạch liêm khiết là thiện.


Hoà thượng cũng bảo không nhất định là như vậy.


Mọi người đều lần lượt đưa ra thí dụ về thiện và ác, nhưng Trung Phong hoà thượng đều bảo là không nhất định là như vậy.


Nhân thế bọn họ đều thỉnh hoà thượng giảng giải cho.


2. Định nghĩa chữ thiện


Hoà thượng Trung Phong chỉ dạy rằng: Giúp ích người gọi là thiện, chỉ vì ích mình gọi là ác. Vì giúp ích người cho nên dù có đánh mắng cũng vẫn là thiện, trái lại chỉ vì ích mình nên dù có kính trọng người cũng vẫn là ác.


(1). Vì vậy người làm thiện đem lại ích lợi cho người là công, mà công tức là chân, còn vì lợi mình ấy là tư, mà tư tức là giả.


Lại việc thiện tự lòng phát ra là chân, tập theo thói cũ là giả, không trước tướng mà làm chân, trước tướng mà làm giả…


Lại nữa làm việc thiện mà xuất phát từ tấm lòng thành là chân thiện, còn hời hợt chiếu lệ mà làm là giả thiện. Hơn nữa hành thiện mà không nghĩ đến một sự báo đáp nào cả là chân thiện, trái lại còn hy vọng có sự đền đáp là giả thiện, đó là những điều tự mình cần khảo sát kỹ lưỡng.


Thế nào là âm thiện, dương thiện?


Phàm làm việc lành mà người ngoài biết được là dương thiện, làm việc lành mà người ngoài không biết được là âm đức. Âm đức được phúc báo, dương thiện hưởng danh thơm. Nhưng danh thơm thường là điều đáng húy kỵ vì xưa nay biết bao nhiêu người vì háo danh thành thử bị danh làm hại, lâm vào cảnh tai họa, ngược lại những người không tội lỗi mà cứ bị thiên hạ chê oan, thì lắm lúc con cháu họ được phát đạt.


Cái lẽ âm dương như thế, phải để tâm nhiều mới hiểu hết.


Thế nào là phải và chẳng phải?


Nước Lỗ xưa có luật người Lỗ nào chuộc được người bị bắt làm kẻ hầu hạ ở nước khác về thì được quan phủ thưởng tiền. Tử Cống (học trò đức Khổng Tử tên là Tứ) chuộc người về mà không nhận tiền thưởng.


Đức Khổng nghe biết lấy làm buồn phiền mà bảo rằng: Tứ làm việc thất sách rồi. Ôi thánh nhân xử sự nhất cử nhất động có thể cải sửa phong tục thay đổi tập quán, làm gương mẫu cho bách tính noi theo, chẳng phải cứ nhiệm ý làm những việc thích hợp với riêng mình.


Nay nước Lỗ người giàu thì ít người nghèo thì nhiều,nếu nhận thưởng cho là tham tiền là không liêm khiết còn không lãnh thưởng thì người nghèo sao có tiền tiếp tục chuộc người? Từ nay về sau chắc không ai chuộc người ở các nước chư hầu về nữa.


Tử Lộ (tên Do, học trò đức Khổng) cứu người khỏi chết đuối, được tạ ân một con trâu, Tử Lộ nhận lãnh. Khổng Tử hay chuyện hoan hỷ bảo rằng:Từ nay về sau ở nước Lỗ sẽ có nhiều người lo cấp cứu kẻ chết đuối.


Cứ lấy mắt thường tình mà xem, việc Tử Cống không nhận tiền bồi thường là cao quí, Tử Lộ nhận trâu là thấp hèn, nhưng Ðức Khổng Tử lại khen Tử Lộ mà chê Tử Cống.


Vậy nên biết người không nên chỉ nghĩ đến lợi ích trước mắt mà cần xét xem hành động đó có ảnh hưởng tệ hại gì về sau nầy không.


Không nên bàn tới lợi ích nhất thời ở đời nầy mà phải nghĩ tới tương lai xa, mà cũng chẳng nên chỉ nghĩ riêng cho cá nhân mình mà phải nghĩ cho cả thiên hạ đại chúng nữa.


Việc làm hiện nay tuy bề ngoài là thiện nhưng trong tương lai lại di hại cho người, thì thiện mà thực chẳng phải thiện.


Còn việc làm hiện thời tuy chẳng phải thiện nhưng về sau nầy lại có lợi ích cứu giúp người thì tuy ngày nay chẳng phải thiện mà chính thực là thiện vậy.


Ở đời có nhiều sự tình tương tự,chẳng hạn như tưởng là hợp lễ nghĩa, là có trung tín, từ tâm mà thực ra lại trái lễ nghĩa, không phải trung tín hay từ tâm, đều phải quyết đoán chọn lựa kỹ càng.


Thế nào là thiên lệch và chính đáng?


Xưa ông Lã Văn Ý, lúc mới từ chức tể tướng , cáo lão về quê, dân chúng 4 phương đến nghênh đón như thái sơn bắc đẩu. Nhưng có một người làng say rượu mạ lỵ ông. Lã công điềm nhiên bất động bảo gia nhân: kẻ say chẳng chấp làm gì , đóng cửa lại mặc kệ hắn.


Qua một năm sau, người đó phạm tội bị tử hình. Lã công hay biết sự tình mới hối hận rằng: giá mà ngày ấy ta bắt hắn đưa quan nha xử phạt thì hắn có thể bị phạt một tội nhẹ mà tránh khỏi phạm trọng tội về sau.


Ta lúc đó chỉ muốn giữ lòng nhân hậu tha thứ cho hắn, không ngờ hóa ra nuôi dưỡng tính ngông cuồng của hắn để phạm tội tử hình như ngày nay vậy.


Đó là một sự việc do lòng thiện hóa ra làm ác. Cho hay có khi tâm lành mà hành sự lại ác, có khi tâm ác mà hành sự lại lành.


Thế nào là đầy và vơi (bán và mãn)


Kinh dịch nói việc thiện mà không tích lũy cho nhiều không đủ để được danh thơm tiếng tốt, việc ác mà không đọng lại nhiều chẳng đủ để mang họa sát thân.


Kinh thư có nói nhà Thương tội ác quá nhiều như nước vỡ bờ vì thế mà Trụ Vương bị diệt. Việc tích thiện cũng như lưu trữ vật dụng, nếu chăm chỉ cất giữ ắt sẽ đầy kho, còn biếng nhác không chịu tích lại thi vơi chứ không đầy. Chuyện làm thiện được đầy hay vơi bán hay mãn là vậy.


Xưa có một nữ thí chủ vào chùa lễ Phật, muốn cúng dường nhưng lại nghèo, trong túi chỉ còn hai đồng, đem cả ra để cúng.


Vị trụ trì đích thân làm lễ bái sám hồi hướng cho. Sau nữ nhân đó được tuyển vào cung, tiền tài phú quý có thừa, đến chùa lễ Phật đem cả ngàn lượng bạc cúng dường. Hòa thượng trụ trì chỉ sai đồ đệ thay mình làm lễ hồi hướng mà thôi. Nữ thí chủ nọ thấy vậy liền hỏi: Trước đây tôi chỉ cúng dường có hai đồng mà phương trượng đích thân làm lễ bái sám hồi hướng cho, nay cúng cả ngàn lượng bạc mà ngài không tự mình làm lễ là sao vậy?


Vị hoà thượng đáp: Trước kia tiền bố thí quả thật ít ỏi nhưng xuất phát từ tấm lòng thật chân thành, nếu bần tăng không đích thân làm lễ thì không đủ báo đáp được ân đức ấy. Nay tiền cúng dường tuy nhiều nhưng tâm bố thí thì không được chí thành như trước, nên bảo đồ đệ thay bần tăng làm lễ cũng đủ.


Với lòng chí thành bố thí cúng dường chỉ hai đồng mà việc thiện được viên mãn, còn bố thí cả ngàn lượng bạc mà lòng không được chí thiết thì công đức đó chỉ được bán phần mà thôi.


Chung Ly Quyền chỉ dạy cho Lã Đồng Tân cách luyện đan điểm sắt thành vàng có thể đem dùng để cứu giúp người đời.


Lã Đồng Tân hỏi rằng vàng đó sau có thể biến chất không?


Chung Ly Quyền bảo 500 năm sau vàng đó sẽ trở về nguyên bản chất là sắt, thì họ Lã nói: Như vậy sẽ gia hại cho người đời 500 năm về sau, ta chẳng học phép ấy làm gì.


Chung Ly Quyền bảo:Muốn tu tiên cần tích lũy công đức 3000 điều, nhưng chỉ một lời của nhà ngươi nói đó cũng đủ mãn 3000 công đức rồi.


Đây lại thêm một thuyết nữa về đầy vơi hay bán mãn vậy.


Lại làm lành mà tâm không chấp trước thì mỗi việc đều được viên mãn, trái lại tuy làm suốt đời mà việc lành cũng chỉ có được một nửa.


Ví như đem của giúp người mà trong không thấy mình giúp, ngoài không thấy người nhận, trung gian không thấy vật đem giúp thì được gọi là bố thí tam luân không tịch hay nhất tâm thanh tịnh.


Bố thí như vậy, dù một lon gạo cũng có thể gây vô lượng phước, một đồng bạc có thể tiêu ngàn kiếp tội. Nhược bằng tâm khư khư chấp trước, thời tuy bố thí cả thoi vàng, phước đức cũng chỉ có được một nửa.


Ðây lại một cách xét việc lành đầy, lưng, nửa, toàn vậy.


Thế nào là đại và tiểu?


Xưa Vệ Trọng Đạt, một quan chức ở Hàn lâm viện bị nhiếp hồn đưa xuống âm phủ. Diêm vương sai các phán quan trình những cuốn sổ ghi điều thiện và ác ra để xét. Nếu đem so sánh thì những sổ ghi điều ác chất đầy một đống còn sổ ghi điều thiện có mỗi quyển mỏng dính.


Diêm Vương cho đem lên bàn cân thì bên một cuốn sổ mỏng dính kia lại nặng hơn tất cả các cuốn ghi điều ác cộng lại.
Trọng Đạt nhân thế mới hỏi: Năm nay tôi mới chưa đến 40 tuổi đời mà sao tội lỗi lại có thể nhiều đến thế? Diêm Vương bảo: Mỗi một niệm ác kể là một tội không cần đợi đến lúc có thực sự phạm phải hay không.


Trọng Đạt lại hỏi trong cuốn sổ mỏng kia có ghi việc thiện gì vậy.


Diêm Vương bảo: triều đình đã từng dự tính khởi đại công tác tu sửa cầu đá ở Tam Sơn, nhà ngươi dâng sớ can gián, sớ văn đó có ghi chép vào sổ vậy. Trọng Đạt thưa: Bản chức tuy có dâng sớ,nhưng triều đình không y theo lời tấu trình, thì sự việc đâu có ích gì? Thì Diêm Vương lại bảo cho hay là tuy triều đình không y theo lời tấu, nhưng một niệm thiện đó của nhà người là vì lợi ích của toàn dân muốn cho họ khỏi bị đi lao công vất vả, khỏi bị sưu cao thuế nặng, nếu mà lời tấu trình được triều đình y theo thì công đức nhà người thật vô cùng lớn lao. Cho nên nếu có chí nguyện làm việc lợi ích cho quốc gia thiên hạ , cho đại chúng thì tuy việc làm đó có nhỏ mà công đức lại lớn, còn nếu chỉ nghĩ làm lợi riêng cho thân mình thì tuy có làm nhiều mà công đức lại nhỏ vậy.


