Đăng bởi

Chữ viết Ai Cập

  Từ khi xã hội có giai cấp bắt đầu hình thành, chữ viết ở Ai Cập đã ra đời. Chữ viết của Ai Cập lúc đầu là chữ tượng hình, tức là muốn viết chữ để biểu thị một vật gì thì vẽ hình thù của vật ấy. Vì vậy, nhìn vào các bản chữ viết Ai Cập cổ đại, ta thấy các hình vẽ như người, các loại động vật (chim, gia súc, dã thú, côn trùng), cây cối, mặt trời, mặt trăng, sao nước, núi non…

 
 Đối với các khái niệm trừu tượng hoặc phức tạp thì phải dùng phương pháp mượn ý. Ví dụ muốn viết chữ khát thì vẽ hình con bò đứng bên cạnh chữ nước, chữ chính nghĩa thì vẽ lông đà điểu, vì lông đà điểu hầu như dài bằng nhau. Tuy nhiên, hai phương pháp ấy chưa đủ để ghi mọi khái niệm, vì vậy dần dần xuất hiện những hình vẽ biểu thị âm tiết. Những hình vẽ biểu thị âm tiết này vốn là những chữ biểu thị một từ nhưng đồng âm với âm tiết mà người ta muốn sử dụng. Ví dụ, con mắt trong tiếng Ai Cập là ar, do đó hình con mắt biểu thị âm tiết ar. Dần dần, những chữ chỉ âm tiết biến thành chữ cái, ví dụ “hòn núi nhỏ” đọc là “ca” được dung để biểu thị âm k. Tổng số chữ tượng hình của Ai Cập cổ đại có khoảng 1000 chữ, trong đó số chữ cái có 24 chữ.
Giấy papyrus viết văn tự cho người chết
 Chữ viết cổ của Ai Cập thường được viết trên đá, gỗ, đồ gốm, vải gai, da… nhưng chất liệu dùng để viết phổ biến nhất là giấy papyrus. Vốn là ở hai bên bờ sông Nil có loại cây tên papyrus, người Ai Cập lấy thân loại cây nè chẻ thành từng thanh mỏng, ghép các thanh ấy thành những tờ giấy, ép mỏng rồi phơi khô. Đó là loại giấy sớm nhất thế giới. Do vậy, về sau trong ngôn ngữ nhiều nước châu Âu, giấy được gọi là papier, paper… Để viết trên loại giấy đó, người Ai Cập cổ dùng bút làm bằng thân cây sậy, còn mực thì làm bằng bồ hóng. Loại chữ tượng hình này được dùng trong hơn 3000 năm, sau đó, không còn ai biết đọc loại chữ này nữa.
Giấy cói papyrus
 Năm 1798, Bônapác (tức Napoleon sau này) viễn chinh sang Ai Cập. Tại một địa điểm gần thành phố Rosetta, trong khi đào chiến hào, binh lính Pháp đã phát hiện được một tấm bia, đặt tên là tấm bia Rosetta, trên tấm bia này khắc hai thứ chữ: phần trên khắc chữ Ai Cập cổ, phần dưới khắc chữ Hy Lạp. Ngay sau đó, các học giả tìm cách giải mã thứ chữ đó nhưng kết quả vẫn chưa hơn gì những lần trước. Mãi đến năm 1822, Champollion, một nhà ngôn ngữ học người Pháp 32 tuổi mới tìm được cách đọc thứ chữ này. Chính từ đó, một môn khoa học mới ra đời, đó là môn Ai Cập học. Học giả nhiều nước như Pháp, Đức, Anh… đã nghiên cứu ngôn ngữ Ai Cập, biên soạn sách tiếng Ai Cập cổ, đặc biệt biên soạn cuốn Từ điển tượng hình Ai Cập. Nhờ đọc được chữ Ai Cập cổ, người ta mới biết được nhiều tư liệu quý giá thuộc các lĩnh vực như lịch sử, văn học, thiên văn, toán học…của Ai Cập cổ đại.
 
 
 

Tấm bia Rosetta
H thng ch viết
 Cùng một ký hiệu có thể, tuỳ theo ngữ cảnh, được dịch theo các cách khác nhau: như một tín hiệu ngữ âm (đọc Ngữ âm), như một dấu tốc ký, hay như một biểu tượng (semagram; “từ hạn định“) (đọc Ngữ nghĩa). Từ hạn định không được đọc như một thành phần ngữ âm, nhưng được làm cho dễ hiểu bằng cách phân biệt từ với các từ phát âm giống khác.
Đc ng âm
 
 Các chữ tượng hình được viết từ phải sang trái, từ trái sang phải, hay từ trên xuống dưới, hướng thông thường là từ trái sang phải. Người đọc cần phải xác định hướng của chữ tượng hình để biết thứ tự đọc chính xác. Ví dụ, khi các chữ tượng hình người và động vật quay mặt về phía trái (ví dụ họ nhìn về phía trái), họ phải đọc từ trái sang phải, và ngược lại, ý tưởng là chữ tượng hình quay mặt về nơi bắt đầu dòng chữ.
 Giống nhiều hệ thống chữ viết cổ khác, các từ không được chia tách bởi các khoảng trống hay bởi các dấu chấm câu. Tuy nhiên, một số chữ tượng hình rất thường xuất hiện ở cuối các từ nên có thể nó là các từ phân biệt.
 
Chữ tượng hình thời Graeco-Roman
 Chữ tượng hình Ai Cập gồm 24 dấu hiệu đơn (các biểu tượng thay cho các phụ âm đơn, giống các chữ tiếng Anh). Có thể viết toàn bộ các chữ Ai Cập bằng những dấu hiệu này, nhưng người Ai Cập không bao giờ làm như vậy và không bao giờ đơn giản hoá hệ thống chữ viết phức tạp của họ thành một bảng chữ cái thực sự.
Bảng chữ cái tượng hình

 

Đăng bởi

Chợ phiên Bắc Hà Lào Cai

Chợ phiên Bắc Hà thuộc hàng lớn nhất Tây Bắc, đã níu giữ bước chân bao du khách khi có dịp lên với mảnh đất vùng cao này. Chủ nhật hàng tuần, ngày họp chợ phiên Bắc Hà nhộn nhịp đông vui và đầy màu sắc. Theo quan niệm của người dân bản địa, đi chợ cũng đồng nghĩa với đi chơi hội. Bởi, phiên chợ Bắc Hà (Lào Cai) không chỉ đơn thuần là nơi mua, bán trao đổi hàng hóa, mà còn mang yếu tố văn hóa tinh thần, là nơi gặp gỡ, giao lưu, tâm tình.

Người ta đi chợ phiên Bắc Hà từ rất sớm vì nhà xa cách mấy núi, mấy đồi mà đa phần là đi bộ, có khi phải đi từ ngày hôm trước đến hôm sau mới tới. Họ còn mang theo đủ thứ sản vật như hoa quả, chè shan, mật ong, rượu, váy áo thổ cẩm, đồ trang sức, hoa phong lan, cây giống; hay dắt theo những con ngựa, trâu, bò, lợn; hoặc khệ nệ vác những bao ngô, khoai… Nhưng cũng có nhiều người vượt hàng chục cây số về chợ phiên Bắc Hà cũng chỉ mang mỗi một cây khèn. Có người cắp nách chỉ một con gà trống, chú chim họa mi. Hoặc tay không đến chợ, không mua gì và cũng chẳng có gì bán, họ đi để 1 ngày được sống trong đông vui cho bõ cả tuần lặng thầm nơi sườn núi.

Chợ phiên Bắc Hà – phụ nữ Mông hoa háo hức đi chợ

Sáng sớm, trời vẫn bồng bồng mây trắng, mọi ngả đường về chợ phiên Bắc Hà đã họa lên sắc màu thổ cẩm. Nhóm 5, nhóm 3 gia đình, người già, trẻ nhỏ, chàng trai, cô gái ăn vận đẹp nhất xuống chợ. Khách du lịch trong và ngoài nước cũng xúm xít hòa vui. Cái chợ rộng nhanh chóng chật kín người. Làm nên vẻ đẹp ấn tượng của hội chợ Bắc Hà chính là chị em phụ nữ với những sắc phục đủ màu. Đẹp nhất vẫn là váy áo của phụ nữ Mông Hoa. Váy xòe rộng như đuôi công nổi bật hai màu vàng, đỏ. Mỗi cô gái như một bông hoa di động. Từng tốp, từng tốp, cười nói rôm rả, đi đến đâu là bừng sáng, cuốn theo những ánh nhìn mê đắm. Cả phiên chợ rực rỡ như một chợ hoa.

Chợ phiên Bắc Hà – khu bày bán nông sản

Chợ phiên Bắc Hà rộng lắm, chia thành nhiều khu với đặc trưng riêng của sản phẩm hàng hóa. Đầu tiên phải kể đến chợ thổ cẩm do chính người dân tộc nơi đây thêu, dệt thủ công. Những bộ váy áo, túi, ví, khăn… đầy màu sắc được trải, treo khắp các gian hàng. Đi kèm với trang phục là vòng, nhẫn, kiềng được đúc bằng bạc, bằng đồng… với những hình dáng và họa tiết mang đậm “cá tính” núi rừng, luôn cuốn hút sự chú ý của nhiều du khách.

Kế đến là thế giới sắc màu của ớt đỏ tươi, rau xanh mướt, sáp ong vàng nghệ, cuốc xẻng đen đậm… bày ra thích mắt. Vòng ra sau là các khu vực rộng dành cho chợ ngựa Bắc Hà, chợ trâu Bắc Hà với quy mô hàng trăm con, cùng cánh đàn ông tụ tập đông đúc. Và không thể thiếu chợ chó Bắc Hà với các giống chó quý vùng cao, được giới yêu thú cưng săn đón. Hay như chợ chim Bắc Hà, nơi những “bản nhạc rừng” vang lên thánh thót…

Chợ phiên Bắc Hà – khu chợ trâu bò rộng lớn

Rộn rã nói cười hơn cả là chợ ẩm thực, nơi thắng cố không lúc nào vơi trong chảo cũng như rượu không lúc nào cạn trong bình, nơi người miền xuôi hay miền ngược cũng đều lạ thành quen, cùng hòa vào nhau bên bát rượu ngô nồng nàn, thơm nức. Người ta nói, rượu ngô bản Phố uống tại chợ phiên Bắc Hà dường như ngon hơn, cái cảm giác chông chênh, chếnh choáng men say dường như cũng dễ chịu hơn. Ở chợ ẩm thực, người ta còn được hít hà hương vị mèn mén, hoa quế, hoa hồi…, được “no con mắt” trước những mâm xôi ngũ sắc, những chiếc bánh dày xanh, tím…, được “lây” vẻ thích thú của trẻ con vùng cao bên hàng bánh rán giòn rụm, quán phở bốc khói nghi ngút, tiếng xì xụp ngon miệng…

Chợ phiên Bắc Hà rất cuốn hút khách du lịch

Chợ phiên Bắc Hà còn “cảm” du khách ở cái cách mua bán của người miền núi thật đặc biệt. Chân chất, thân tình, hiếm khi thấy tranh giành, to tiếng. Người mua thoải mái xem xét, lựa chọn. Người bán không nặng mời chào, nói thách. Dù cho món hàng có giá trị lớn đi nữa, một khi đã “ưng cái bụng” là cuộc giao dịch diễn ra nhanh chóng. Người bán phát giá, khách mua chỉ trả giá thêm 1, 2 lần là đồng thuận. Nếu không phải là những khuôn mặt thật thà, những nụ cười hồn hậu, thì chúng ta cũng bắt gặp ở họ cái vẻ an nhiên, tĩnh tại và điều đó đem lại cho khách du lịch chợ Bắc Hà cảm giác thật thoải mái như đang đi giữa chợ quê mình.