Thế nào là khó và dễ?


Các vị tiên nho xưa có nói muốn khắc phục mình, muốn thắng được tâm mình thì nên bắt đầu từ chỗ khó khắc phục mà khởi tâm trước.


Đức Khổng Tử bàn về nhân ái cũng nói bắt đầu từ chỗ khó mà thi hành trước, tức là từ chỗ phải thắng được lòng mình vậy, bởi lẽ khó mà làm được thì dễ ắt cũng làm xong.


Chẳng hạn như ở Giang Tây có ông già họ Thư làm nghề dạy học, nhân gặp một người nghèo thiếu tiền quan, vợ người ấy sắp bị quan bắt làm tôi tớ, ông liền bỏ số tiền nhập học của học trò mà ông đã dồn được trong hai năm ra chuộc, nhờ đó vợ chồng người kia khỏi bị ly tán. Ông già họ Trương ở tỉnh Trực Lệ, nhân gặp một người bị nợ khốn, phải đem cầm vợ con. Ông liền bỏ số tiền mình để dành được trong 10 năm ra chuộc, nhờ đó vợ con người kia được an toàn. Bỏ tiền cứu người như hai trường hợp trên thật là hiếm có, ít ai làm nổi. Lại như ông già họ Cận ở Trấn Giang tuổi đã cao, không có con nối dõi, lân gia có người đem đứa con gái còn trẻ đến nạp cho làm thiếp, nhưng ông không nhẫn tâm thu nạp mà đem hoàn trả lại. Đó là chỗ khó có thể nhẫn mà nhẫn được.


Vậy nên phúc báo trời cho hưởng sẽ hậu.


Phàm những người có tiền tài, có quyền thế mà họ muốn làm phúc thì thực là dễ , dễ mà chẳng làm là tự hủy hoại mình. Người nghèo hèn khốn cùng muốn làm phúc thật là khó, khó nhưng mà làm được, đó mới thực là đáng quý vậy.


3. Tuỳ duyên hết sức tu thập thiện


Tùy lúc gặp duyên lành cứu giúp người, hay tùy hỷ công đức mà hành thiện, nếu phân biệt ra từng loại thì rất nhiều, nhưng đại khái có mười loại như sau: trợ giúp người cùng làm thiện, giữ lòng kính mến người, thành toàn việc thiện của người, khuyến khích người làm thiện, cứu người gặp nguy khốn, kiến thiết tu bổ có lợi ích lớn, xả tài làm phúc, gìn giữ bảo hộ chánh pháp, kính trọng tôn trưởng, thương tiếc mạng sống loài vật.


Thế nào là trợ giúp người cùng làm thiện?


Xưa vua Thuấn lúc chưa tức vị thấy những người đánh cá ở đầm Lôi Trạch, đều tranh chiếm chỗ nước sâu dầy nhiều cá, còn người già yếu phải tìm chỗ nước nông cạn chảy xiết ít cá mà đánh, nên có lòng trắc ẩn bất nhẫn, bèn cùng tới đánh cá. Thấy người nào tranh dành chỗ thì ông im lặng không đá động gì đến tánh xấu ấy, còn thấy người nào mà có lòng nhường chỗ thì ông hết lời khen ngợi mà theo gương đó cũng nhường chỗ cho người khác. Một năm sau những người đánh cá ở chỗ nước sâu ai cũng có lòng nhường chỗ cho nhau mà không tranh dành nữa.


Ôi vua Thuấn thực sáng suốt, há chẳng phải mất lời mà khuyên bảo giáo hóa được người sao! Tuy không dùng lời mà dùng chính bản thân mình làm gương mẫu cho người khác sửa đổi. Đây là chỗ khổ tâm và khéo dụng công của vua Thuấn vậy.


Bọn chúng ta ở thời mạt pháp nầy chẳng nên thấy mình có chỗ sở trường mà khinh khi chèn ép người, chẳng nên lấy chỗ hay giỏi của mình mà đem so sánh xét người. Ẩn ác dương thiện tức là thấy người ta dở, có lỗi lầm thì gặp riêng khuyên bảo đừng ra ngoài nói xấu làm người ta mất hết danh dự, gặp được việc làm tốt của ai thì nên ghi nhớ mà học theo đồng thời hết sức ca ngợi để mọi người cùng được biết.


Thế nào là thành toàn việc thiện của người?


Một hòn đá trong có ngọc nếu bị ném bỏ ắt sẽ vỡ tan như hòn ngói, nhưng nếu đem mài dũa chạm trổ ắt sẽ thành khuê trượng hốt ngọc. Cho nên phàm thấy người làm việc thiện hoặc thấy ý chí và tư chất của họ có thể tiến thủ thành công thì đều nên khuyến dụ trợ giúp họ; hoặc khen ngợi khích lệ hoặc gìn giữ bảo bọc họ; hoặc biện bạch hộ cho họ hay chia xẻ cùng họ nỗi oan ức bị người ghen tị mà vu họa phỉ báng họ, cốt sao giúp cho họ được thành công mà thôi.


Đại khái con người thường không ưa thích những người không giống như mình, chẳng hạn như ác không ưa thiện, tiểu nhân không thích quân tử. Người trong một xóm làng, thiện thì ít mà xấu ác thì nhiều, vì thế người thiện ở đời bị kém thế khó có thể tự lập được vững vàng.


Hơn nữa người hào kiệt, thông minh tài cán, tính tình cương trực không trọng bề ngoài, không ưa tiểu tiết nên hay bị người ta hiểu lầm mà chỉ trích phê bình; vì thế cho nên việc thiện thường dễ bị hư hỏng mà người thiện thường bị nhạo báng, cười chê, chỉ duy có người trưởng giả nhân hậu mới hiểu rõ được sự tình mà khuông phù trợ giúp cho họ được thành công. Thành toàn cho người thì công đức thực là lớn lao vô cùng.


Thế nào là khuyến khích người làm thiện?


Con người ta sinh đã sinh ra làm người, ai mà không có lương tâm.


Đường đời mênh mông mù mịt rất dễ bị sa đọa chìm đắm vì lợi danh.


Đối với những người còn mải mê tham danh tham lợi tạo thành nghiệp ác, ta nên tìm cách cảnh tỉnh họ cho thoát khỏi sự mê hoặc, cũng giống như họ đang trải qua một giấc mộng lớn trong đêm dài mà ta giúp họ đoạn diệt, bạt trừ hết thì ân huệ đó thật vô biên vô lượng.


Hàn Dũ đời nhà Đường có nói: dùng lời thì khuyên người được một đời, làm sách thì khuyên người được trăm đời. Việc khuyên người làm lành ở đây đem so với việc cùng người làm lành ở trên có phần sút kém, song theo bệnh cho thuốc, theo thời khuyên răn vẫn thâu được hiệu quả rất nhiều. Còn như dùng chính bản thân mình hành động làm mẫu mực, làm gương cho người trông thấy để họ tự nhiên tỉnh ngộ biết được lỗi lầm mà sửa đổi thì hiệu quả cũng chẳng kém mà không để lại hình tích gì; có hai phương tiện nầy đều chẳng thể bỏ qua. Muốn giúp người, khuyên người cần phải thông minh sáng suốt, biết tùy thời, tùy người không để mất lời tức phí lời mình nói mà người không nghe, cũng không để mất người, tức là gặp người có thể khuyên cải được mà mình không hành động để lỡ mất dịp làm lành, như thế là kém hiểu biết không có trí tuệ vậy.


Thế nào là cứu người nguy cấp?


Người ta ai cũng có lúc gặp phải sự tai ương hoạn nạn xảy ra. Vậy khi gặp ai lâm cảnh ách nạn hãy xem như chính mình lâm nạn mà lo vội vã cứu trừ, hoặc lấy lời biện bạch an ủi, hoặc dùng phương chước khôn ngoan giải trừ. Thôi Tử có nói: Làm ân không cần phải đợi lớn lao mới làm, chỉ cần cứu kịp người lúc cấp nạn là quý.

Ðó thật là lời của kẻ có lòng nhân vậy.



Người đời lấy cơm ăn áo mặc làm mạng sống, cho nên rất quý trọng đồng tiền, nay chúng ta có thể xả bỏ được tức là trong lòng bỏ được tính keo kiệt, ngoài mặt thì cứu giúp được người lúc cần cấp; lúc mới bắt đầu thì có vẻ miễn cưỡng mà làm, nhưng rốt cuộc xả bỏ quen rồi thì an nhiên tự tại hành động, có thể rửa sạch được lòng riêng tư, vị kỷ, trừ bỏ được tính biển lận.


Thế nào là giữ gìn bảo hộ chánh pháp?


Góp phần công đức xây dựng chùa chiền, chăm làm việc Phật sự, ấn tống kinh điển, lưu truyền sách báo bài giảng của quý thầy là bảo hộ chánh pháp.


Bản thân mình thì học, hiểu và thực hành đúng chánh pháp rồi đem chánh pháp đó lan truyền đi cho những người khác, ấy cũng là bảo hộ chánh pháp.


Hoà Thượng Thích Thiện Siêu (trích Liễu Phàm Tứ Huấn)

Đăng bởi Để lại phản hồi

Phương pháp thờ cúng trong gia đình, phước đức lâu bền cho gia đình, cho dòng họ được hưng thịnh muôn đời.

Việc khấn vái phải theo trật tự trên dưới rõ ràng. Phật có nguồn gốc từ con người, cho nên dù có phép thần thông quảng đại đi chăng nữa, thì cũng không ngoài vòng cương tỏa của Trời – Đất. Vậy thì khi khấn vái phải lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ trước, rồi mới đến Phật. Tham khảo các bài sớ cúng của các dòng họ, tôi thấy các cụ xưa cũng thường theo trật tự: Chư Thiên – Chư Địa – chư Thần – Chư Phật – Chư thánh – Thành hoàng làng – Gia Tiên, không phải như con cháu bây giờ để Phật lên trước trời đất? Ví dụ: Con sám hối lạy chín phương trời, năm phương đất, chư Phật mười phương chẳng hạn…






Quay lại vấn đề chính đã nêu ra ở trên, để thờ cúng trong nhà bà con cần chuẩn bị những gì? – Xin thưa chúng ta cần:


1. Rường thờ


2. Hương án


3. Bài vị


4. Bát hương


5. Hoành phi


6. Đối liễn


7. Lễ vật (hương, đăng, hoa, quả, nước)


8. Sớ cúng


Và tôi sẽ giải thích ý nghĩa, phương cách thực hiện từng mục trên như sau:


1. Rường thờ: có nơi gọi là giường thờ, gọi là giường thờ vì giường thờ vốn có mành hoặc rèm che, là nơi nghỉ ngơi của linh hồn tiên tổ. Nhưng vì giường là thứ dành cho người phàm tục, sợ phạm húy với tổ tiên, nên nhân dân gọi chệch thành “rường” chỉ khi cần thắp hương mới vén rèm lên. Khi xong rồi thì phải kéo rèm che kín lại không cho khách khứa nhìn thấy hương án, ngoại trừ ba ngày tết.