Có thể nói, thật đặc sắc chợ phiên Bắc Hà, nơi vẫn lưu giữ đậm nét sinh hoạt cộng đồng của các dân tộc vùng cao Tây Bắc, cùng những giá trị văn hóa truyền thống độc đáo đã làm nên sức hút đặc biệt với du khách gần xa. Dễ hiểu vì sao chợ Bắc Hà từng được bầu chọn là một trong 10 chợ hấp dẫn nhất Đông Nam Á.

* Chợ phiên Bắc Hà họp ngày nào : chủ nhật hàng tuần, từ sáng sớm đến tầm 14 giờ chiều thì tan dần.

– Từ cuối tháng 3/2015, chợ đêm Bắc Hà chính thức khai trương, diễn ra vào tối thứ 7 hàng tuần, nhằm chào đón vào giao lưu với khách du lịch bằng các tiết mục văn nghệ dân tộc đặc sắc như múa xòe, múa khèn, múa xênh tiền, hát đối…, cùng lửa trại tưng bừng, náo nhiệt đến tận khuya. Ngoài ra, tại chợ đêm Bắc Hà còn có khu ẩm thực và các gian hàng bán sản phẩm truyền thống địa phương như thổ cẩm, váy, áo, quà lưu niệm.

Nông Minh Biện

Đăng bởi

Dụng Mộc Thuật Phong thủy điều tiết luồng khí cho nhà

Trong Phong thủy, hành Mộc tượng trưng cho mùa xuân, mùa của sự sinh sôi nảy nở, cho phương vị Đông và Đông Nam.

Mộc chủ về Nhân nên rất phù hợp với con người. Hành Mộc thường được sử dụng để điều tiết luồng khí ồ ạt vào nhà, giúp điều hòa khí lan tỏa khắp mơi. Hành Mộc cũng làm giảm bớt tác động của hành Kim và hành Thổ tạo sự cân bằng cho ngôi nhà. Vì vậy, đối với mỗi ngôi nhà, hành Mộc luôn hiện hữu và là biện pháp có tính khả thi nhất để tạo nên Phong thủy tốt cho ngôi nhà.

Hình dạng

Hình dạng đặc trưng cho hành Mộc là hình chữ nhật và những hình đa điện thuôn dài. Nhà đất ở đô thị hiện nay phần lớn đều là hành Mộc. Đối với những căn nhà hình Mộc, chúng ta có thể sử dụng hình thức mái nhọn mang hành Hỏa tạo hình thế Hỏa, Mộc tương sinh. Tuy thế cũng lưu ý không nên thiết kế những mái nhà quá nhọn theo kiểu châu Âu dễ làm tăng khí Hỏa khiến cho tâm lý của người trong nhà không ổn định, hiền hòa. Về kỹ thuật mái nên có độ dốc khoảng 30 độ là vừa phải.

Trong Phong thủy, người ta thường kiêng đặt cầu thang ở giữa nhà. Cầu thang có xu hướng vươn lên cao nên về Ngũ hành thuộc Mộc. Khu vực giữa nhà (trung cung) thuộc Thổ. Vì vậy không nên đặt cầu thang giữa nhà sẽ khiến cho Mộc khắc Thổ không có lợi.

Chất liệu

Một xu hướng đang được ưu chuộng hiện nay là sử dụng những vật liệu gần gũi với thiên nhiên, trong đó những vật liệu thuộc hành Mộc như gỗ, tranh, tre, nứa, lá luôn được ưu tiên. Dùng những vật liệu Mộc không những giúp môi trường sống thân thiện, mộc mạc hơn mà còn tạo nên được các không gian mang phong cách truyền thống.

Tuy vậy, việc sử dụng quá nhiều vật liệu gỗ có thể làm xâm hại môi trường và dễ sinh hỏa hoạn. Phong thủy khuyên nên sử dụng vật liệu Mộc cho những khu vực tiếp xúc với con người hằng ngày và mang tính đối nội. Còn những vật liệu tạo nên bộ khung cơ bản cho ngôi nhà và tiếp xúc với môi trường bên ngoài chúng ta có thể thay thế bằng những vật liệu khác như bê tông, kính, kim loại.

Việc sử dụng những đồ nội thất bằng gỗ sẽ là điểm nhấn dung hòa về kiến trúc và Phong thủy. Bất cứ không gian nào trong nhà chúng ta cũng có thể sử dụng chất liệu gỗ nhằm đem lại cảm giác ấm cúng, gần gũi hơn đối với các thành viên trong gia đình. Từ bếp, phòng ăn, phòng ngủ đến không gian làm việc, khu vực ban thờ đều thích hợp với những vật liệu thuộc Mộc. Đặc biệt đối với những không gian thiên về tư duy sáng tạo thì rất cần bổ sung thêm hành Mộc trong sử dụng vật liệu. Chẳng hạn những tủ sách, bàn đọc sách trong thư phòng nên dùng chất liệu gỗ, sàn có thể lát gỗ để cách âm và tạo sự ấm áp.

Màu sắc

Màu sắc tiêu biểu cho hành Mộc là các màu xanh lá cây, xanh lam, xanh rêu. Dù màu xanh lá cây không phải là màu nguyên thủy nhưng sự hiện diện của nó trong thế giới tự nhiên đã tạo nên một ý nghĩa đặc biệt, dễ làm lan tỏa cảm giác hài hòa, tươi mát và dễ chịu. Trong Phong thủy, màu xanh lá cây còn chỉ cung gia đình và tri thức.

Theo quan niệm Phong thủy hiện đại, Mộc không chỉ bó hẹp bởi những màu xanh mà ngày nay người ta còn dễ dàng nhận ra một không gian của Mộc với những gam màu nồng ấm của chất liệu gỗ, song, mây đã qua xử lý và các chất liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên là chủ yếu. Nhóm màu Mộc này tượng trưng cho sự hòa hợp văn hóa. Sự phối màu một cách tự nhiên, không theo một trật tự nhất định nào của các chất liệu Mộc tạo nên yếu tố hấp dẫn về thị giác và cả xúc giác thông qua việc tiếp xúc với nó trong quá trình sử dụng.

Những mảng xanh trong nhà

Cây xanh tượng trưng cho hành Mộc mang đến sự sinh sôi nảy nở. Việc đưa cây xanh vào nhà vừa tạo điểm nhấn vừa cải thiện môi trường và điều chỉnh các nguồn năng lượng.

Màu xanh của cây lá xuất hiện trong nhà không chỉ mang lại vẻ tươi mát mà còn giúp phục hồi sinh khí cho nơi ở. Vì vậy, cây xanh cho nội thất nên là những loại cây xanh tốt, có nhiều mầm lộc phù hợp với môi trường sống, ít ánh sáng trực tiếp và chịu bóng râm.

21 19 Dụng Mộc theo Thuật Phong thủy để đều tiết luồng khí cho nhà ở

Trong ngôi nhà nên ưu tiên những cây lá to khỏe, nhiều sức sống. Thông thường, các chuyên gia Phong thủy khuyên nên tránh dùng những loại cây thô nhám, xù xì, gai góc. Tuy nhiên, những cây “xấu xí” này thực tế là có khả năng chống lại những năng lượng bất lợi, cho nên chúng lại có thể đặt tại khu vực xấu đối với bản mệnh chủ nhà.

Việc mang cây xanh vào nhà cần quan tâm đến ý nghĩa của nó. Đối với không gian mang tính đối ngoại như phòng khách nên chọn những cân đối, bề thế. Các không gian riêng tư như phòng ngủ, phòng làm việc thiên về tĩnh thì cây xanh chỉ mang tính điểm xuyết nhẹ nhàng và chỉ nên dùng những cây nhỏ nhất là trong không gian phần nhiều mang yếu tố tĩnh như phòng ngủ vì nếu không chúng sẽ hút hết oxy dành cho người.

Cây cối cũng là thước đo trường khí từng không gian nhà ở. Chọn cây phù hợp và chú ý chăm sóc, theo dõi nếu cây bị héo úa hay kém phát triển tức là môi trường sống không tốt nên thay đổi chủng loại cây hoặc kiểm tra lại môi trường xung quanh để điều chỉnh cho phù hợp.

Có thể nói, không gian sống mang tính Mộc luôn có nhiều ưu điểm bởi sự sang trọng và cảm giác rất riêng do màu sắc sơn, chất liệu, đồ vật trang trí mang lại. Sống trong không gian Mộc, con người dường như dễ trải lòng mình hơn, dễ tìm thấy sự thư thái trong tâm hồn, trút hết mọi mệt mỏi, bực dọc, căng thẳng của một ngày bận rộn với những bon chen, lo toan. Tuy nhiên, việc sử dụng quá nhiều hành Mộc dẫn đến sự thiết vắng của các hành khác trong nhà. Phong thủy khuyên chúng ta nên phối hợp một cách hài hòa. Gia chủ cần hiểu rõ nguyên tắc hài hòa trong Ngũ hành, biết cách phối hợp, tương tác giữa Mộc và các hành khác trong quan hệ tổng thể.

Nguồn: Sưu tầm

Đăng bởi

Toán Ai Cập cổ đại

 Do yêu cầu phải đo đạc lại ruộng đất bị nước sông Nile làm ngập và do cần phải tính toán vật liệu trong các công trình xây dựng nên từ sớm, người Ai Cập đã có khá nhiều hiểu biết đáng chú ý về toán học. 
Chữ số tượng hình
 
 Toán học Ai Cập cổ đại được đánh dấu bởi nhân vật truyền thuyết Thoth, người được coi là đã đặt ra mẫu tự Ai Cập, hệ thống chữ số, toán học và thiên văn học, là vị thần của thời gian.