Phía trước cửa rường thờ, hai bên là hai câu đối, bên trên cùng là hoành phi, bên trong là hương án (bàn thờ), rường thờ được chia làm hai bậc cao thấp, trái phải, bên trái cao hơn một chút thờ ngũ vị tài thần, bên phải thấp hơn một chút thờ gia tiên; Hoặc phía sau cao hơn thờ tài thần, phía trước thấp hơn thờ gia tiên.


2. Hương án: “Án” là cái bàn, “hương án” là cái bàn để bày lễ vật thắp hương, nhân dân gọi nôm na là bàn thờ. Hiện nay các nhà ít khi có mành che nên có thể nói là không còn rường thờ mà chỉ có bàn thờ (hương án).


3. Bài vị 


“Bài” là cái thẻ bằng gỗ mỏng hay bằng giấy cứng có viết chữ trên đó. “Vị” là chỗ đứng. “Bài vị” còn được gọi là “Thần chủ”, là một tấm thẻ, trên đó có ghi đầy đủ tên họ người chết, năm sinh, ngày chết, chức tước, quê quán, dùng để tế lễ và thờ phụng.


Cách viết chữ lên bài vị:


– Chức danh của vị gia tiên được thờ phụng, ví dụ: Cao tổ khảo (kị), hoặc Tằng tổ khảo (cụ), Tổ khảo (ông); Hiền khảo (cha)


– Chức tước và công danh (nếu có) của vị gia tiên được thờ phụng;


– Tuổi thọ: nếu từ 60 tuổi đổ lại thì ghi hưởng dương, từ 61 trở lên mới ghi hưởng thọ


– Vai vế trong dòng họ: Con trưởng thì ghi họ rồi thêm “mạnh công”, nếu là con thứ thì ghi họ rồi thêm “quý công”, sau đó mới tên huý của vị gia tiên.


Ví dụ:


– Hiền khảo / tiền đảng viên ĐCSVN-Đại tá quân đội nhân dân VN – Liệt sĩ chống Mỹ – Huân chương chiến công hạng nhất / hưởng dương ngụ tứ tuần Trần Mạnh Công tự Văn An phủ quân 1915 – 1968);


Xem thêm ở bài: “Cấu trúc thờ cúng trong nhà thờ họ và tổ chức tề lễ ”


4. Bát hương: Phương pháp làm bát hương hiện nay trong nhân dân thường phụ thuộc vào thầy cúng, hoặc thầy chùa. Có người nói sau khi làm bát hương phải được thầy chùa đem “Mật tông kinh” cầu nguyện làm phép mới linh, tôi e là không phải đối với những gia đình không là đệ tử cửa Phật?


Còn thầy cúng thì chẳng ai có thể kiểm nghiệm nổi thần thông quảng đại của thầy ở mức nào, mà chỉ thấy bát hương đắt đỏ thôi rồi, cho nên nhiều gia đình cũng than vãn “tiền mất tật mang”. Bởi vậy tôi mạnh dạn đưa lên đây phương pháp sắm sanh bát hương, ai tin tôi cứ theo mà làm. Thiết nghĩ, đạo nghĩa đã dạy việc thờ cúng phải làm theo tiếng gọi từ lương tâm, linh hồn có thể xâm nhập được vào trong trí não của mình để lắng nghe hư thực, nên có thờ ắt có thiêng mà không nhất thiết phải có “Mật tông kinh”. Chỉ cần ấn định danh phận cho vị gia tiên muốn thờ trong bát hương là đủ, cách làm bát hương như sau:


Chọn mua bát hương: Tuỳ theo khả năng tài chính có thể chọn đồ gốm hoặc đồ đồng. chữ khắc trên bát hương nên chọn chữ “Phước”. Hình con vật nên chọn một cặp rồng – phượng cùng châu vào biểu tượng của thái cực (vòng tròn âm dương). Chọn như vậy thì âm dương mới hài hoà, mới hỗ trợ cho sự sinh tồn vững bền của dòng tộc. Nếu bát hương chưa có biểu tượng âm dương thì vẽ nó lên giấy rồi dán bên dưới bát hương. Bát hương mua về phải rửa sạch bằng nước thơm ngũ vị hương (có bán tại tiệm bán bát hương), lau khô;


Bỏ gì vào trong bát hương?


– Thần sa, chu sa : theo quan niệm của người xưa, thần sa, chu sa có khả năng từ tà khí, nghĩa là bát hương thỉnh cho vị gia tiên nào thì vị gia tiên đó hiển nhiên là chính khí hiển linh, tà khí không vào phá bát hương được. Thần sa, chu sa bà con có thể tìm đến tiệm thuốc đông y để mua, tuy nhiên tuyệt đối không được bỏ nhiều, mỗi bát hương chỉ khoảng 1 – 2gr


– Tro: Dùng rơm sạch để đốt lấy tro, ở thành phố không có rơm thì mua thật nhiều hương về đốt lấy tro.


– Một chùm tua rua ngũ sắc nhỏ kết bằng 5 sợi chỉ năm màu;


– Một tờ giấy mộc nhuộm đỏ viết nội dung giống như trên bài vị, nếu vị gia tiên được thờ phụng có mộ thì tốt nhất xin một chút đất mộ và rút ba chân hương ở mộ rước về càng linh; Nếu là bát hương chung thì lập danh sách tất cả những người muốn thờ cũng theo nội dung bài vị, hoặc ghi chung “Gia tộc hoặc chi tộc…(họ: Nguyễn Văn, Lê Huy…) bài vị linh thần”, rồi ghi thêm “Phúc lộc thọ toàn”;


– Đối với “thất bảo”, tôi chỉ thấy ở miền Nam ảnh hưởng của đạo Cao Đài, còn như Xứ Nghệ An đổ ra thì không có món này.


Gấp bài vị cho vuông vắn lại, rồi dùng một mảnh giấy trang kim (giấy kẽm tráng kim tuyến vàng mục đích là nhỡ có bị cháy cội hương, lớp giấy kẽm sẽ bảo vệ để bài vị không bị cháy lẫn vào cốt tro bên ngoài) gói tất cả các thứ: đất mộ, tiền, chỉ ngũ sắc, giấy bài vị, thần sa, chu sa tán bột mịn để vào, gói tờ giấy trang kim lại cho vuông vắn, để xuống dưới đáy bát hương, sau đó mới đổ tro lên cho đầy. Cắm 3 cội hương rước tứ ngoài mộ về, lau sạch bên ngoài và để trang nghiêm lên hương án, phía trước bài vị.


Chú ý: bát hương mỗi khi được định vị trên hương án rồi thì kiêng kỵ bị xê dịch vị trí, gia đạo sẽ gặp chuyện chẳng hay. Do đó, nếu cẩn thận thì nên dùng keo hai mặt dính chặt xuống. mỗi năm chỉ được sửa sang bát hương từ sau 23 – 30 tháng chạp mà thôi.


Bát hương thờ ngũ vị tài thần theo phong tục thuần Việt hoàn toàn không giống với Trung Quốc, ngũ vị tài thần của Việt Nam là Hoàng thiên, Hậu thổ, là vua trời vua đất của nước Việt và ba vị tam tài Đông trù tư mệnh Táo chủ thần quân chủ về cơm no áo ấm, sức khoẻ; Thổ địa long mạch tôn thần chủ về đất đai long mạch và sự tiềm ẩn của cải sinh sôi; Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần chủ về tiền tài, thóc gạo đã thu hoạch, gặt hái về (tôi đã có nói trong bài thờ cúng táo quân).


Đối với bát hương thờ ngũ vị tài thần, đứng trong khuôn viên nhà mình mà nhìn ra cổng thì bên trái là long mạch, đào sâu xuống đến khi đụng phải nước, lấy một chút đất lẫn nước ở đó, cùng với một chút tro giữa lòng bếp hợp lại trộn với thần sa, chu sa rồi cũng gói vào tờ giấy trang kim với tiền âm dương, tua rua ngũ sắc mà để xuống đáy bát hương trước khi đổ tro lên cho đầy.


Lập bát hương cho người mới mất: Thủ tập lập bát hương như đã hướng dẫn trên. Sau đó giờ Tý nửa đêm, đem bát hương ra để trên nóc nhà để gọi nhập hồn. Cách khấn như sau:


– Kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ


– Kính lạy Đông trù tư mệnh Táo chủ thần quân Thổ địa long mạch tôn thần Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần


– Kính lạy Thanh hoàng bản xứ… (tên địa phương cư ngụ)…


– Kính lạy Gia tiên nhà….. (Nguyễn Trọng, Lê Huy….chẳng hạn)…


Cho phép hồn về nhập nơi cư ngụ!


Tiếp đến, cầm năm hương lạy bốn phương tám hương xong thì bắt đầu gọi hồn:


– Hú ba hồn bảy (chín) vía …(họ tên người chết)… về nơi cư ngụ! (một lần gọi xong thì tách một cây hương huơ một vòng tròn lên trời rồi cắm vào bát hương. Nếu người chết là nam thì gọi 7 lần; nếu người chết là nữ thì gọi 9 lần. Gọi đủ số lần thì đem bát hương để vào vị trí bàn thờ lập cho người mới chết).


Bát hương của người mới chết phải chờ hết khó mới được nhập vào bàn thờ gia tiên.


Thủ tục nhập bát hương của người hết khó vào bàn thờ gia tiên:


Bước 1: Làm lễ cẩn cáo với gia tiên để xin phép


Bước 2: Hoặc là đem nguyên bát hương của người hết khó để lên vị trí được quy định cấp bậc trên bàn thờ gia tiên; hoặc là chỉ rút phần cốt hương và ba cội hương từ bát hương của người mới chết nhập vào bát hương thơ chung của gia tiên. Bát hương cũ đem thả xuống sông, hoặc chôn xuống đất. Coi như hoàn tất thủ tục nhập.


Mỗi nhà chỉ nên có 2 – 3 bát hương trên một rường thờ mà thôi: Một bát thờ ngũ vị tài thần để ở vị trí cáo nhất; Một bát thờ gia tiên, Một bát hương thờ bà cô ông mãnh; gia đình nào mà dân chủ thì lập thêm một bát thờ đàng ngoại, bát hương này để ở vị trí thấp hơn một chút so với bên nội. Tuy nhiên tôi cung nói rõ, nếu gia đình cư ngụ trên đất hương hoả của nhà nội, thì không thờ ngoại được, mà chỉ có những cặp vợ chồng tự mua đất tạo dựng cơ nghiệp thì mới có thể thờ ngoại.


Việc lập bát hương thờ phụng phải chọn ngày lành tháng tốt. Có nhiều cách để chọn ngày, nhưng kinh nghiệm của tôi thì lấy ngũ hành tương khắc tương sinh làm trọng. Trước hết bà con căn cứ vào ngũ hành để chọn ngày sinh nhập cho gia chủ. Ví dụ gia chủ mạng kim thì chọn ngày thổ, gia chủ mạng thổ thì chọn ngày hoả, gia chủ mạng hoả thì chọn ngày mộc. Chọn ngũ hành thôi chưa đủ, ngày ngũ hành đó còn phải là ngày có ngôi sao hoàng đạo, riêng đối với việc lập bát hương thờ phụng này ta nên chọn ngày / giờ có ngôi sao Tư mệnh chủ về sự phúc đức để khởi sự sẽ được phúc đức lâu bền. Đặc biệt việc khởi tạo thờ phụng mà vòng định sinh của gia chủ rơi vào cung phúc đức hay thiên y thì sự linh thiêng sẽ tăng gấp bội.