 Từ thời kỳ Hy Lạp hóa, tiếng Hy Lạp  đã thay thế tiếng Ai Cập trong ngôn ngữ viết của các nhà học giả Ai Cập, và từ thời điểm này, toán học Ai Cập hợp nhất với toán học Hy Lạp và Babylon để phát triển toán học Hy Lạp. Nghiên cứu toán học ở Ai Cập sau đó được tiếp tục dưới Đế chế Arab như là một phần của toán học Hồi giáo, khi tiếng Ả Rập trở thành ngôn ngữ viết của các nhà học giả Ai Cập.

Vấn đề đầu tiên của toán học là phép đếm. Người Ai Cập cổ đại ngay từ đầu đã biết dùng phép đếm lấy 10 làm cơ sở (thập tiến vị). Các chữ số cũng được dùng chữ tượng hình để biểu thị nhưng vì không có cơ số 0 nên cách viết chữ số của họ tương đối phức tạp.
Ví dụ: đơn vị: hình nhiều cái que,
 chục: hình một đoạn dây thừng,
 trăm: hình một vòng đoạn dây thừng,
 ngàn: hình cây sậy,
 10 ngàn: hình ngón tay,
 100 ngàn: hình con nòng nọc,
 triệu: hình người giơ hai tay biểu thị kinh ngạc.
Về các phép tính cơ bản, người Ai Cập chỉ mới biết phép cộng và phép trừ. Còn nhân và chia, vì chưa biết bảng nhân nên phải dùng phương pháp cộng và trừ liên tiếp.
 
Giấy cói Moskva
 Văn tự toán học cổ nhất tìm được cho tới nay là giấy cói Moskva, một văn tự bằng giấy cói của Vương quốc giữa Ai Cập vào khoảng 2000—1800 mà ngày nay ta gọi là “bài toán chữ”, rõ ràng là chỉ để giải trí. Một bài toán được coi là quan trọng ở mức nói riêng bởi nó đưa ra phương pháp tìm thể tích của một hình cụt: “Nếu bạn biết: một hình chóp cụt có chiều cao 6, diện tích đáy lớn 4, diện tích đáy nhỏ 2. Bạn sẽ bình phương số 4 này, được 16. Bạn sẽ nhân đôi 4, được 8. Bạn sẽ bình phương 2, được 4. Bạn sẽ cộng 16, 8, và 4 được 28. Bạn sẽ lấy một phần ba của 6, được 2. Bạn nhân 28 với 2 được 56. Và 56 là số bạn cần tìm.”
 Đến thời Trung vương quốc, mầm mống của đại số học đã xuất hiện. Ẩn số x được gọi là “aha” nghĩa là “một đống”, ví dụ một số ngũ cốc chưa biết được số lượng thì gọi là “một đống ngũ cốc”. Người Ai Cập đã biết được cấp số cộng và có lẽ cũng đã biết được cấp số nhân.
 Về hình học, người Ai Cập đã biết cách tính diện tích hình tam giác, diện tích hình cầu, biết được số pi là 3,16, biết tính thể tích hình tháp đáy vuông. Khi giải những bài tóan hình học không gian phục vụ cho việc xây dựng Kim Tự Tháp, họ đã biết vận dụng mầm mống của lượng giác học.
 
 Giấy cọ Rhind (khoảng 1650 TCN) là một văn bản toán học Ai Cập quan trọng khác, một hướng dẫn trong số học và hình học. Cùng với việc đưa ra các công thức diện tích và phương pháp nhân, chia và làm việc với phân số đơn vị, nó cũng chứa các bằng chứng về các kiến thức toán học khác  bao gồm hợp sốsố nguyên tố; trung bình cộng, trung bình nhântrung bình điều hòa; và hiểu biết sơ bộ về sàng Eratosthenessố hoàn hảo. Nó cũng chỉ ra cách giải phương trình tuyến tính bậc một cũng như cấp số cộngcấp số nhân.
 Cũng vậy, ba thành phần hình học có trong giấy cọ Rhind nói đến những kiến thức đơn giản nhất của hình học giải tích: (1) Đầu tiên và quan trọng nhất, làm thế nào để xấp xỉ số π chính xác tới dưới một phần trăm; (2) thứ hai, một cố gắng cổ đại trong việc cầu phương hình tròn; (3) và thứ ba, sự sử dụng sớm nhất từng biết về lượng giác.
 Cuối cùng, giấy cọ Berlin cũng cho thấy người Ai Cập cổ đại có thể giải phương trình đại số bậc hai.

Giấy cọ Rhind


 










Đăng bởi

Sông Nin và Sự hình thành nền văn minh Ai Cập cổ đại

Ai Cập nằm ở Đông Bắc Châu Phi, hạ lưu sông Nin
 Ai Cập cổ đại, hay nền văn minh sông Nin, gắn liền với cư dân sống bên hai bờ sông Nin tại Ai Cập. Dòng sông Nin dài khoảng 6500 km, có bảy nhánh đổ ra Địa Trung Hải, đã tạo ra nơi sản sinh ra một trong các nền văn minh sớm nhất thế giới. Phần hạ lưu sông Nin rộng lớn, giống như hình tam giác dài 700 km, hai bên bờ sông rộng từ 10 km đến 50 km tạo thành một vùng sinh thái ngập nước và bán ngập nước – một đồng bằng phì nhiêu với động thực vật đa dạng và đông đúc.
Hàng năm từ tháng 6 đến tháng 9, nước lũ sông Nin dâng lên làm tràn ngập cả khu đồng bằng rộng lớn và bồi đắp một lượng phù sa khổng lồ, màu mỡ. Các loại thực vật chủ yếu như: đại mạch, tiểu mạch, chà là, sen,… sinh sôi nảy nở quanh năm. Ai Cập cũng có một quần thể động vật đa dạng và phong phú, mang đặc điểm đồng bằng-sa mạc như voi, hươu cao cổ, sư tử, trâu, bò, cá sấu, các loài cá, chim,…
Sông Nin chảy qua Aswan ( phía Nam Ai Cập)
 Tất cả các điều kiện thiên nhiên ưu đãi đã góp phần hình thành nền văn minh Ai Cập sớm nhất. Các ngành nghề như đánh bắt cá, nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp đều phát triển ngay từ 3.000 năm trước Công nguyên. Đặc biệt, các di sản kiến trúc đồ sộ và đạt đến một trình độ vươn lên tầm kỳ quan của thế giới như: các kim tự tháp, các kiệt tác về hội họa, điêu khắc và nghệ thuật ướp xác,…
Mộ cát trên s. Nin có ngôi đền vua Khan
 Tới cách ngày nay khoảng 6000 năm, con người ở đây đã biết sử dụng những công cụ, vũ khí bằng đồng. Công cụ bằng đồng giúp con người ở đây chuyển sang sống chủ yếu nhờ nghề nông, thoát khỏi cuộc sống săn bắn, hái lượm và sớm bước vào xã hội văn minh. Chính vì vậy mà cách đây hơn 2000 năm trước, một nhà sử học Hy Lạp là Hêrôđôt tới thăm Ai Cập đã có một nhận xét rất hay là “ Ai Cập là tặng phẩm của sông Nin”.
 Về mặt dân cư, những cư dân cổ nhất ở lưu vực sông Nin là những thổ dân Châu Phi hình thành trên cơ sở hỗn hợp nhiều bộ lạc. Sau này, một số bộ tộc Hamit (Hamites) từ Tây Á xâm nhập hạ lưu sông Nin. Trải qua một quá trình hỗn hợp lâu dài giữa người Hamit và thổ dân Châu Phi đã hình thành ra những tộc người Ai Cập cổ đại.
Đăng bởi

Bí ẩn về dấu vết của kiếp luân hồi

Bạn có tin về chuyện lạ bí ẩn của những dấu vết có sự xuất hiện của kếp luân hồi, cùng khám phá nhé!

Bớt chuyển sinh

Ở một số vùng thuộc châu Á, người dân thường dùng muội than đánh dấu lên thi thể người chết với hy vọng linh hồn người đó sẽ đầu thai vào gia đình cũ. Theo họ, những vết đánh dấu ấy sẽ trở thành vết bớt khi người ta đầu thai sang kiếp khác. Vì thế, họ cho rằng các vết bớt trên cơ thể người là bằng chứng của thuyết luân hồi.

Năm 2012, Jim Tucker, một bác sĩ tâm thần kiêm giáo sư tại trường Đại học Y bang Virginia, Mỹ, và Jurgen Keil, nhà tâm lý học, cựu giáo sư Đại học Tasmania, Australia, gửi một bài báo đến tạp chí Scientific Exploration. Trong bài báo, hai ông miêu tả chi tiết quá trình nghiên cứu những đứa trẻ có bớt ở vị trí tương ứng với dấu vết trên thi thể người thân của chúng.

Vết bớt trên tay câu bé K. H. trùng vị trí với nơi người ta dùng muội than đánh dấu lên thi thể người ông

Cậu bé có tên viết tắt K. H. ở Myanmar là trường hợp nổi bật nhất trong nghiên cứu của Jim Tucker và Jurgen Keil. Em mang một vết bớt trên cánh tay trái, trùng với vị trí mà người hàng xóm đã dùng muội than để đánh dấu lên thi thể ông cậu, người qua đời 11 tháng trước khi K. H. chào đời. Các thành viên trong gia đình và nhiều người khác xác nhận về sự trùng hợp của vết bớt.

Khi hơn hai tuổi, K. H. gọi bà là “Ma Tin Shwe”, cách gọi riêng của người ông quá cố. Những người con của bà cụ đều gọi bà là “mẹ”, còn những người khác thì gọi là “Daw Lay” hoặc “dì”. K. H. gọi mẹ cậu là “War War Khine” giống cách người ông gọi thay vì gọi “Ma War”.

Mẹ của K. H. kể rằng vào thời kỳ mang thai cậu bé, cô từng mơ thấy cha. Ông nói: “Cha muốn sống với con”. Vết bớt trên cơ thể K. H. cùng cách cậu bé gọi người thân khiến những người trong gia đình cho rằng giấc mơ của cô đã thành sự thật.

Cậu bé chào đời với dị tật bẩm sinh giống vết đạn bắn

Cậu bé ở Thổ Nhĩ Kỹ có dị tật bẩm sinh ở chỗ mà người đàn ông trong kiếp trước của cậu trúng đạn

Ian Stevenson, một giáo sư ngành tâm thần học tại trường Đại học Virginia, chỉ tập trung nghiên cứu thuyết luân hồi. Năm 1993, tạp chí Scientific Exploration đăng một bài nghiên cứu của ông về các vết bớt hoặc dị tật bẩm sinh liên quan đến kiếp trước. Ông phát hiện người ta không rõ nguyên nhân hình thành của hầu hết các dị tật bẩm sinh.