5. Hoành phi: là vật trang trí bên ngoài cho thêm phần trang trọng, cho nên có thì đẹp đẽ hơn lên, còn như chưa có điều kiện thì cũng không ảnh hưởng gì đến việc thờ cúng cả, đối liễn cũng vậy. Hoành phi còn gọi là “biển”, “bức hoành”, vốn là một bức thư họa. thay vì đối liễn được viết dọc, thì hoành phi được viết ngang, dạng như một câu khẩu hiệu ngắn khoảng 3 – 5 chữ treo ở phòng khách, nhà thờ…Thông thường hoành phi trang trí ngang bên trên, còn hai câu đối được treo dựng hai bên, ví dụ bức hoành phi dưới đây được treo ở bàn thờ gia tiên, hoặc ở nhà thờ tổ:

Đức lưu quang


(Đức độ tỏa sáng)


6. Đối liễn: Hay còn gọi là câu “đối liên” là những câu chữ Hán hay chữ Nôm, có nơi dùng chữ quốc ngữ viết từng cặp dọc đi đôi, và ý nghĩa cũng đi đôi, thể hiện trên chất liệu vải, gỗ, hoặc giấy, ví dụ như một số câu đối sau đây:


Mộc xuất thiên chi do hữu bản


Thủy lưu vạn phái tổ tùng nguyên


(Cây chung ngàn nhánh sinh từ gốc


Nước chảy muôn dòng phát tại nguồn)


Hoặc là:


Nhật nguyệt quang chiếu thập phương


Tổ tông lưu thùy vạn tuế


(Vầng nhật nguyệt mười phương rạng rỡ


Đức Tổ Tông muôn thuở sáng ngời)


Ái Quốc mạc vọng Tổ


Nhân dân tiên mục thân


(Yêu nước chớ nên quên Tổ tiên


Thương dân trước phải hòa thân thích)


7. Lễ vật:


– Thứ bắt buộc phải có khi thắp hương : Hương – đăng (đèn) – hoa – ngũ quả – nước (5 chén + một bình)


– Vàng tiền thì cúng đốt vào các dịp trọng đại như tết, giỗ, ngoài ra thì rằm tháng giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng mười. Khi cúng tiền vàng, phải ghi rõ tên của vị gia tiên được hưởng lộc trước khi hoá vàng.


– Đối với cỗ mặn, to nhỏ tuỳ tâm và tuỳ khả năng tài chính của gia chủ, nhưng chỉ nên bày lên mâm, đặt lên một cái bàn riêng rẽ để phía trước bàn thờ với đầy đủ bát, đũa, thìa, muỗng, chén uống rượu như thể dọn mâm tiệc đãi khách. Chờ cho cháy hết 2/3 chân hương thì con cháu được phép phá cỗ.


8. Sớ cúng: Tôi có xem dăm ba cái sớ cúng của các dòng họ ở Nghệ Tĩnh, Tất cả đều một phom mẫu như nhau nội dung thế này:


Sớ Khấn lạy Trời Phật Thần Thánh


(mẫu)


Duy!


Việt Nam Cộng Sản Hoàng Triều


Nhâm Thìn Niên tuế, Đinh Mùi nguyệt (tháng), ……Nhật (ngày), …..Khắc (giờ)….


… tỉnh, … huyện, … phố,…(số nhà)…cư gia (nếu ở Từ đường thì đọc …(họ)…Từ đường gia tộc)


Con kính lạy Việt Nam Hoàng thiên Hậu thổ (một vái)


Con kính lạy! Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân – Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần – Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chính Thần (một vái)


Con kính lạy các Chư vị Việt Nam Thánh Quốc


Con kính lạy Thành hoàng bản địa…. (tên địa phương)…


Tín chủ con là:


…. và gia quyến, cùng nhất tâm cúi lạy Chư Thiên, Chư Địa, Chư Thần, Chư Phật, Chư Thánh;


Cúi lạy Thành hoàng bản thổ đại vương thần thánh gia ân, cho phép gia quyến chúng con được mời Tổ tiên của chúng con về tại địa chỉ: … tỉnh, … huyện, … phố,…(số nhà)…cư gia (nếu ở Từ đường thì đọc Lê / Nguyễn / Trần…. Từ đường gia tộc) để bàn bạc việc gia đình đại sự là …


Lòng thành lễ mọn, hương đăng, hoa quả, trà rượu, thanh tước chi nghi, dâng bày ra trước hương án, kính cẩn lạy dâng, kính cáo chư vị linh thần, cúi mong soi xét cho chúng con được thể theo sở nguyện. Đồng thời cúi xin linh thiêng phù hộ độ trì cho chúng con khởi sự dược hanh thông mọi bề, phúc đức an lành, gia đạo vẹn toàn như ý.


Cẩn cáo ! (Ba lạy)


Sớ khấn gia tiên


(Mẫu: Sau khi khấn Trời Phật Thần Thánh)


Cận di phỉ lệ chi nghi cảm kính cáo vu:


(Hoặc nói theo Quốc Ngữ: Hương đăng hoa quả thanh tước chi nghi lên trước linh đài kính cẩn báo cáo!)


– Tằng Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê (Nguyễn/Võ/Trần…) mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy cố nội)…thụy chất trực phủ quân


– Tằng Tổ tỉ y phu chức Lê mạnh công chính thất…(họ tên của Bà cố nội)…từ thuận phu nhân


– Nội Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy ông nội)…thụy chất trực phủ quân


– Tằng Tổ tỉ y phu chức Lê mạnh công chính thất…(họ tên của Bà nội)…từ thuận phu nhân


– Nội Tổ khảo Tiền hương trung kỳ lão Lê mạnh công (nếu là con thứ thì đề là Lê quý công)…(tên đệm và tên húy ông nội)…thụy chất trực phủ quân


– Hiền khảo (cha) ….xướng như trên bài vị….


– Hiền tỉ (mẹ)… xướng như trên bài vị


Hậu duệ con là Lê/Nguyễn/Bùi quý công … (tên đệm và tên chủ nhà)…cùng toàn thể gia quyến. Nay nhân …( lý do cúng: giỗ / rằm…)…


Cây có cội, nước có nguồn, ơn Tiên Tổ vun trồng công đức.


Lòng thành lễ mọn, hương, đăng, hoa, quả, thanh tước chi nghi, dâng bày ra trước hương án, kính cẩn lạy dâng. Cúi xin các Vị Cao, Tằng, Tổ, Khảo / Cao, Tằng, Tổ, Tỉ, cùng các vị Đường Bá (bác), Đường Thúc (chú), Đường Cô (cô), Bào Huynh (anh trai), Bào Đệ (em trai)… chứng giám lòng thành, âm phù dương trợ, sở nguyện tòng tâm, cho phép tín chủ được cử hành lễ …


Muôn vàn đội ơn Gia tiên linh thiêng phù hộ độ trì cho hậu duệ cháu con được muôn đời Tấn phúc, tấn lộc, tấn tài, tấn bình an, gia đạo vạn sự vẹn toàn như ý!


Cẩn cáo !


9. Ai thì được thờ ai? Tôi đã có bài về tại sao người Việt Nam nhận mình là con của Rồng, nhân đây tôi cũng nói luôn vì sao chúng ta lại là cháu tiên?


Chúng tai ai mà không thường được nghe hàng ngày hai chữ “gia tiên”. Vậy thì thiết nghĩ cũng nên có kiến thức hiểu biết xem “tiên” là ai?


Tiên của người Việt không phải là các tiên nữ ở trên thượng đế. Người Việt gọi chức danh của những người đã khuất trong bài sớ như sau:


– Cha/mẹ thì gọi là hiền khảo/hiền tỉ


– Ông/bà thì gọi là tổ khảo/tổ tỉ


– Cụ thì gọi là tằng tổ khảo/tằng tổ tỉ


– Kị thì gọi là cao tổ khảo/cao tổ tỉ


– Và từ vị thân sinh của cao tổ khảo đồ về trước đến đời thứ 2 được gọi là tiên tổ khảo


– Đời thứ nhất gọi là thuỷ tổ


Như vậy thì đã rõ tiên là ai, và tập quán người Việt quy định cấp bậc được phép thờ phụng tiên tổ như sau:


– Trưởng tộc: phải thờ tất cả từ thuỷ tổ – tiên tổ – cao – tằng – tổ – khảo đổ xuống,


– Trưởng chi họ: phải thờ 4 đời gồm : Cao tổ – tằng tổ – tổ – khảo (cao tổ được lên tiên khi trong chi họ có thế hệ thờ cúng mới, ví dụ khảo chết thì con trưởng đảm nhiệm ngôi vị thờ cúng, lúc đó Cao tổ khảo được rước bài vị sang nhà thờ tộc để làm lễ lên tiên. Nếu dòng họ nào chưa có nơi thờ tự dòng tộc chính thống, thì bài vị tiên tổ được xếp cất vào một hòm gỗ không tiếp tục thờ phụng nữa);


– Con trưởng trong gia đình thì thờ 3 đời: Tằng – tổ – khảo


– Con thứ trong gia đình thì chỉ thờ khảo, hoặc tổ – khảo mà thôi


Như vậy là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ giới thiệu về phương pháp thờ cúng trong gia đình. Hy vọng ai đã quan tâm thì nên đọc cho kỹ, hiểu cho thấu đáo để thờ phụng cho đúng ý nghĩa, thoát khỏi sự u mê của các thầy cúng bày trò dị đoan lừa tiền dân chúng. Tu tâm mà giữ lấy cái chân thiện mỹ, cái phước đức lâu bền cho gia đình, cho dòng họ được hưng thịnh muôn đời


(Sưu Tầm)

Đăng bởi Để lại phản hồi

Đức Phật dạy thế nào về một người bạn chân thật

Người bạn là bóng mát bên đường mà ta có thể nghỉ chân, là cốc nước trong lành giữa trưa hè oi bức, là chiếc dù che ta dưới cơn mưa và là chiếc áo ấm khi mỗi mùa đông đến. Với giá trị tinh thần lớn lao đó, nên dân gian có câu ‘Ăn cơm có canh, tu hành có bạn’. Đây là câu nói đơn sơ, mộc mạc; thế nhưng, đầy đủ nghĩa tình. Không có canh, ăn cơm nghẹn lắm, khó nuốt làm sao; cũng vậy, con đường tu hành như thuyền chèo ngược nước, ai từng đi mới thấy cái khó của nó.






Cho nên, đi trên con đường đó, nếu không có người bạn song hành, chúng ta sẽ vất vả hơn nhiều. Vất vả không có nghĩa là không đến đích, cũng như không có canh không có nghĩa là không nuốt được mà là khó nuốt thôi.


Tuy nhiên, dù bạn là gì gì đi nữa thì mỗi chúng ta cũng phải tự nỗ lực một mình trên con đường đi tới, đó là con đường của độc cư thiền định, mà đức Phật đã từng dạy trong bài kinh cuối cùng trước khi nhập Niết bàn ‘Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi’.


Một con đường tự khám phá bản thân để tìm ra câu giải đáp cho cả vũ trụ nhân sinh. Đó là một con đường không phải giản đơn, mà mỗi người tự đối diện với chính tham ái và chấp thủ của tự thân, phủ nhận và không sống cùng với nó.


Trong cuộc sống thường nhật, việc chọn cho mình một người bạn tốt, một người bạn chân thật là điều quan trọng và cũng là cần thiết đối với mỗi một chúng ta. Dù bạn là tu sĩ hay không phải tu sĩ thì vẫn phải xem việc trui rèn nội tâm, sửa đổi tật xấu là điều cấp thiết. Khi nói đến tu, người ta thường chỉ nghĩ đến những người tu sĩ. Không, tất cả mọi người đều phải tu, vì tu là sửa, sửa đổi những thói hư tật xấu đó chính là tu.


Xã hội được cấu tạo từ những nhân tố bé nhỏ như chúng ta, nếu nhân tố đó thiếu tính thiện thì xã hội sẽ rơi vào đen tối, căng thẳng, và sẽ không bao giờ có hạnh phúc, an lạc.


Vậy thì thế nào là một người bạn tốt, một người bạn chân thật?


Ở đây, xin lược trích lời đức Phật dạy ở trong Trường Bộ, kinh Giáo thọ Thi ca la việt, số 31, về một mẫu người chân thật cần nên làm bạn . Đây là bài kinh được đức Phật dạy cho gia chủ Thi ca la việt tại Ràjagaha (Vương Xá thành):


Này Gia chủ tử, có bốn loại bạn này phải được xem là bạn chân thật: Người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật; người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là bạn chân thật; người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là bạn chân thật; người bạn có lòng thương tưởng phải được xem là bạn chân thật.


1. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật: Che chở cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, che chở của cải cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, là chỗ nương tựa cho bạn khi bạn sợ hãi, khi bạn có công việc sẽ giúp đỡ cho bạn của cải gấp hai lần những gì bạn thiếu. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là người bạn chân thật.


2. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật: Nói cho bạn biết điều bí mật của mình; giữ gìn kín điều bí mật của bạn; không bỏ bạn khi bạn gặp khó khăn; dám hy sinh thân mạng vì bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật.


3. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật: Ngăn chận bạn không làm điều ác; khuyến khích bạn làm điều thiện; cho bạn nghe điều bạn chưa nghe; cho bạn biết con đường lên cõi chư Thiên. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật.


4. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật: Không hoan hỷ khi bạn gặp hoạn nạn; hoan hỷ khi bạn gặp may mắn; ngăn chận những ai nói xấu bạn; khuyến khích những ai tán thán bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật.


Bài kinh đã nêu ra bốn loại người bạn và được xem là người bạn chân thật. Mỗi loại người bạn như vậy bao gồm bốn trường hợp khác nhau để nói lên những đức tính cần thiết của mỗi loại người bạn. Sống với một trong bốn loại người bạn đó, chắc chắn chúng ta sẽ được lợi ích lớn, được hạnh phúc lớn và được an lạc lớn. Vấn đề hạnh phúc của tự thân và tha nhân luôn được xem là mục đích cuối cùng của cuộc sống.


Trong việc ‘chọn bạn mà chơi’, ai cũng mong muốn người bạn của mình là một người tốt, một người chân thật. Điều đó nói lên rằng, chúng ta là người yêu thích sự chân thật, yêu thích sự lành mạnh, yêu thích cái gì mang đến lợi ích lớn cho tự thân và tha nhân. Quen thân với bạn hiền thì như đi trong sương móc, tuy không ướt áo nhưng lúc nào cũng thấm đậm hơi sương, “Thân phụ thiện giả, như vụ lộ trung hành, tuy bất thấp y, thời thời hữu nhuận”.


Ngược lại là một sự tối tăm, không bao giờ thấy được điều hay lẽ phải. Vì thế, ngài Quy Sơn dạy, đi xa thì phải nhờ bạn tốt để luôn lọc sạch tai mắt, trú ở thì phải chọn bạn hiền để nghe điều chưa nghe, “Viễn hành yếu giả lương bằng, sác sác thanh ư nhĩ mục, trú chỉ tất tu trạch bạn, thời thời văn ư vị văn”. Cho nên mới nói, sinh ra ta là cha mẹ, tác thành ta là bạn bè, “sinh ngã giả phụ mẫu, thành ngã giả bằng hữu”.


Sự cần thiết của một người bạn trong cuộc sống chính là điều mà ai trong chúng ta cũng cảm thấy như vậy. Sự cần thiết của tâm hồn chính là điều mà chúng ta cần chứ không phải cần một người bạn thể xác. Khi người bạn đó trong trường hợp hội tụ đầy đủ những đức tính cần thiết trên thì có thể nâng cao lên thành Tri âm, tức là một sự hài hòa cảm thông lớn.


Tri âm có nghĩa là cùng hiểu nhau, cùng thông cảm nhau để hướng về cùng một hướng. Ở đây chữ Tri nói lên sự cần thiêt của trí tuệ trong bất cứ sự việc gì dù đó chỉ là một người bạn. Một người bạn như vậy thì đó thật sự là một thiện hữu tri thức, là một pháp lữ quý kính trong cuộc sống hiện tại và mai sau.


“Bạn sẵn sàng giúp đỡ,
Bạn chung thủy khổ vui,
Bạn khuyến khích lợi ích,
Bạn có lòng thương tưởng.
Biết rõ bốn bạn này,
Người trí phục vụ họ,
Như mẹ đối con ruột”.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Mẹo trị trẻ khóc đêm

Mình vì có tật…: “LÀM BIẾNG BẨM SINH” nên làm cái gì cũng luôn luôn tìm con đường ngắn nhất. Nhận thấy, thay vì phải làm Bùa, thắt Chỉ , hơi mất công, mình biết cách này rất dễ: KHÔNG CẦN DÙNG BÙA, AI AI CŨNG LÀM ĐƯỢC, VÀ KẾT QUẢ 100%, xin viết ra trình với các bạn:






CÁCH TRỊ TRẺ KHÓC ĐÊM
1/- Mua Hương,Hoa, Trà, Quả cúng Phật, trường hợp không có bàn Thờ Phật, thì sắp lễ vật trên 1 cái bàn, Nghĩ đến bất cứ 1 Vị Phật nào cũng được.
2/-Đặc biệt Hoa phải có đủ 5 loại Hoa, hoặc 5 màu khác nhau. Không dùng Hoa có gai.
3/-Sau khi dâng lễ vật Cúng Phật xong, khi Nhang gần cháy hết, thì lại bàn Thờ Phật thầm Khấn:
-“Cho con xin Hoa của Phật trị trẻ khóc đêm”
Rút ra 5 nhánh Hoa, cầm cành, nhúng Hoa vào ca nước lạnh, xong vỗ 5 đóa Hoa đó trên trán của Trẻ, rồi nói:
-“Ngoan nhé, tối nay ngủ ngon nhé, không được khóc đêm nữa nhé”
Vỗ nhẹ 3 lần vào trán và nói như thế là xong.
Ngay đêm đó trẻ sẽ hết khóc liền.
Cách này tôi đã chỉ cho rất nhiều người tự làm, đều đạt kết quả. Hôm nay xin post lên để chia xẻ với các bạn bốn phương.


Trân Trọng



Đăng bởi Để lại phản hồi

Màu sắc là phương tiện mạnh mẽ để truyền tải thông điệp trong các tôn giáo.

Màu sắc đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống chúng ta, chúng là phương tiện mạnh mẽ để truyền tải những thông điệp và ý nghĩa. Khi bạn nhìn thấy màu đen, bạn nghĩ đến điều gì? Cái chết? Tang lễ?
Thật ra câu trả lời phụ thuộc rất nhiều vào nơi bạn đang sinh sống vì có những nơi màu đen không chỉ tượng trưng cho sự mất mát mà chúng còn là đại diện của sự giàu có, sức khỏe và những điều huyền bí. Điều đó có nghĩa là ở những nền văn hóa khác nhau, mỗi màu sắc sẽ được quy định những ý nghĩa khác nhau.
Để tìm hiểu rõ hơn, mời các bạn theo dõi infographic sau đây!
 

 
Đăng bởi Để lại phản hồi

Chữ viết Lưỡng Hà

      Chữ viết ở Lưỡng Hà đầu tiên do người Xume sáng lập vào cuối thế kỷ IV TCN. Trong thời kỳ đầu, chữ viết của Lưỡng Hà cũng là chữ tượng hình. Ví dụ, muốn viết các chữ “chim, cá, lúa, nước” thì vẽ hình con chim, con cá, bông lúa, làn sóng. Dần dần, các hình vẽ được đơn giản hóa, tức là không phải vẽ toàn bộ sự vật mà chỉ vẽ một bộ phận tiêu biểu mà thôi. Ví dụ: chữ “trời” chỉ vẽ một ngôi sao, chữ “bò mộng” chỉ vẽ một cái đầu bò với hai cái sừng dài.