Nghiên cứu của giáo sư Stevenson cũng đề cập đến trường hợp một cậu bé ở Thổ Nhĩ Kỳ, người nhớ về cuộc sống của một người đàn ông từng qua đời bởi súng của kẻ khác. Theo hồ sơ ở bệnh viện, viên đạn găm vào hộp sọ bên phải của người đàn ông. Cậu bé Thổ Nhĩ Kỳ mắc tật microtia khiến tai ngoài nhỏ và nửa mặt bên phải của nhỏ hơn nửa kia. Tật microtia xuất hiện với tỷ lệ 1/6.000 trẻ, trong khi người ta ước tính 1/3.500 đứa trẻ mắc tật nửa mặt nhỏ, Boston Children’s Hospital cho hay.

Cô gái kết hôn với “đứa con cô lỡ giết ở kiếp trước”

Bác sĩ Brian Weiss là người đi đầu trong liệu pháp thôi miên tìm lại kiếp trước.

Brian Weiss là trưởng khoa tâm thần học tại Trung tâm Y tế Mt. Sinai ở thành phố Miami, bang Florida, Mỹ. Là một bác sĩ tâm lý trị liệu theo phương pháp truyền thống, ông rất kinh ngạc khi phát hiện các bệnh nhân nhớ lại ký ức của kiếp trước. Hiện tại, bác sĩ Weiss là một trong những người đi đầu trong việc áp dụng liệu pháp thôi miên để tìm lại kiếp trước, BrianWeiss cho hay.

Trong cuốn “Thông điệp từ các vị Chúa: Khai thác Sức mạnh của Tình yêu”, ông kể lại câu chuyện của Diane, y tá trưởng tại một trung tâm cấp cứu. Trong một lần thôi miên, Diane khẳng định cô từng là một thiếu nữ chuyển đến định cư ở vùng Bắc Mỹ trong những năm đầu của cuộc xung đột với thổ dân bản địa. Cô nhớ rõ lần ẩn nấp của cô cùng con trai nhỏ khi xung đột xảy ra lúc chồng cô đi vắng.

Diane miêu tả cậu con trai có một vết bớt hình nửa vầng trăng dưới vai phải. Trong khi ẩn nấp, cậu bé đột nhiên khóc thét. Vì lo cho mạng sống của hai người, cô lấy tay bịt miệng đứa bé và vỗ về nó. Hành động ấy vô tình khiến bé trai chết vì ngạt thở.

Nhiều tháng sau cuộc trị liệu, Diane đặc biệt chú ý đến một bệnh nhân hen suyễn. Anh ta cũng có cảm giác thân thuộc với cô. Diane rất sửng sốt khi phát hiện anh có một vết bớt nửa vầng trăng ở vai phải. Ngoài ra, bác sĩ Weiss cũng tuyên bố ông từng gặp các bệnh nhân hen suyễn có hồi ức về cái chết do nghẹt thở.

Cuối cùng, Diane kết hôn cũng với người bệnh mà cô đoán là đứa con trai trong kiếp trước của cô.

Cậu bé nhớ rõ gia đình và cái chết ở kiếp trước

Taranjit Singh nhớ rõ gia đình và cái chết của cậu trong kiếp trước.

Câu chuyện của cậu bé 6 tuổi Taranjit Singh sống ở làng Alluna Miana, Ấn Độ, là một trường hợp đáng ngạc nhiên về kiếp luân hồi.

Hồi hai tuổi, Taranjit Singh tuyên bố tên thật của cậu là Satnam Singh và cậu chào đời ở làng Chakkchela, thành phố Jalandhar, cách làng Alluna Miana khoảng 60km.

Taranjit kể Satnam là một học sinh lớp 9, con trai của Jeet Singh, và chết vào ngày 10/9/1992 do vụ va chạm với một người đàn ông lái xe máy khi đang đi xe đạp từ trường về nhà. Cậu bé nói thêm những cuốn sách cậu mang theo lúc đó đều thấm máu của cậu. Ngoài ra, Satnam còn có 30 rupee trong ví. Vì Taranjit một mực khẳng định và câu chuyện quá ly kỳ, ông Ranjit, bố của cậu bé, quyết định tìm hiểu sự thật.

Một giáo viên ở làng Jalandhar nói với Ranjit rằng ông quen Satnam, nam sinh đã chết trong vụ tai nạn và cha cậu đúng là Jeet Singh. Ông tìm đến gia đình Satnam, họ khẳng định tính chân thật của chi tiết những cuốn sách đẫm máu và số tiền trong ví cậu. Khi Taranjit gặp họ, bé có thể chỉ ra Satnam trong ảnh gia đình, theo IanLawton.

Vikram Raj Chauhan, một bác sĩ pháp y, đọc câu chuyện của Taranjit trên báo và quyết định điều tra thêm. Ông lấy mẫu chữ viết tay của Satnam ra so sánh với chữ viết của Taranjit. Mặc dù cậu bé 6 tuổi chưa thể viết thành thạo, nét chữ của em khá giống với nét chữ của Satnam. Bác sĩ Chauhan kể lại câu chuyện kỳ lạ với các đồng nghiệp. Họ cũng phát hiện những trường hợp tương tự khác.

( Sưu tầm )

Đăng bởi

Sự biến mất các nền văn minh cổ đại

Sự sụp đổ một số nền văn minh trong lịch sử loài người vẫn là ẩn số.

Và nền văn minh Maya

Maya là nền văn minh cổ đặc sắc bên cạnh nền văn minh Andes, được xây dựng bởi người Maya, một bộ tộc thổ dân châu Mỹ từ năm 1.000 trước Công nguyên. Nền văn minh Maya đạt một trình độ cao không những về lĩnh vực xây dựng nhà nước mà còn phát triển rực rỡ cả lĩnh vực kiến trúc, toán học, thiên văn học và tính toán thời gian. Những di tích khảo cổ học đã chứng minh người Maya đã phát triển khái niệm “số 0” vào năm 357, sớm hơn châu Âu khoảng gần 900 năm, xác định chính xác độ dài của một năm, thời gian trái đất quay hết một vòng quanh mặt trời, chính xác hơn rất nhiều lịch được châu Âu sử dụng vào thời đó. Không những thế, tôn giáo của người Maya cũng rất đặc biệt vì có sự kết hợp giữa lễ nghi với các chu kỳ của vũ trụ.

Hình minh họa bộ lịch Tzolk'in của người Maya.
Hình minh họa bộ lịch Tzolk’in của người Maya. (Ảnh: yucatanadventure)

Cùng chung số phận với thành Troy và văn minh Harappa, hai thành phố Quirigua(Đông Guatemala ngày nay) và Benque Viejo, vốn là trung tâm văn hóa của người Maya trong thời kỳ đỉnh cao, đột ngột biến mất vào cuối thế kỷ thứ 9 trước Công nguyên. Nhiều nhà sử học trên thế giới cho rằng sự biến mất này là hậu quả của những cuộc chiến liên miên, ban đầu là ngay trong bộ tộc của người Maya nhằm tranh giành quyền lực và sau đó là của người Maya chống lại sự xâm lăng mang tên đế quốc Tây Ban Nha. Nhưng kết quả nghiên cứu của nhà địa – vật lý Robert Kovach lại cho chúng ta một nguyên nhân hủy diệt khác: một trận động đất kinh hoàng.

Thành Troy – hư hay thực

Câu chuyện về thành Troy được gắn liền với hai trường thi của Homer: Iliad và Odyssey trong thần thoại Hy Lạp. Trong khi rất nhiều các nền văn minh cổ đại để lại di tích vật chất cho hậu thế thì thành Troy được coi như một câu chuyện trong trí tưởng tượng của người xưa bởi trên trái đất thời hiện đại, người ta không thấy dấu vết của bức thành gắn liền với cuộc chiến tranh bất hủ và con ngựa gỗ huyền thoại.

Tàn tích của thành TroyTàn tích của thành Troy

Thế nhưng theo những nghiên cứu mới đây của các nhà sử học, thành Troy là có thật. Họ khẳng định rằng cách đây hơn 3.000 năm, thành Troy nằm trên một đỉnh đồi, gần bến cảng thông ra biển Aegae (hiện cảng này đã bị cát vùi lấp). Khi những nhà buôn Hy Lạp, Italy, Bồ Đào Nha dong thuyền từ biển Aegae tới Biển Đen, họ đều dừng chân ở Troy để tiếp tế lương thực và giải trí. Những dấu tích khảo cổ học mới được phát hiện như: mảnh thuyền và cọc sắt nằm rải rác dưới những lớp đất cách thành Troy (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) khoảng 4 km là bằng chứng cho thấy chiến thuyền Hy Lạp đã từng đậu ở đây trước khi tấn công vào thành, giống như lời kể của Homer trong anh hùng ca Iliad.

Con ngựa gỗ thành Troy trong truyền thuyết.Con ngựa gỗ thành Troy trong truyền thuyết.

Vì sao thành Troy biến mất? Đó là câu hỏi mà nhiều thế hệ các nhà khoa học mất công đi tìm câu trả lời.

Giáo sư vật lý Amos Nur tại Đại học Stanford, Mỹ cho biết: “Chúng tôi tin rằng các thảm họa tự nhiên, đặc biệt là động đất, đã đóng vai trò quan trọng trong sự mất tích bí ẩn của nhiều nền văn minh”. Các nhà khoa học khác của Hiệp hội Địa vật lý Mỹ lại phát triển một giả thuyết hoàn toàn khác. Khi nghiên cứu vùng phía đông Địa Trung Hải ở cuối thời kỳ đồ đồng, họ cho rằng một trận động đất lớn có thể là thủ phạm chính đằng sau sự biến mất của nhiều thành phố như Troy, Mycenae và Knossos. Các thành phố này đã bị quét khỏi bản đồ thế giới trong khoảng năm 1.225 – 1.175 trước Công nguyên. Và luận điểm này đã được Hiệp hội Địa lý, Vật lý Mỹ ủng hộ.

Văn hóa Harappa – những pháo đài bằng đất sét nung

Một nền văn minh cổ đại nằm trong tổng thể các nền văn minh Sông Ấn là một nền văn minh thời Cổ đại phát triển vào khoảng thời gian từ năm 2.800 đến năm 1.800 trước Công nguyên. Sử sách còn ghi nhận sự phát triển cao của nền văn minh này về sự phát triển kinh tế, thương mại, nông nghiệp, nghệ thuật, chữ viết… Nhưng nền văn hóa này đã biến mất mà nguyên nhân cho đến nay vẫn chưa rõ nhưng hàng loạt đền thờ được phát hiện đã chứng minh cho sự tồn tại.