      Trên cơ sở chữ tượng hình, để biểu thị các khái niệm, động tác… người ta phải dùng phương pháp biểu ý. Ví dụ: muốn viết chữ “khóc” thì vẽ con mắt và nước, “đẻ” thì vẽ chim và trứng, “bò rừng” thì vẽ bò và núi. Lúc đầu, hình cái cày vừa có nghĩa là cái cày, lại có nghĩa là người cày. Để phân biệt, bên cạnh hình cái cầy có thêm hình gỗ thì có nghĩa là cái cày, bên cạnh hình cái cày có thêm hình người thì tức là người cày.
      Người ta còn dùng hình vẽ để mượn âm thanh. Ví dụ: muốn viết âm “xum” thì vẽ bó hành, vì bó hành có âm là “xum”. Các hình vẽ chỉ âm tiết còn kết hợp với một số hình khác để phân biệt các khái niệm. Ví dụ: hình bàn chân kết hợp với âm tiết NA là “đi”, hình bàn chân kết hợp BA là “đứng”. Chữ hài thanh còn dùng để biểu đạt nhiều loại từ khác như giới từ, phó từ… Nhờ có chữ hài thanh, số chữ tượng hình càng ngày càng ít đi. Lúc đầu có khoảng 2000 chữ, nhưng đến thời Lagat (thế kỷ XXIX TCN) chỉ còn lại khoảng 600 chữ.
      Chất liệu dùng để viết là các tấm đất sét còn ướt và những cái que vót nhọn. Viết trên đất sét chỉ thích hợp với những nét thẳng và ngắn; vì vậy, những nét dài được thay thế bằng những nét ngắn và nét cong thì thay bằng nét thẳng. Ví dụ: Cái đầu bò được thay bằng một hình tam giác đỉnh chúc xuống dưới, phía trên có hai đoạn thẳng biểu thị hai cái sừng. Đồng thời, do dùng que viết trên đất sét nên chỗ mới ấn vào thì nét to, chỗ rút bút ra thì nét nhỏ, do đó các nét đều giống hình cái nêm. Do sự bố trí khác nhau của các nét ấy mà tạo thành các chữ khác nhau. Loại chữ này được gọi là chữ tiết hình tức là chữ hình nêm.
      Tổng số chữ tiết hình không đến 600 chữ, trong đó dùng chỉ có 300 chữ, nhưng mỗi chữ thường có vài nghĩa.
     Chữ tiết hình cũng do người Xume phát minh, về sau, người Accat, người Babilon, người Atxiri và các tộc khác ở Tây Á cũng dùng chữ tiết hình để viết ngôn ngữ của mình. Đến khoảng năm 1500 TCN, chữ tiết hình thành văn tự ngoại giao quốc tế, ngay Ai Cập khi ký điều ước hoặc các văn kiện ngoại giao cũng dùng loại chữ này. Về sau người Phêxini và người Ba Tư đã cải tiến chữ tiết hình thành vần chữ cái. Tuy nhiên, ở Lưỡng Hà, các tăng lữ, quan tòa và nhà chiêm tinh vẫn dùng chữ tiết hình đến trước, sau công nguyên mới bị chữ phiên âm hoàn toàn thay thế.
      Lúc đầu, chữ tiết hình được viết từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Về sau, vì viết như thế có một điều bất tiện là khi viết đến dòng thứ hai thì tay xóa mất dòng thứ nhất vừa viết, vì vậy người ta đổi thành cách viết từ trái sang phải và theo hàng ngang, đồng thời mỗi chữ cũng quay 90 độ. Sau khi viết xong quay tấm đất sét lại thì vẫn thành viết từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Nếu sách gồm nhiều trang thì mỗi tấm phải có tên sách và số trang, đồng thời đầu trang sau phải nhắc lại dòng cuối cùng của trang trước. Sau khi viết xong, muốn bảo tồn lâu dài thì cho vào lửa nung. Loại “giấy” này có ưu điểm là không bị mục nát, mối mọt, không bị cháy, nhưng lại có khuyết điểm là dễ vỡ và quá nặng. Một quyển sách 50 trang thì phải nặng đến 50 kg. Ngày nay, ở Ninnivơ – kinh đô của Atxiri ngày xưa đã phát hiện được trên 20.000 tấm đất sét như vậy, kể cả ở các nơi khác đã phát hiện được mấy trăm ngàn tấm.
      Từ cuối thế kỷ XVIII, một học giả Đan Mạch tên là Cacxten Nibua bắt đầu nghiên cứu cách đọc chữ tiết hình trên một minh văn do thương nhân Ý đưa từ Ba Tư về châu Âu nhưng chưa thành công. Năm 1802, một giáo viên trung học người Đức tên là Grotefend đã đọc được hai đoạn minh văn. Grotefend đã đọc được 12 chữ trong bảng vần chữ cái của Ba Tư, về sau được chứng minh là 9 chữ cái trong số đó hoàn toàn chính xác. Như vậy, Grotefend đã đặt cơ sở cho việc đọc chữ tiết hình.
        Năm 1835, nhà du lịch người Anh Rawlinson phát hiện được một bản minh văn khắc trên vách đá, cao 4m, dài 20m, gồm 400 hàng. Ông đã bỏ ra mấy năm để chép bản minh văn ấy. Việc đọc chữ tiết hình được tiến triển thêm một bước.
       Năm 1857, bốn độc giả đã độc lập nghiên cứu nhưng đã cùng đọc được một đoạn minh văn chữ tiết hình Atxiri. Vì vậy, năm này được coi là năm khai sinh môn Atxiri học. Từ đó, cả kho tàng tư liệu của khu vực Lưỡng Hà thuộc các lĩnh vực văn học, lịch sử, pháp luật, kinh tế, khoa học… được dịch ra ngôn ngữ hiện đại.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Lý giải vấn đề tâm linh và ngoại cảm

Tâm linh và ngoại cảm luôn là vấn đề gây nên sự tranh cãi chưa bao giờ dứt. Tiến sĩ Vũ Thế Khanh, Tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng UIA, đưa ra quan điểm về vấn đề này.






TS. Vũ Thế Khanh: Tâm linh là từ Hán Việt, được ghép bởi 2 thành tố là Tâm và Linh. Tâm linh chính là “Tâm trong sáng, mầu nhiệm”. Nghịch nghĩa với “Linh” là “Ám muội”, trái ngược với Tâm Linh là Tâm ám muội. Người ta chỉ dùng từ “Linh” cho các bậc thần thánh (Thần Linh. Thánh Linh, Thiên Linh, Địa Linh), chứ không dùng từ “Linh” cho “Ma Quỷ”. Không ai gọi là “Ma linh”, “Quỷ linh”, mà chỉ gọi “Ma ám”, “Quỷ ám”. Hiện nay, khái niệm Tâm linh đa phần là dùng để chỉ cho thế giới vô hình của người đã chết, hoặc các sự việc huyền bí, thậm chí cả “ma quỷ” cũng gọi là “chuyện tâm linh”… Cần phân biệt rõ, “Ma Quỷ” và Tâm Linh là 2 phạm trù khác xa nhau về ý nghĩa, cũng như bác sỹ thì có thể nghiên cứu về sức khỏe, về vi trùng, nhưng bác sỹ không đồng nghĩa với vi trùng.


Tại trụ sở số 1, Đông Tác, Kim Liên, Hà Nội vừa là văn phòng của Liên hiệp khoa học UIA, đồng thời cũng là nơi thực hành các ca khảo nghiệm về khả năng đặc biệt do 3 cơ quan (Liên hiệp khoa học UIA, Viện Khoa học hình sự- Bộ Công an, trung tâm bảo trợ VH KTTT) đồng tổ chức. Và cũng là nơi tổ chức các pháp hội tâm linh “uống nước nhớ nguồn” để tri ân, cầu siêu cho các anh hùng liệt sỹ, những người có công với nước với dân và gia tiên các dòng họ. Để thực hiện những chức năng này thì tại đây đã bài trí ban thờ Phật, ban thờ Hội đồng Tâm linh các Liệt sỹ và gia tiên các dòng họ, ngoài ra còn có các phòng dùng cho việc đào tạo Tin học, ngoại ngữ, phòng khám và điều trị bệnh miễn phí… Với chức năng như vậy, và căn cứ vào khái niệm về Tâm Linh thì quý vị có thể gọi nơi đây là cái gì thì tùy theo sự lĩnh hội của mỗi người.




Tiến sĩ Vũ Thế Khanh Tổng Giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ UIA.


Ranh giới giữa khoa học và mê tín dị đoan là vô cùng nhỏ
2. Nguyên nhân sâu xa nào khiến TS có ý định thành lập UIA, đặc biệt là nghiên cứu lĩnh vực ngoại cảm – một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng cũng rất nhạy cảm ở nước ta?


TS. Vũ Thế Khanh: Tôi là người có tính phiêu lưu, thích nghiên cứu những gì mới lạ, nhất là những vấn đề mà khoa học hiện nay chưa lý giải thấu đáo. Để triển khai những ý tưởng nghiên cứu và ứng dụng khoa học Công nghệ mới, Liên hiệp UIA đã được thành lập theo tinh thần nghị định 35/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về quản lý khoa học và công nghệ.
Những năm 90 của thế kỷ trước, Tin học còn là lĩnh vực quá mới mẻ đối với nước ta, tiếp đến là các phương pháp dưỡng sinh không dùng thuốc mà vẫn có tác dụng đẩy lùi bệnh tật, rồi các hiện tượng về khả năng đặc biệt, về khả năng ngoại cảm, về thế giới Tâm linh, về khả năng đọc sách siêu tốc, về những bài thuốc dân tộc chữa ung thư máu, chữa HIV/AIDS…,Những nội dung này đều là mục tiêu hấp dẫn trong việc nghiên cứu và ứng dụng của Liên hiệp UIA.
Tôi đã có những ý tưởng nghiên cứu về thế giới siêu hình ngay từ khi tôi còn nhỏ và nhất là thời kỳ đang giảng dạy tại Trường Đại học Kiến trúc, bởi tôi có nhiều nhân duyên tiếp cận với các hiện tượng này. Khi còn tại thế, bàn tay của mẫu thân tôi có năng lực kỳ lạ: người trong làng hễ đau yếu là đến nhờ mẹ tôi “chữa”, chỉ có xoa xoa, vỗ vỗ…thế mà bệnh lại thuyên giảm. Không những thế, mẹ tôi còn dự báo nhiều điều rất khác thường, trong khi đó cụ lại chưa hề biêt đọc chữ. Thuở đó tôi cho rằng mẹ tôi mê tín dị đoan, nên không cho cụ “chữa bệnh”, thậm chí tôi còn ngăn cản, không ủng hộ việc mẹ đi lễ chùa, vì tôi cũng đã nghĩ rằng “đạo Phật là duy tâm, yếm thế, chủ quan…” Do vậy, tôi đến với những sự kiện Tâm linh, ngoại cảm bằng chủ nghĩa hoài nghi. Tôi chưa thể tin vào những sự kiện huyền bí nếu mình chưa có dịp kiểm chứng.
Tôi đã trực tiếp đến mời các chuyên gia của Viện Khoa học Hình sự – Bộ Công an để cộng tác nghiên cứu, nhằm tìm ra các bằng chứng vạch trần sự ngụy tạo của những đối tượng tự xưng là người “có khả năng đặc biệt.” Và trong chương trình này, chúng tôi đã thu hoạch được nhiều điều bổ ích. Đó là việc phát hiện ra trong số hàng trăm người tự xưng là “nhà ngoại cảm” thì có trên 90 % là rởm, là giả danh, cùng với việc tìm ra ra muôn vàn mánh khóe lừa đảo của chúng.
Tuy nhiên, chương trình nghiên cứu cũng đã kiểm chứng, tìm ra những người có khả năng ngoại cảm thực thụ, mặc dù số này chỉ chiếm chưa đầy 10% trong số những người đăng ký khảo nghiệm. Nghiên cứu Tâm linh, ngoại cảm là sự kiện nhạy cảm, và không hề dễ dàng bởi “ranh giới giữa khoa học và mê tín dị đoan là vô cùng nhỏ, thậm chí không biết cắm mũi kim vào đâu”. Do vậy nếu không có thái độ nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học thì dễ sa đà vào mê tín dị đoan, và nếu nghiên cứu qua loa đại khái, giáo điều, quan liêu thì mắc phải hội chứng “phủ định tất cả những điều mà mình chưa biết”. Trong quá trình khảo nghiệm khoa học, nếu không có sự kiên trì, dũng cảm, thiện tâm thì cũng không đủ cam đảm để khuyến khích, nâng niu, bảo vệ và khai thác những tài nguyên trí tuệ. Điều phát hiện lớn nhất của chúng tôi là đã khẳng định được: ngoại cảm là tài nguyên trí tuệ và hoàn toàn có thật.


3- Năm qua là một năm khá “sóng gió” với ngoại cảm khi liên tiếp các vụ việc chấn động dư luận. Nhiều người nghĩ rằng UIA là nơi “đỡ đầu” cho các nhà ngoại cảm. Chắc hẳn UIA cũng bị ảnh hưởng ít nhiều?
TS. Vũ Thế Khanh: UIA là cơ quan nghiên cứu khoa học với mục đích vì lợi ích cộng đồng, do vậy mọi sự biến động của xã hội cũng đều ảnh hưởng đến UIA. Tuy nhiên, “sóng gió” cũng là một thử thách cho bản lĩnh của những nhà hoạt động khoa học chân chính, thiện tâm. Nếu ta làm việc vì những mục tiêu lành mạnh, ích nước lợi dân thì “sóng gió” cũng là yếu tố tích cực để loại bỏ những đối tượng bất chính, giả danh ngoại cảm, hoặc “ăn theo” khoa học hướng thiện. Chân lý không phải chỉ tồn tại ngày một, ngày hai, và nó cũng không dễ bị xóa bỏ bởi một vài quan điểm chính trị nhất thời, mà nó có khả năng vượt qua không gian, vượt qua thời gian, vượt qua biến cố của mọi xu hướng chính trị.
Thông qua sự kiện này, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và dư luận xã hội càng hiểu rõ và ghi nhận về những đóng góp tích cực của Liên hiệp UIA cùng những bậc Thiện trí thức trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, và càng rõ thêm những đóng góp thầm lặng của những nhà ngoại cảm chân chính, đã giúp cho hàng chục vạn các gia đình tìm được mộ thất lạc, góp phần tích cực vào việc thực hiện nghĩa cử thiêng liêng “đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn”, tri ân những người có công với nước với dân. Những nhà ngoại cảm thực thụ cũng đã và đang nhận được sự quý trọng, cảm thông từ những người có thiện chí. Nhiều gia đình liệt sỹ đã động viên, bày tỏ sự ủng hộ, sẵn sàng chia sẻ những nỗi bức xúc cùng những nhà ngoại cảm chân chính. Những đối tượng giả danh ngoại cảm, hành nghề mê tín dị đoan, cũng như những kẻ đố kỵ với những thành tựu ngoại cảm, những người có hành vi tiêu cực, gian lận… thì rất sợ ngoại cảm chân chính phanh phui sự thật, nên chắc chắn sẽ chống đối quyết liệt và ra sức xuyên tạc, bôi nhọ danh dự của các nhà ngoại cảm chân chính.
Tâm linh vận hành hoàn toàn đúng theo luật Nhân – Duyên – Quả
4. UIA đang có những biện pháp gì để bảo vệ những nhà ngoại cảm đã được UIA công nhận khả năng?
TS. Vũ Thế Khanh: Muốn bảo vệ những nhà ngoại cảm chân chính thì trước hết phải phân biệt rõ thật và giả, phải đề nghị các cơ quan pháp luật trừng trị những kẻ giả danh ngoại cảm, giả danh tâm linh hành nghề mê tín dị đoan. Đồng thời cũng phải có những biện pháp thỏa đáng nhằm tẩy rửa những kẻ tham nhũng, lạm dụng quyền hành tráo đổi thông tin, tung dư luận thất thiệt về Tâm linh, ngoại cảm chân chính, xúc phạm đến hương linh Liệt sỹ và những người đã khuất.
Những hành vi bất thiện, mưu mô xảo trá chắc chắn sẽ bị luật Nhân Quả “hỏi thăm”. Ban khảo nghiệm sẽ công bố những kể giả danh ngoại cảm để mọi người cảnh giác, đồng thời cũng sẽ giới thiệu những thành tích suất sắc của những nhà ngoại cảm thực thụ trong việc tìm kiếm thông tin về các ngôi mộ bị thất lạc, góp phần tích cực trong việc thực hiện nghĩa cử đến ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn. Ban khảo nghiệm cũng sẽ giới thiệu THUẬT TOÁN trong quy trình khảo nghiệm và khuyến cáo những giải pháp hữu hiệu nhằm tăng độ tin cậy trong xác suất thông tin của các khả năng ngoại cảm, nhằm phát huy tính tích cực, khắc phục các mặt còn hạn chế trong việc triển khai ứng dụng các thành tựu của môn khoa học này, đối với những nhà ngoại cảm chân chính, cần đề nghị với cơ quan chức năng Nhà nước có hình thức khen thưởng thỏa đáng, và có những phương án phù hợp để quản lý, và khai thác năng lực trí tuệ của họ vào phục vụ cho những chương trình ích nước lợi dân.


5- Được biết sau khi thành lập UIA, những người đang làm việc và đang sinh hoạt tại ngôi nhà số 1 Đông Tác có khi nào bị ám ảnh bởi những hoạt động tâm linh ở đây không?
TS. Vũ Thế Khanh: Như trên đã nói, Tâm linh là “cái tâm trong sáng, vi diệu”, do vậy những ai hoạt động Tâm linh chân chính đều đem đến cho gia đình mình nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung những ảnh hưởng tốt lành. Không nên nói rằng “bị ám ảnh bởi hoạt động Tâm linh”, mà cần nói rằng “được hạnh hưởng những điều tốt lành bởi hoạt động Tâm linh”. Tâm linh chính là cái tâm trong sáng thì không thể bị ám ảnh bởi những kết quả tiêu cực được. Tất cả các thành viên đang làm việc và sinh hoạt tại số 1, Đông Tác đều quý kính Tam Bảo và đều quy y đạo Phật, đều đã được các bậc minh sư hướng dẫn để tập tu theo giáo lý Thiền Tông, do vậy họ đều tìm thấy sự an nhiên tự tại trong đời sống hàng ngày, cho dù xa hội luôn chuyển vần với những biến cố khi nắng khi mưa, khi thì thuận duyên, khi thì nghịch duyên.


6- Tiếp xúc với nhiều người có khả năng đặc biệt, TS có bí quyết nào riêng để ngay từ lần đầu tiên đã biết được người đó có khả năng đặc biệt thật hay không?
TS. Vũ Thế Khanh: Khi làm bất cứ nghề gì, muốn thành công đều cần 2 yếu tố: năng khiếu và kinh nghiệm thực hành. Nếu bạn có được cả 2 điều kiện này thì khắc tìm được bí quyết để dẫn đến những giải pháp thành công. Khi làm khảo nghiệm, như có một sự sắp xếp vi diệu nào đó, chỉ cần tiếp xúc khoảng mươi phút là chúng tôi đã có thể sáng tạo ra các bài “test” cho phù hợp với từng đối tượng đến xin tham gia khảo nghiệm. Mỗi đối tượng đều có bài thi riêng, và các “thí sinh” đều phải tâm phục khẩu phục bởi các cách thẩm định khách quan của ban khảo nghiệm. Đương nhiên, với các đối tượng thuộc dạng “dị nhân hoang tưởng” hoặc lừa đảo tinh vi, khi mánh khóe của họ bị phơi bày thì thường có những hành vi tiêu cực, hoặc thay tên, đổi họ, đổi địa chỉ để tiếp tục hành nghề mê tín dị đoan.


7- Từ khi làm công tác nghiên cứu tâm linh, TS thấy cuộc sống của mình có những thay đổi gì?Hiện tại, TS có bị ảnh hưởng nhiều bởi chủ nghĩa duy tâm?
TS. Vũ Thế Khanh: Đương nhiên, khi nghiên cứu về thế giới Tâm linh, bạn muốn có được “lăng kính chiếu yêu” để phân biệt được rõ ràng thật giả thì trước tiên phải nghiên cứu Phật Pháp, bởi Phật pháp là SIÊU KHOA HỌC. Nếu bạn hiểu rằng trí tuệ là tài nguyên, mà đã là tài nguyên thì trí tuệ có phải là lực lượng vật chất hay không?. Khi nghiên cứu Tâm linh, bạn không nên vướng vào thuật ngữ Duy tâm hay Duy vật. Sở dĩ người ta tách 2 phạm trù này ra là vì họ coi trí tuệ cũng như năng lượng tinh thần không phải là một tài nguyên. Theo lăng kính của thế giới Tâm linh, hằng hà sa số vũ trụ không chỉ là không gian 3 chiều mà còn nhiều hơn thế nữa, và sự tồn tại cũng như vận hành của thế giới Tâm linh là hoàn toàn theo quy luật khách quan, bất kể bạn có tin hay không tin vào nó. Với lăng kính Tâm linh, ta sẽ nhìn thế giới với cái Tâm rộng mở và nhân ái hơn. Nếu bạn tin và ứng dụng hợp lý thì sẽ được lợi lạc, nếu không tin hoặc hiểu sai, ứng dụng sai thì sẽ bị thiệt thòi – bởi Tâm linh vận hành hoàn toàn đúng theo luật Nhân – Duyên – Quả.
Xin cám ơn TS!

Đăng bởi Để lại phản hồi

Tôn giáo Ai Cập cổ đại


      Giống như cư dân các quốc gia cổ đại khác, người Ai Cập trong thời kỳ này thờ rất nhiều thứ: các thần tự nhiên, các thần động vật, linh hồn người chết, thần đá, thần lửa, thần cây. Các thần tự nhiên chủ yếu gồm có Thiên thần, Địa thần và Thủy thần. 



Thiên thần gọi là thần Nut, là một nữ thần thường được thể hiện thành hình tượng một người đàn bà hoặc một con bò cái. Địa thần là một nam thần gọi là thần Ghép. Thủy thần, tức là thần sông Nil, gọi là thần Odirix. Chính nhờ có vị thần này mà ruộng đồng tươi tốt, bốn mùa thay đổi, cây chết rồi sống lại. Vì vậy, trong các bài thánh ca ngợi thần Odirix có những câu: “Ngài ban ngũ cốc và thực phẩm trên toàn trái đất cho loài người. Ngài làm cho con người no đủ, Ngài hiện hình thành nước”. Ngoài chức năng nói trên, thần Odirix còn được quan niệm  là thần Âm phủ, Diêm Vương.


       Cũng như loài người, các thần cũng thường kết hợp với nhau và tạo thành những thần mới.Thần không khí Su chính là kết quả của sự kết hợp giữa Thiên thần Nut và Địa thần Ghép. Về sau, cùng với sự hình thành nhà nước tập quyền trung ương, thần Mặt Trời trở thành vị thần quan trọng nhất.Nơi thờ thần Mặt Trời đầu tiên là thành Iunu, người Hy Lạp gọi là Heliopolix. Thần Mặt Trời ở đây gọi là thần Ra.
Tượng Thần Mặt Trời Helios
      “Theo truyền thuyết, thần Ra hiện hình thành một vầng mặt trời xuất hiện từ một đóa hoa sen, từ đó mặt đất mới có ánh sáng. Thần Ra sinh ra thần Nut và thần Ghép. Thần Ghép bị cây cối che phủ, trên mình thần Nut thì đầy tinh tú, những ngôi sao ấy đi thuyền trên thân thể thần Nut. Một hôm thần Ra khóc, từ trong nước mắt của thần Ra đã sinh ra loài người. Đến khi thần Ra già, xương của thần biến thành bạc, thịt của thần biến thành vàng, tóc biến thành đồng. Vì thần Ra đã già nên một số thần và loài người không phục tùng thần Ra nữa. Vì vậy thần Ra sai nữ thần Hato hủy diệt loài người. Khi Hato bắt đầu giết loài người, thần Ra đổi ý, muốn ngăn thần Hato lại. Thần Ra bèn đổ mấy thùng rượu ngon trước mặt Hato, Hato uống say rồi ngủ thiếp đi, do đó loài người được cứu khỏi bị hủy diệt. Sau đó thần Ra cưỡi trên lưng thần Bò bay lên trời”.

      Đến thời trung vương quốc, Thebes trở thành kinh đô của cả nước.Vì vậy thần Mặt Trời Amon của Thebes trở thành vị thần cao nhất của Ai Cập. Thời kỳ này, thần Amon cũng được gọi là thần Amon-Ra. Người Ai Cập tin rằng, hằng ngày thần Amon-Ra ngự thuyền vàng đi trên bầu trời, ban đêm thì xuống thế giới dưới đất, sáng sớm lại lên vương quốc ban ngày và chiếu những tia sáng của mình lên mặt đất. Bài thánh ca ca ngợi thần Amon-Ra viết:

“Thần Amon-Ra nhân từ, xin ngài hãy tỉnh lại!