Giả thuyết phổ biến nhất là do người du mục Arian (tiếng Anh: Aryan) xuất hiện và đánh chiếm. Giả thuyết thứ hai được nhiều người chấp nhận là về những biến đổi khí hậu. Vào khoảng 1.800 năm trước Công nguyên, khí hậu trong lưu vực sông Ấn thay đổi, trở nên lạnh và khô hơn, sông Ghaggra-Hakra trở nên khô cạn làm biến đổi kiến tạo mảng, nguồn nước của hệ thống sông bị chuyển hướng về đồng bằng sông Hằng dẫn đến sự suy tàn của nền văn minh Harappa.

Các thuyết khác cho rằng sự suy tàn của nền văn minh sông Ấn có liên quan đến việc vương quốc người Sumer chấm dứt và các quan hệ buôn bán với vương quốc này đã không còn nữa, hay xung đột quân sự và bệnh tật đã chấm dứt nền văn hóa này. Nguyên nhân quyết định cho sự suy vong vẫn chưa được giải thích rõ ràng. Giáo sư Amos Nur và đồng nghiệp Prasad, khi xem xét lịch sử địa chấn, đã nhận thấy có những trận động đất thảm khốc đổ xuống vùng ven biển gần biên giới giữa Ấn Độ và Pakistan. Theo giả thuyết của họ, một hoặc nhiều chấn động lớn có thể đã làm vỏ trái đất di chuyển, kéo theo việc chặn dòng chảy của một con sông lớn trong vùng. Nền sản xuất nông nghiệp bị phá hủy, các trận lụt nghiêm trọng xảy ra và cuối cùng vùi lấp các thành phố dưới bùn lầy.

Những tường thành của văn hóa Harappa.
Những tường thành của văn hóa Harappa. (Ảnh: Globalheritagefund)

Nền văn minh Chan Chan

Theo các tài liệu nghiên cứu, nền văn minh Chan Chan khởi nguồn từ năm 850 trước Công nguyên và trải qua giai đoạn cực thịnh trong những năm đầu thế kỷ 15.

Nền văn minh Chan ChanNền văn minh Chan Chan

Tuy nhiên, nền văn minh này đã bị lụi tàn khi đế chế Inca xâm lược. Ngày nay nhân loại vẫn trầm trồ trước những tàn tích của nền văn minh Chan Chan như những hình vẽ khổng lồ, kỳ dị trên cao nguyên Nazca.

Người ta đưa ra rất nhiều giả thuyết xung quanh những hình vẽ. Nhiều người tin rằng những hình vẽ kỳ dị ấy là cách thức để người xưa liên lạc với sinh vật ngoài hành tinh.

Những cơn giận dữ của hành tinh vốn là nguyên nhân của đổ nát nhưng đến nay, đây còn được xác định là nguyên nhân dẫn đến sự mất tích bí hiểm của nhiều nền văn minh trong lịch sử loài người.

Nền văn minh thung lũng Indus, Pakistan

Nền văn minh thung lũng Indus là một trong những kỳ quan kiến trúc vĩ đại nhất do con người sáng tạo ra trong thế giới cổ đại (được biết đến với mức độ ảnh hưởng như là nền văn minh Harappan). Đây là một trong các đô thị lớn nhất trên lục địa.

Nền văn minh thung lũng Indus, Pakistan
Nền văn minh thung lũng Indus, Pakistan

Nằm ở vị trí Pakistan ngày nay, nền văn minh thung lũng Indus phát triển mạnh cách đây 4.500 năm và sau đó bị lãng quên cho đến khi di tích được khai quật vào những năm 1920.

Với các công nghệ tinh vi và tiên tiến, nền văn minh này nổi bật với hệ thống vệ sinh môi trường đô thị cũng như bằng chứng về trình độ đáng ngạc nhiên trong kỹ thuật, toán học và thậm chí là nha khoa.

Vào khoảng năm 1500 trước Công nguyên, nền văn minh thung lũng Indus hầu như đã bị lãng quên, có thể là sau cuộc xâm lược của các bộ tộc Ấn-Âu hay sự sụp đổ trong nông nghiệp do biến đổi khí hậu.

Đế chế Khmer, Campuchia

Là một trong những đế quốc hùng mạnh nhất khu vực Đông Nam Á, nên nền văn minh Khmer ảnh hưởng từ đất nước Campuchia ngày nay cho đến Lào, Thái Lan, Việt Nam, Myanmar và Malaysia. Ngày nay, nó được biết đến với tên gọi Angkor.

Ngoài những di tích khắc trên đá thì không có bất kỳ chứng tích bằng văn bản nào tồn tại, do vậy hiểu biết của chúng ta về nền văn minh cổ đại này chỉ được chắp ghép từ các điều tra khảo cổ học, phù điêu trên bức tường trong các ngôi đền và các tài liệu bên ngoài bao gồm cả tài liệu của Trung Quốc.

Đế chế Khmer, Campuchia
Đế chế Khmer, Campuchia

Người Khmer áp dụng cả Ấn Độ giáo lẫn Phật giáo vào xây dựng các ngôi đền, tòa tháp và các cấu trúc phức tạp khác như Angkor Wat chỉ để thờ thần Vishnu.

Các cuộc xâm chiếm của kẻ thù, tử vong do bệnh dịch hạch, các vấn đề về quản lý nguồn nước ảnh hưởng đến nông nghiệp và xung đột về quyền lực giữa các gia đình trong hoàng tộc có thể là nguyên nhân dẫn đến sự tàn lụi của đế chế này.

Anasazi, New Mexico, Mỹ

“Anasazi” là tên hiện đại của người dân Pueblo cổ đại, những người dân sống ở khu vực “Ngã tư” (Four Corners) của Đông Nam Hoa Kỳ tại đường giao nhau của các tiểu bang Utah, Arizona, New Mexico và Colorado.

Nền văn minh của họ xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 12 trước Công nguyên, và vẫn còn được biết đến với những cấu trúc bằng đá và gạch xây dựng dọc theo các vách đá bao gồm Cliff Palace trong Công viên quốc gia Mesa Verde, những tàn tích của Nhà Trắng (White House Ruins) và Pueblo Bonito tại mép phía Bắc của Chaco Canyon. Kiến trúc này được phát triển thành chung cư nhiều tầng mà thường chỉ có thể đi vào bằng dây thừng hoặc thang.

Anasazi, New Mexico, Mỹ
Anasazi, New Mexico, Mỹ

Người Pueblo cổ đại không nhất thiết phải “biến mất”, tuy nhiên, họ đã từ bỏ quê hương của mình vì những lý do mà đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Nhiều chuyên gia cũng như những người Pueblo hiện đại – những người coi người Pueblo cổ đại như tổ tiên của mình tin rằng nạn phá rừng và hạn hán đã gây ra xung đột nội bộ và chiến tranh đã khiến người Pueblo rời bỏ quê hương.

Nền văn minh Olmec, Mexico

Veracruz và Tabasco ở vùng đất thấp nhiệt đới phía nam miền trung Mexico đã từng là một nền văn minh lớn mạnh tiền Columbia – nơi xây dựng nên những thủ phủ khổng lồ đáng kinh ngạc, nơi diễn ra các cuộc đổ máu và sự hy sinh của con người, nơi phát minh ra khái niệm về số không và về cơ bản đặt nền móngcho mọi nền văn hóa Trung Mỹ.

Nền văn minh Olmec, Mexico
Nền văn minh Olmec, Mexico

Nền văn minh Olmec thậm chí có thể là nền văn minh đầu tiên tại Tây bán cầu đã phát triển hệ thống chữ viết, và có thể là đã phát minh ra cả la bàn và lịch Trung Mỹ. Có niên đại khoảng 1.500 năm trước Công nguyên, nền văn minh Olmec đã không được phát hiện bởi các sử gia cho đến giữa thế kỷ 19. Sự biến mất của nó được cho là do những thay đổi môi trường gây ra bởi các vụ phun trào núi lửa, động đất hoặc có thể là do sự suy yếu về nông nghiệp.

Đế chế Aksumite, Ethiopia

Một đế chế có hoạt động thương mại chủ yếu với đế chế La Mã và Ấn Độ cổ là Đế chế Aksumite – còn được gọi là Vương quốc Aksum hoặc Axum – cai trị các nước ở Tây Bắc Châu Phi bao gồm cả nước Ethiopia từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên.

Đế chế Aksumite, Ethiopia
Đế chế Aksumite, Ethiopia

Từng được cho là quê hương của nữ hoàng Sheba, đế quốc Aksumite có thể là một nước bản địa phát triển hùng mạnh của châu Phi bao gồm hầu hết Eritrea ngày nay, miền Bắc Ethiopia, Yemen, miền Nam A-rập Xê-út và miền bắc Sudan.

Đế chế đã có bảng chữ cái riêng của mình và xây dựng nên các bia tưởng niệm khổng lồ. Đây là đế chế đầu tiên chuyển đổi sang Thiên Chúa giáo. Sự biến mất của đế chế này được cho là do bị cô lập về kinh tế khi mở rộng sang Hồi giáo, do bị xâm lược, hoặc biến đổi khí hậu làm thay đổi mô hình dòng lũ của sông Nile.

Nền văn minh Minoans, đảo Crete

Được đặt theo tên của vua Minos huyền thoại, nền văn minh Minoan của đảo Crete được tái phát hiện vào đầu thế kỷ 20, và kể từ đó đã phát hiện thêm ra các mảnh ghép hấp dẫn của một nền văn minh cổ đại bắt đầu phát triển mạnh từ hơn 7.000 năm trước đây. Đỉnh cao của nó vào khoảng năm 1600 trước Công nguyên.

Nền văn minh Minoans, đảo Crete
Nền văn minh Minoans, đảo Crete

Là một trong những trung tâm thương mại xuất hiện vào khoảng năm 2700 trước Công nguyên, và được cho là nền văn minh tiên tiến với những cung điện nguy nga được xây dựng lại nhiều lần sau hàng loạt thiên tai (có thể là động đất và núi lửa Thera phun trào).

Một trong những cung điện đó là cung điện Knossos, “mê cung” gắn liền với truyền thuyết về vua Minos, và hiện tại là một địa điểm khảo cổ lớn thu hút khách du lịch. Nhưng vào khoảng năm 1450 trước Công nguyên, một thảm họa đã khiến cho nền văn minh Minoans không thể phục hồi và sụp đổ.

Nền văn minh Cucuteni – Trypillian, Ukraine & Romania

Các khu định cư lớn nhất ở Châu Âu thời kỳ đồ đá mới được xây dựng bởi những người Cucuteni Trypillian của Ukraine, Romania và Moldova ngày nay. Nền văn minh bí ẩn này phát triển mạnh vào giữa năm 5500 trước Công nguyên và năm 2750 trước Công nguyên với đặc trưng là làm gốm và thói quen kỳ lạ cứ sau 60 đến 80 năm lại đốt làng của mình.