      Kẻ thống trị cả hai thế giới, vị thần nhân từ và huy hoàng chói lọi. Khi ngài ngự trên vòm cao, các thần và mọi người đều phải lạy vầng thái dương, kẻ thù của ngày cũng phải quỳ gối trước mặt ngài. Trời đang vui mừng, đất đang hân hoan. Ngài đem lại cho các thần và mọi người niềm vui của ngày lễ hội”.

     Đến thời Ichnaton (1424-1388 TCN) thuộc vương triều XVIII thời Tân Vương Quốc, do thế lực của tầng lớp tăng lực thờ thần Amon ở Thebes quá mạnh nên ông đã tiến hành một cuộc cải cách tôn giáo. Ông chủ trương thờ một vị thần Mặt Trời mới gọi là thần Atôn. Thần Atôn được coi là vị thần duy nhất, nên việc thờ cấm các vị thần khác đều bị cấm. Ngoài thần Mặt Trời, người Ai Cập còn thờ thần Mặt Trăng Thoth. Thần Thoth còn được quan niệm là thần văn tự, kế toán và trí tuệ. Thần Mặt Trăng được thể hiện dưới hình tượng một con người đầu chim hồng hạc hoặc đầu khỉ.

      Người Ai Cập cổ đại cũng coi trọng việc thờ người chết. Họ quan niệm rằng trong mỗi con người đều có một hình bóng gọi là “can” (linh hồn) hoàn toàn giống người đó như cái bóng ở trong gương. Khi con người mới ra đời thì linh hồn chui vào trong thân thể, khi con người chết thì linh hồn rời khỏi thể xác. Từ đó, linh hồn tồn tại độc lập nhưng con người không thể nhìn thấy, chỉ có thể thấy được trong giấc mộng. Linh hồn tồn tại đến khi thi thể người chết hủy nát thì mới chết hẳn. Nhưng nếu thi thể được bảo tồn thì linh hồn một lúc nào đó sẽ nhập vào thể xác và con người sẽ sống lại. Chính vì quan niệm đó mà người Ai Cập mới có tục ướp xác. “Người Ai Cập cổ đại tin rằng thế giới âm phủ cũng giống như thế giới trần gian, ở đó cũng có sông Nil, thần Ra ngự thuyền đi trên dó. Chúa tể của Âm phủ là thần Odirix. Người mới chết phải chịu sự xét xử của vị thần này. Khi xét xử, thần Odirix ngồi trên ngai vàng, người chết được giải đến trước mặt thần. Thần Tốt và thần Arubix (thần dẫn linh hồn âm phủ) cân quả tim của người chết, đĩa cân bên kia là nữ thần chân lý và chính nghĩa. Nếu người chết có nhiều tội thì trái tim sẽ nặng, lập tức người chết bị một con yêu quái đến ăn thịt”.

     Người Ai Cập cổ đại còn thờ nhiều loại động vật từ dã thú, gia súc, chim đến côn trùng như chó sói, cá sấu, rắn, sơn dương, cừu, mèo, hồng hạc, đặc biệt là bò mộng Apix. Ngoài các con vật có thực, người Ai Cập còn thờ các con vật tưởng tượng như phượng hoàng, nhân sư.

      “Theo truyền thuyết, phượng hoàng sinh ra từ trong lửa đậu trên một ngọn cây ở Heliopolix (gần Memphix). Tiếng hót của nó hay đến nỗi mặt trời cũng phải lắng nghe. Sáng sớm chính là hiện thân của phượng hoàng được đem dâng cho thần Ra. Đến chiều, khi mặt trời lặn, phượng hoàng chết, sáng hôm sau lại sống lại, lại hót véo von để chào đón bình minh.

      Còn nhân sư (Sphynx) là con vật đầu người mình thú. Người Ai Cập tin rằng loài vật này sống trong sa mạc gần đó. Con nhân sư được quan niệm là kẻ bảo vệ đắc lực chống lại mọi thế lực thù địch và hung hãn. Vì vậy, tượng nhân sư thường được đặt trước đền miếu”.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Cổ vật Đông Sơn

Tinh hoa cổ vật Việt

Vừa qua, Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam phối hợp với Hội cổ vật Thăng Long; Hà Nội tổ chức trưng bày chuyên đề “Cổ vật Việt Nam” gồm hơn 50 cổ vật tiêu biểu, đặc sắc, được chọn lựa kỹ lưỡng từ bộ sưu tập của các cá nhân và Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam. “Cổ vật Việt Nam” gồm nhiều hiện vật làm từ các chất liệu vàng, bạc, đồng, gốm… có niên đại từ văn hoá Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2.500 năm tới thời các chúa Nguyễn (1533 – 1777). Cổ vật phong phú, làm bằng đồng như trống đồng, ấm, chuông, thạp, chân đèn, bình, bát, muôi, chóe… Gốm có gốm men nâu, men trắng, hoa, màu, hoa lam, men lục… Trưng bày chuyên đề mở đầu bằng các cổ vật, trống đồng Đông Sơn, công cụ đồng, tượng người và thú, dao gắn đồng, muôi đồng, đèn đồng… minh chứng cho thời kỳ rực rỡ của văn hoá Đông Sơn. 




Kendy gốm thế kỷ V-VII.

Kendy gốm thế kỷ VI – VIII.

Chân đèn hình người chất liệu đồng thế kỷ IV – VI.

 Nắp đồ đựng, chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bình chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nắp đồ đựng, chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nồi chất liệu bằng gốm, niên đại trước Công nguyên.

Lọ chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bát bồng chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nắp đồ đựng chất liệu gốm, thế kỷ I – II.

Năm 1924, nhiều cổ vật bằng đồng được phát hiện ở làng Đông Sơn bên bờ sông Mã, tỉnh Thanh Hóa. Sự phong phú về các loại đồ đồng ở đây cho thấy kỹ thuật luyện đồng hàng nghìn năm trước, từ nghệ thuật trang trí trên trống đồng Đông Sơn đến công cụ bằng đồng gắn với tôn giáo, tín ngưỡng cổ truyền như thần mặt trời, thần núi, thần sông, thổ sinh, thực khí, ma thuật…; thiên nhiên chan hòa với con người, cỏ cây, hoa lá, muông thú.., Đồ gốm Đông Sơn sử dụng bàn xoay, hình dáng phong phú, bố cục đối xứng ngang dọc xen kẽ. Những chiếc đèn lồng có hình người, hình thú, tượng thú, phản ánh sự tồn tại của thần linh, quan niệm tín ngưỡng thời kỳ Đông Sơn và bản sắc văn hóa, nghệ thuật Lạc Việt không bị đồng hoá bởi ách đô hộ của các triều đình phương Bắc. Mỹ thuật ứng dụng Đông Sơn được các nhà nghiên cứu văn hoá đánh giá là huy hoàng nhất giai đoạn mỹ thuật thời tiền sơ sử Việt Nam và Đông Nam Á.

Tượng thần Brahama, niên đại thế kỷ XII – XIII.

Đồ gốm niên đại thế kỷ IV – VI.

Bát bồng chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bia đá thế kỷ XI.

Tượng Phật bằng gỗ, niên đại thế kỷ VI – VII.

Tượng Phật bằng gỗ, niên đại thế kỷ IV – VI.

Ngoài cổ vật văn hoá Đông Sơn, khách tham quan còn được khám phá nghệ thuật gốm cổ Việt qua nhiều thế kỷ, từ thời Lý (1010 – 1225), Trần (1225 – 1400), Lê Sơ (1428 – 1527), Mạc (1527 – 1592) tới Lê Trung Hưng (1533 – 1789). Vào thời Lý (1010 – 1225) thịnh hành các loại gốm men ngọc, gốm hoa nâu, gốm trắng, gốm men đen, sứ màu nâu sậm. Thời Trần (1225 – 1400) bên cạnh loại gốm men ngọc, hoa nâu còn xuất hiện gốm hoa lam. Gốm men ngọc thuộc hàng cổ vật tiêu biểu của gốm thời Lý, Trần với màu men xanh lá cây từ sẫm đến vàng nhạt, xương gốm trắng mịn, hoa văn trang trí chạm chìm hoặc đắp nổi. “ Thạp gốm hoa nâu” thời Lý, Trần kế tục nhau trở thành loại gốm nổi tiếng. Đặc biệt, có sự kết hợp giữa các thủ pháp nghệ thuật điêu khắc với nghệ thuật phối hợp kỹ thuật men và màu tạo nên vẻ đẹp gốm hoa nâu. Các cổ vật gốm hoa lam thế kỷ XV – XVII làm từ đất sét trắng mịn, nung gần chảy nên xương cứng. Nét vẽ tay bằng bút lông trên sản phẩm đồ thờ cúng tạo sự khoáng đạt, thông thoáng, không lệ thuộc vào các hình mẫu tả thực. Sự phát triển rực rỡ của gốm sứ giai đoạn này đưa sản phẩm gốm sứ Việt theo con đường tơ lụa xuất đi nhiều quốc gia trên thế giới. Đến thời nhà Nguyễn (1802 – 1945), pháp lam Huế, một loại hình trang trí, đã được dùng để gọi tên cho kỹ nghệ chế tác pháp lam ở Việt Nam, khẳng định dấu ấn sáng tạo của người Việt, của văn hoá Việt Nam, minh chứng cho nền kinh tế – chính trị những năm độc lập, tự chủ thời Nguyễn. Hiện vật cặp bình choé có nắp đồng pháp lam, hiệu “Minh Mạng niên chế” (1820 – 1840) trang trí đa dạng với các đồ án từ hoa lá, tứ linh, bát bửu, sơn thuỷ, màu sắc phong phú, phối màu hợp lý, tinh tế. 

 Nhẫn chất liệu vàng, niên đại thế lỷ III – VII.

Hạt chuỗi chất liệu vàng, niên đại trước Công nguyên.

Lá dập nổi hình mặt người, chất liệu vàng, niên đại trước Công nguyên.

Một góc trưng bày chuyên đề ‘Cổ vật Việt Nam’.

Nghề kim hoàn truyền thống Việt Namnổi tiếng với các kỹ thuật chạm, đậu, trơn, đạt đến độ tinh xảo. Kĩ thuật chạm thể hiện sự khéo léo, đạt đến tầm nghệ thuật qua phương pháp chạm trổ những hình vẽ hoa văn trên mặt đồ vàng, bạc. Kĩ thuật đậu là kéo vàng, bạc, rồi uốn ghép thành hình hoa lá, chim muông gắn lên đồ trang sức. Kĩ thuật trơn chuyên đánh vàng, bạc thành những đồ trang sức không cần chạm trổ. Bộ sưu tập đồ trang sức vàng, bạc thời các chúa Nguyễn trưng bày gồm: vòng tay, trâm cài, vòng cổ, nhẫn.., được sưu tập 5 năm trước và đây là lần đầu tiên trưng bày, giới thiệu tới công chúng Thủ đô. Các hiện vật quý giá được trưng bày trong chuyên đề ‘Cổ vật Việt Nam’ góp phần giới thiệu tới công chúng trong nước, bạn bè quốc tế những nét tinh hoa, giá trị lịch sử cũng như văn hóa đặc sắc của Việt Nam./.