Nền văn minh Cucuteni - Trypillian, Ukraine & Romania
Nền văn minh Cucuteni – Trypillian, Ukraine & Romania

Các ngôi làng sau đó được xây dựng lại trên đống tro tàn của ngôi làng cũ. Khoảng 3.000 địa điểm khảo cổ về Cucuteni – Trypillian đã được xác định. Giống như nhiều nền văn minh khác, nền văn minh Cucuteni – Trypillian có thể đã bị xóa sổ bởi biến đổi khí hậu, nhưng có giả thuyết khác cho rằng họ dần dần hòa lẫn với các nhóm dân tộc khác cho đến khi nền văn hóa riêng của họ biến mất.

Nền văn minh của người Nabatean, Jordan

Nền văn minh Nabatean cổ đại ngụ tại miền Nam Jordan, Canaan và phía Bắc Arabia từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, khi mà những người du mục Nabatean nói tiếng Aramaic bắt đầu di cư khỏi Ả Rập.

Các di tích về họ được khắc vào các tảng sa thạch trên các ngọn núi của Jordan, và được nhớ đến với kỹ thuật thủy lợi. Việc quản lý hệ thống phức tạp các đập nước, kênh rạch và hồ chứa đã giúp họ mở rộng và phát triển mạnh trong một khu vực sa mạc khô cằn.

Nền văn minh của người Nabatean, Jordan
Nền văn minh của người Nabatean, Jordan

Họ đã bị xâm lược bởi những người La Mã vào năm 65 trước Công nguyên và mất quyền làm chủ đất nước vào năm 106 sau Công nguyên. Sau đó, đổi tên thành vương quốc Arabia Petrea.

Vào khoảng thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, người Nabateans đã rời bỏ Petra mà cho đến nay vẫn chưa tìm được lý do chính xác khiến họ ra đi. Người ta tin rằng, sau nhiều thế kỷ bị người nước ngoài cầm quyền, nền văn minh Nabatean đã bị tàn lụi do các nhóm nông dân người Hy Lạp cuối cùng đã chuyển đổi sang Thiên Chúa giáo trước khi đất đai của họ bị thu giữ hoàn toàn bởi những kẻ xâm lược người Ả Rập.

Cahokia, Illinois, Mỹ

Rất ít người Mỹ nhận ra rằng có tàn tích của một nền văn minh cổ đại biến mất ngay tại Mỹ – ở Illinois, ngay bên kia sông Mississippi, từ St Louis, Missouri.

Ngọn núi Cahokia là tất cả những gì còn lại của một nền văn minh bản địa của người Mississippi. Những cư dân của Cahokia không lưu giữ lại văn bản mà bảo quản di sản thế giới này bằng những mô đất nhân tạo phủ đầy cỏ cũng như bằng đồ gốm và các đồ chế tác khác.

Cahokia, Illinois, Mỹ
Cahokia, Illinois, Mỹ

Cahokia đã từng là trung tâm đô thị lớn nhất phía Bắc Trung Mỹ trong số những thành phố lớn của Mexico và có thể đã từng là nơi cư ngụ của khoảng 40.000 người vào năm 1250. Cahokia đã bị xóa sổ khoảng 100 năm trước khi người châu Âu đến Bắc Mỹ, có thể do các yếu tố môi trường hoặc do các cuộc xâm lược của những dân tộc khác.

Nền văn minh Mycenae, Hy Lạp

Không giống như người Minoan, người Mycenae không phát triển mạnh về thương mại. Đỉnh cao của nền văn minh này là vào khoảng thời gian nền văn minh Minoan biến mất.

Nền văn minh Mycenaean đã từng phải chịu đựng sự thống trị trong 5 thế kỷ trước khi biến mất vào khoảng năm 1100 trước Công nguyên.

Nền văn minh Mycenae, Hy Lạp
Nền văn minh Mycenae, Hy Lạp

Theo huyền thoại Hy Lạp, Mycenae đã đánh bại thành Troy thần thoại. Các đồ tạo tác của đế chế này đã được tìm thấy ở vùng đất Ireland xa xôi.

Trong thực tế, nền văn minh với sự hùng mạnh về cả văn hóa lẫn kinh tế này đã bỏ lại đằng sau sự giàu có về kiến trúc, nghệ thuật và đồ chế tác. Điều gì đã xảy ra với để chế Mycenae? Có thể là do thiên tai, nhưng hầu hết các chuyên gia tin rằng đó có thể là do những kẻ xâm lược nước ngoài hay là do xung đột nội bộ đã dẫn đến sự biến mất của đế chế.

Nền văn minh Moche, Peru

Nền văn minh Moche đã phát triển một xã hội nông nghiệp hoàn hảo với các cung điện, kim tự tháp và các kênh mương tưới tiêu phức tạp trên bờ biển phía Bắc của Peru vào khoảng từ năm 100 đến năm 800.

Mặc dù họ không có tài liệu lưu giữ bằng văn bản nhưng đã để lại một vài manh mối về lịch sử của họ. Đó là những món đồ gốm vô cùng chi tiết, tinh xảo và những công trình kiến trúc hoành tráng.

Nền văn minh Moche, Peru
Nền văn minh Moche, Peru

Vào năm 2006, một căn phòng của người Moche đã được phát hiện và dường như căn phòng này đã được sử dụng để lưu giữ hài cốt của con người.

Có rất nhiều giả thuyết được đưa ra xoay quanh lý do tại sao nền văn minh Moche lại biến mất, nhưng lời giải thích phổ biến nhất là do ảnh hưởng của El Nino, một mô hình thời tiết khắc nghiệt với đặc điểm xen kẽ thời gian lũ lụt và hạn hán khắc nghiệt.

Nền văn minh Clovis, Bắc Mỹ

Rất ít người biết về người Clovis, một tộc người Ấn Độ thời tiền sử được cho là các cư dân đầu tiên của Bắc Mỹ.

Các đồ chế tác, xương và lưỡi dao bằng đá là những đầu mối duy nhất cho rằng nền văn minh này đã từng tồn tại.

Nền văn minh Clovis, Bắc Mỹ
Nền văn minh Clovis, Bắc Mỹ

Trong 30 năm qua, những tàn tích về hoạt động của con người cổ đại đã được phát hiện, nhưng lý do họ biến mất vẫn còn trong bí ẩn. Một số suy đoán cho rằng người Clovis đã săn bắn quá nhiều khiến ảnh hưởng đến nguồn cung cấp thực phẩm của họ, hoặc do sự thay đổi khí hậu, bệnh tật và thú dữ đã lấy đi nguồn thực phẩm của họ.

Những người khác tin rằng người Clovis không hoàn toàn biến mất, mà chỉ đơn giản phân tán vào các bộ lạc người Mỹ bản địa.

Đăng bởi

So sánh các nền Văn Minh

Cho rằng  “các nền văn minh không có giá trị như nhau là một định kiến thông thường, nhưng sai lầm.
Thật vậy, so sánh các nền văn minh vấp phải ít nhất là ba khó khăn chính :
1)      Thứ nhất : phải quan niệm rằng các nền văn minh đồng loạt tiến triển theo cùng một hướng, trên cùng một đường thẳng, vớinền văn minh này tiến xa hơn nền văn minh khác. Điều này không chính xác, vì hai lý do :
     Sự tiến hóa của các nền văn minh không theo cùng một hướng, trên cùng một đường thẳng, không phản hồi. Thí dụ : nhiều lần trong thế kỷ 20, Tây Phương đã rơi vào một tình trạng vô cùng dã man, tàn bạo, mặc dù định kiến thông thường vẫn cho rằng “văn minh” Tây Phương là tiến bộ nhất trên thế giới. Đường đi của một nền văn minh có thể rất quanh co, với những đường vòng đem nó lùi lại rất xa, đến những vùng tăm tối nhất.
     Trên một giai đoạn dài của lịch sử, có những lúc một nn văn minh vượt trội hơn những nền văn minh khác, để rồi bị qua mặt ở một giai đoạn lịch sử sau đó. Văn minh Tây Phương hiện nắm giữ vị trí ưu thắng, nhưng chỉ từ một thời gian tương đối ngắn so với những các giai đoạn hưng thịnh của nhiều nền văn minh khác. Để so sánh chúng ta có thể lấy thì dụ văn minh Trung Hoa, đã ngự trị trên một vùng rộng lớn, suốt hơn 2500 năm, cho đến cuối thế kỷ 19 …
2)      Người ta chỉ có thể đánh giá những nền văn minh dị biệt theo những tiêu chuẩn của nền văn minh của chính mình. Những gì được coi là « tiến bộ » đối với một nền văn minh, có thể không có ý nghĩa gì cả, thậm chí có ý nghĩa tiêu cực, đối với một nên văn minh khác. Claude Lévy Strauss kể lại trường hợp của một nhà nhân chủng học làm việc với một bộ lạc Nam Mỹ. Mỗi lần ông này quay về nguyên quán, thì người dân của bộ lạc ấy khóc lóc buồn bã trước viễn tượng ông ta phải rời nơi chốn tốt đẹp nhất trên thế giới để trở lại địa ngục của thế giới Tây Phương !
Thêm vào đó, những người đến từ một nên văn minh có thể không nhận ra những yếu tố được một nền văn minh khác coi như đặc biệt quan trọng. C.L. Strauss sử dụng hình ảnh của hai chiếc xe lửa di chuyển trên hai đường ry sát nhau. Người trên xe chỉ thấy rõ khuôn mặt, quần áo, vật dụng, cử động, của những người trên chiếc xe lửa kia, nếu nó chạy trên cùng một hướng, với gần như cùng một tốc độ. Trong trường hợp ngược lại, nếu chiếc xe lửa kia chạy ngược chiều, với một tốc độ cao, thì những gì người ta nhìn thấy từ chiếc xe này sẽ chỉ là những bóng mờ, đem lại một ấn tượng mơ hồ, tổng quát, sẽ được tâm trí diễn dịch, tưởng tượng thành ra đủ thứ.
3) Các nền văn minh đều được nuôi dưỡng bằng những thu lượm đến từ những nền văn minh khác. Đa số thực phẩm, thuốc men, nguyên liệu nằm trong những vật dụng thường ngày của người Tây Phưong đều đến từ những nền văn minh khác. Chỉ một thí dụ : môi trường sống thông thường của người Tây Phưong sẽ ra sao nếu thiếu … cao xu ? Cao xu nằm trong đa số vật dụng, làm chạy xe cộ, máy móc của họ, đến từ Trung và Nam M.
Trên một khía cạnh khác, tôn giáo độc thần là một phát minh của người Trung Đông, cũng như Ky Tô Giáo là một câu trả lời của văn hóa Do Thái trước một vấn nạn đặc thù được đặt ra cho dân tộc Do Thái. Tư Bản Tài Chính cũng là một phát minh của người Do Thái lưu vong, một phần do sự kỳ thị của thế giới Tây Phưong đối với họ. Và khi nghĩ đến một nền văn minh « Do Thái – Ky Tô » (judéo chrétienne), thì người ta cũng lập tức nhớ lại rằng các ngôn ngữ cũng như huyền thoại của Tây Phưong đều mang nguồn gốc … Ấn Âu !

Tóm lại rất khó mà so sánh được những nền văn minh, vì chúng như được trải ra trên một mặt phẳng rồi tiến đi theo mọi hướng, đồng thời lại hiện hữu nh những vay mượn của nhau, và, khi chúng đủ xa cách vớinhau, thì lại chỉ cho phép người bên ngoài một nền văn minh nhìn thấy một cảnh tượng mơ hồ, tổng quát, về nền văn minh ấy, với rủi ro suy diễn tùy theo cấu trúc suy tư của người quan sát.


Đăng bởi

Chuyện lạ về bộ não con người

Bộ não của chúng ta đặc biệt ở chỗ, nó có thể giải quyết các vấn đề phức tạp nhất của con người, mở khóa những bí mật của vũ trụ, đồng thời, khối chất xám cực kỳ bí ẩn này còn có thể sống sót qua những tai nạn lạ lùng nhất. Cuộc phiêu lưu của bộ não Einstein sau ngày thiên tài này qua đời, người có ít tế bào thần kinh nhất nhưng vẫn sống bình thường hay họa sỹ phát lộ tài năng sau ca chấn thương não… nằm trong số những 

câu chuyện kỳ lạ ấy.

Với thiên tài như Albert Einstein, bộ não của ông làm việc như thế nào? Cũng câu hỏi ấy, nhà nghiên cứu bệnh học Thomas Harvey đã quyết định tìm ra câu trả lời. Trước khi qua đời vào năm 1955, Einstein có mong muốn sau này sẽ được hỏa táng, và trong nghi lễ trang trọng, bộ não cũng bị thiêu cùng. Tuy nhiên, được sự cho phép của bệnh viện Princeton, ông Thomas Harvey đã có được nguyên bộ não của Einstein trong quá trình khám nghiệm tử thi. Tuy nhiên, Harvey không phải là một nhà thần kinh học nhưng vẫn muốn chiếm hữu bộ óc thiên tài nên các quan chức bệnh viện yêu cầu ông giao bộ óc, ông này từ chối và bị sa thải, sau đó Thomas Harvey chiếm hữu luôn hiện vật có giá trị này.

40 năm tiếp theo, những mảnh của khối óc nhà bác học Albert Einstein trải qua hành trình bôn ba khắp nơi cùng với Harvey. Ông Harvey cũng gửi những mẫu này tới một số nhà nghiên cứu nhưng hầu hết các kết quả không có gì mang tính đột phá. Thất vọng, Harvey cuối cùng trả bộ óc cho Bệnh viện Princeton và ông này đã qua đời năm 2007.
Tự xử để trị bệnh

Do gặp phải căn bệnh lạ, George – một học sinh trung học Canada hồi những năm 1980 bỗng sợ vi trùng một cách vô lý. Anh này rửa tay hàng trăm lần mỗi ngày, chưa kể liên tục tắm. Mặc dù đã vào viện điều trị, George vẫn không thể kiểm soát được hành vi của mình, đành phải ngừng việc học hành. Một ngày vào năm 1983, George chán nản và hoang mang, anh nói với mẹ mình rằng không thể chịu đựng được nữa. Người mẹ buột miệng: “Nếu cảm thấy quá tồi tệ, tự kết thúc bằng cách bắn vào mình đi”. Nghe thấy thế, anh ta liền vớ lấy khẩu súng lục, đưa vào miệng và bóp cò. Viên đạn xé xuyên hộp sọ của George, gây tổn thương thùy trước bên trái – phần của não gây ra chứng bệnh của người này. May mắn thay, George sống sót, và khi tỉnh dậy sau ca phẫu thuật, anh nhận thấy nỗi sợ vi khuẩn của mình biến mất.
Người gần như không có não

Đây là câu chuyện lạ lùng về một công dân người Pháp giấu tên được đăng tải trên tạp chí khoa học danh tiếng The Lancet năm 2003. Tạm gọi là Jacques, nhân vật này là một công chức ở Marseille, đã lập gia đình và có 2 con. Một ngày nọ, cảm thấy chân trái của mình khá yếu, ông vào viện khám. Các bác sĩ biết khi Jacques còn nhỏ, ông đã bị tràn dịch não. Qua máy quét, họ kinh ngạc phát hiện, phần lớn đầu của Jacques chứa đầy chất lỏng. Thông thường, dịch não tủy đóng vai trò như một hệ thống đệm bao bọc xung quanh não nhưng trong trường hợp của Jacques, do lưu thông bị tắc, dịch não tủy ứ đọng trong não, tạo sức ép làm cho não của ông giảm tới 50-70%. Nhưng kỳ lạ thay, Jacques vẫn sống tốt. Trong khi chỉ số IQ của ông chỉ có 75 nhưng ông có một công việc ổn định, lập gia đình và không gặp khó khăn khi tương tác với những người khác. Qua thời gian, bộ não đó đã thích nghi với tất cả những áp lực, mặc dù Jacques có lẽ là người có ít tế bào thần kinh nhất.
Cặp song sinh đọc ý nghĩ của nhau

Krista và Tatiana Hogan sinh ngày 25/10/2006 là cặp song sinh Canada dính nhau phần đầu duy nhất hiện còn sống. Tháng 8/2007, các bác sỹ tuyên bố 2 bé gái không thể tách rời do khả năng bị liệt rất cao. Cả thế giới trong 2,5 triệu ca sinh chỉ có 1 trường hợp hiếm hoi như vậy và đặc biệt hơn, Krista và Tatiana không chỉ tương đối khỏe mạnh mà còn có sự kết nối lạ lùng. Ví dụ, hai đứa trẻ cùng khóc nhưng khi nhét núm vú giả vào miệng một bé, bé kia cũng nín. Có lần thử nghiệm, một bé xem truyền hình, bé kia dù nhìn nơi khác nhưng cũng cười theo những gì đang xảy ra trên màn hình. Các nhà khoa học tin rằng hai bé này chia sẻ một cấu trúc độc đáo mà giải phẫu thần kinh gọi là “cầu nối vùng đồi thị”- cơ quan đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý cảm giác và tạo ra ý thức. Năm 2011, qua quét não, các bác sỹ sửng sốt phát hiện Krista và Tatiana có thể chia sẻ suy nghĩ cá nhân và nhận thức của nhau, vì thế, cuộc sống dù khó khăn, hai bé sẽ luôn có nhau để hỗ trợ.
Khả năng thoát xác

Năm 2012, một sinh viên tâm lý học, tạm gọi là Reese trình bày với Giáo sư Claude Messier và Andra Smith thuộc Đại học Ottawa (Canada) rằng, cô thường xuyên thoát ra khỏi cơ thể mình và thậm chí có thể chủ động việc này. Reese kể, những chuyện lạ lùng đến với cô từ những giấc ngủ trưa khi còn học mẫu giáo. Lớn lên, cô có cảm nhận rõ hơn cảm giác bồng bềnh và tự mình nhìn thấy cơ thể của mình trên giường hoặc sàn nhà.

Đương nhiên, Giáo sư Messier và Smith nghi ngờ nhưng khi đưa Reese vào máy chụp cộng hưởng từ, họ nhận thấy cứ khi nào nữ sinh viên này “thoát xác” là phần vỏ não chịu trách nhiệm tạo ra hình ảnh lại bị vô hiệu hóa. Thực tế, toàn bộ phía não phải của cô này không hoạt động, nhưng bên trái thì hoạt động tích cực. Giáo sư Messier và Smith cho rằng Reese trải qua một loại ảo giác, nó giống như một giấc mơ, trong đó bạn có thể thoát ra ngoài cơ thể mình.
Họa sỹ bất đắc dĩ

Năm 1988, khi 35 tuổi, Jon Sarkin, người Mỹ trong lần đi đánh golf đột nhiên bị tổn thương dây thần kinh thính giác, dẫn đến ù tai không nghe thấy gì. Hy vọng dập tắt những tiếng ù không ngừng này, Sarkin đã trải qua một ca phẫu thuật nhưng ông lại bị đột quỵ. Ca đột quỵ đó gây bất ngờ ở chỗ, Sarkin bỗng cảm thấy thôi thúc phải vẽ tranh. Ông vẽ không ngừng nghỉ những phác thảo về các bệnh nhân, những hình dạng nguệch ngoạc hoặc các khuôn mặt kỳ lạ. Có bữa ông phải ngừng ăn để ghi lại những ý tưởng trong đầu. Tài năng nghệ thuật bất ngờ phát lộ sau chấn thương não trong y văn thế giới mới ghi nhận có 3 trường hợp. Năm 1993, Sarkin bắt đầu mở một studio nghệ thuật. Tiếng tăm của họa sỹ này ngày càng vang xa, và giờ nếu muốn sở hữu một bức tranh của Jon Sarkin, người ta sẽ phải bỏ ra ít nhất 10.000 USD.
Người thực vật biết “nói”

Scott Routley sống trong tình trạng thực vật sau một tai nạn xe hơi gây chấn thương não nặng và trong 12 năm, anh hoàn toàn không có phản xạ. Năm 2012, Giáo sư Adrian Owen và Tiến sỹ Lorina Nacia của Đại học Western Ontario, Canada đã tiến hành một thử nghiệm mới trên bệnh nhân hôn mê như Scott Routley để xem những người sống thực vật thực sự có ý thức hay không. Giáo sư Owen theo dõi Routley bằng một chiếc máy quét não, khi nói với bệnh nhân 38 tuổi rằng hãy tưởng tượng anh ta đang đi bộ trong nhà. Đột nhiên, thiết bị báo hiệu não của bệnh nhân hoạt động. Đến năm 2013, bộ đôi nói trên đã phát minh ra một kỹ thuật đơn giản hướng dẫn Routley trả lời bằng cách nghĩ “có” hoặc “không”. Rõ ràng, công việc này có ý nghĩa đột phá khi cho phép bệnh nhân thực vật có thể giao tiếp với bác sĩ. Quan trọng là, dù bị mắc kẹt trong cơ thể của mình, những bệnh nhân này cuối cùng đã có cách tiếp cận với những người xung quanh.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Sự trở về bí ẩn của những chiếc máy bay

Những vụ mất tích máy bay và tàu thuyền đã không còn là hiếm, nhưng điều kỳ lạ lại chính là sau khi mất tích một thời gian, chúng lại hiện trở về hoàn toàn nguyên vẹn. Những máy bay và tàu thuyền không còn người lái như là những linh hồn trở về Trái Đất từ một Vũ Trụ khác.

Chuyến bay từ Manila Philippin đến đảo Mêndanao

Sự trở về bí ẩn của những chiếc máy bay

Chuyến bay từ Manila Philippin đến đảo Mêndanao

Năm 1985, tại vùng đầm lầy trong khu rừng rậm Niu Ghinê, người ta phát hiện thấy một máy bay chở khách hai động cơ đã mất tích trước đó gần nửa thế kỷ. Điều khiến người ta không hiểu nổi là chiếc máy bay đó trông còn mới y như trước khi bị mất tích, không hề cũ đi hoặc biến dạng. Số hiệu trên máy bay vẫn rõ ràng, dễ đọc. Chiếc máy bay lấp lánh ánh bạc này mất tích trước đó 45 năm trên đường bay từ Manila Philippin đến đảo Mêndanao. Trong khoang máy bay vẫn tìm thấy những tờ báo tuần thứ ba tháng 1 năm 1937, ngày Chủ nhật.

   Một nhóm chuyên gia hàng không của quân đội Inđônêxia được cử đến hiện trường. Sau khi xem xét nghiên cứu chiếc máy bay “như còn mới” đó, khi trở ra, ai cũng tái mặt và kinh ngạc. Ngành chủ quản phụ trách nghiên cứu lập tức ra lệnh phong tỏa khu vực mới phát hiện ra chiếc máy bay đó. Các điều tra viên lúc đầu khi mới trông thấy chiếc máy bay đó, không ai dám tim ở mắt mình nữa. Vỏ ngoài của nó trông vẫn mới, thân máy bay hoàn toàn không có một vết tỳ nào, dưới ánh sáng mặt trời nó sáng lấp lánh như gương. Các nhân viên điều tra tưởng rằng cửa của nó chắc chắn bị gỉ, rất khó mở, nhưng ngược lại, vừa vặn quả đấm là mở được ngay, không hề có tiếng cót két hay răng rắc gì cả, êm ru. Vào trong khoang máy bay không thấy người nào dù là sống hay chết. Nhưng trong máy bay cốc giấy, mẩu thuốc lá và mấy tờ báo năm 1937 vẫn chưa ngả mầu vàng, dường như mới đó vẫn đang có người ngồi trong máy bay. Trong một chiếc gạt tàn, có để một vỏ bao thuốc lá thơm, loại thuốc lá mác ấy lưu hành vào những năm 1930, nhưng vào thời Chiến tranh thế giới thứ II đã ngừng sản xuất. Còn những trang phục và kiểu đầu tóc trên tờ báo đều thuộc thời kỳ kinh tế khủng hoảng và suy thoái ở Mỹ. Trong phích nóng vẫn còn cafe nóng hổi, và mùi vị của nó vẫn thơm ngon, chưa hề bị biến mất.

Sự trở về bí ẩn của những chiếc máy bay

Điều khiến kỳ lạ là  các nhân viên điều tra ngạc nhiên nhất là tình trạng máy bay. Trong bình ắc quy của máy bay vẫn nạp đầy điện, chỉ vặn công tắc là đèn trong máy bay bật sáng. Thùng chứa nhiên liệu của máy bay hầu như vẫn đầy nguyên. Tất cả những điều đó khiến cho nhân viên điều ra sởn tóc gáy. Chiếc máy bay đó trông như được hạ cánh khẩn cấp nhờ các bánh xe của nó, vừa may nó đỗ xuống được chỗ đất mềm trong vùng đầm lầy, nên hoàn toàn không bị hư hại gì, vẫn có thể bay trở lại như 50 năm trước đây. Các nhà khoa học vẫn tiếp tục điều tra về bí mật của việc máy bay đã mất tích từ lâu nay bỗng xuất hiện trở lại.
  Theo ghi chép, những sự kiện tương tự cũng đã từng xảy ra vào thập niên 60. Một máy bay ném bom của Mỹ ngày 04 tháng 04 năm 1946 không quân Mỹ huy động lực lượng tìm kiếm suốt 500km vùng trời nơi nó mất tích, nhưng không kết quả gì. Bất ngờ, vào năm 1962 chiếc máy bay đó lại xuất hiện tại nơi cách sân bay mấy trăm mét. Thiết bị vô tuyến điện trên máy bay vẫn nguyên vẹn. Căn cứ theo phân tích máy móc thiết bị, dường như nó mới đõ xuống ngay chiều hôm đó, không ai nghĩ chiếc máy bay đã mất tích 17 năm.
 Vào một ngày trời quang mây tạnh của năm 1984, tại bãi cát miền Bắc Mexico bỗng xuất hiện 05 máy bay quân sự Mỹ. Thân máy bay vẫn sáng bóng, thùng nhiên liệu vẫn chứa đầy xăng, nhưng trong máy bay thì trống rỗng chẳng có một người. Các chuyên gia Mỹ cho rằng: Cả 05 máy bay đó điều mất tích từ hồi năm 1945 lại vùng biển tam giác Bécmút (gọi là Bécmuđa). Nhưng việc đó vẫn đang tranh luận, bởi có người nói rằng, phiên hiệu của máy bay đã mất tích nhiều năm lại xuất hiện trở lại là một sự thực không thể phủ nhận được.
Còn những sự kiện tàu thuyền đã mất tích xuất hiện trở lại thì vụ phát hiện tàu “RaĐahama” của Mỹ tại tọa độ 37 độ 37′ độ Vĩ Bắc 51 độ 55′ độ Kinh Đông vào tháng 08 năm 1935 là vụ nổi tiếng. Khi tàu buôn “Axơchich” phát hiện ra tàu RaĐahama thì trên tàu không có người nào cả. Điều khiến cho thuyền trưởng và các thuyền viên tàu “Axơtich” kinh ngạc là khi họ từ nước Anh ra đi thì được thuyền trưởng tàu “Raicơxcơ” của Italia cho biết hồi trước tháng 07 họ đã tận mắt trông thấy tàu “RaĐahama” bị đắm ở Đại Tây Dương.
Hơn 100 năm trước đây, ở Đại Tây Dương cũng từng phát hiện được một tàu đã mất tích nhiều năm trước đó. Đó là con tàu Meri Sairaistơ. Khi phát hiện ra nó thì trên tàu không có người, nhưng những đồ quý giá như vàng bạc, kim cương vẫn nguyên vẹn, không hề suy suyển. Xuồng cứu sinh và các đồ vật khác vẫn đầy đủ. Thậm chí trên tàu vẫn còn để lại những thứ trong bữa ăn đang ăn dở. Không biết người trên tàu đã bỏ đi đâu?

Sự trở về bí ẩn của những chiếc máy bay

Đầu năm 1990, tàu buồm hai cột “Durixis” mất tích đã 24 năm bỗng nhiên lại xuất hiện một cách bí ẩn, nó đỗ ở một bãi biển vắng vùng ngoại ô thành phố Caracat và Vênêduêla. Ba thủy thủ trên tàu khi được phát hiện ra (năm 1990) đều giật mình ngạc nhiên. Ngày 06 tháng 01 năm 1966 họ từ đảo Aroba ra khơi. Không ngờ khi họ vừa đánh bắt được con cá lớn, nặng tới 110kg thì bão ập tới. Mọi người vội vã đưa nhau đi tránh gió. Nào ngờ cơn hoảng sợ đã kéo dài đến 24 năm. Vụ tàu mất tích xuất hiện trở lại này, tuy trên tàu vẫn có người, không biết các nhà vũ kia, chỉ là những “tà linh hồn” trở lại.

Đăng bởi

Kỉ lục Guinness: 9 người phi thường nhất hành tinh

Nhờ khả năng độc nhất vô nhị đó mà họ đều được ghi danh vào sách kỉ lục thế giới

Kỉ lục Guinness :9 người phi thường nhất hành tinh

John Evans có khả năng giữ thăng bằng một chiếc ô tô nặng 160kg trên đầu trong thời gian 33 giây vào tháng 5/1999 tại Luân Đôn

Kỉ lục Guinness :9 người phi thường nhất hành tinh

Jackie Bibby, biệt danh The Texas Snake Man/người rắn ở Texas có thể ngồi trong bồn với 87 con rắn trong 45 phút. Kỉ lục được xác lập tại Dublin, Texas, tháng 11/2007

Kỉ lục Guinness :9 người phi thường nhất hành tinh

The Space Cowboy biệt danh Chayne Hultgren có thể kéo vật thể nặng đến 412kg chỉ bằng hốc mắt tại Milan, Italy, tháng 4/2009

Kỉ lục Guinness :9 người phi thường nhất hành tinh

Kevin Shelley đập vỡ 46 bàn cầu toilet bằng đầu tại, Đức tháng 9/2008

Kỉ lục Guinness :9 người phi thường nhất hành tinh

Dennis Avner, biệt danh Cat Man đã trải qua 14 ca phẫu thuật để thay đổi khuôn mặt, tai, răng… của mình. Hình ảnh chụp tại Madrid, Tây Ban Nha tháng 2/2008.

Kỉ lục Guinness :9 người phi thường nhất hành tinh

Kim Goodman có thể đẩy hai tròng mắt ra xa khoảng 1.2cm khỏi hốc mắt tại Istabul, Thổ Nhĩ Kì tháng 11/2007

Kỉ lục Guinness :9 người phi thường nhất hành tinh

Brit Garry Turner có thể kéo da cổ giãn ra 15,9cm tại  Los Angeles, tháng 10/1999.

Kỉ lục Guinness :9 người phi thường nhất hành tinh

Từ năm 2006, Lucky Diamond Rich đã phủ 100% hình xăm trên cơ thể

Kỉ lục Guinness :9 người phi thường nhất hành tinh

Juha Rasanen có thể ném 1 người nặng 60kg quãng đường 5,40m trên thảm tại Madrid, Tây Ban Nha tháng 6/2006

Đăng bởi

Cô gái dùng thìa đào giếng sâu 10m

Cô gái dùng thìa đào giếng sâu 10m nghe có vẻ không tin nhưng chỉ bằng một số vật dụng đơn giản như chiếc liềm gãy, muỗng (thìa), ca nhôm… cô gái bị tâm thần Huỳnh Thị Nhàn (sinh năm 1987) đã đào được giếng nước có đường kính khoảng 1m, sâu trên 9m.

Theo lời của cha mẹ ruột của Nhàn là ông Huỳnh Kỳ (60 tuổi) và bà Hồ Thị Quế (62 tuổi), Nhàn là đứa con gái thứ 4 trong số 5 anh em. Nhàn bị câm điếc và mắc chứng bệnh thần kinh từ khi lên 10 tuổi.
Chiếc giếng trên được Nhàn đào từ khoảng đầu tháng 3 năm nay. Lúc đầu ông bà cứ tưởng chỉ là sự nghịch ngợm vô thức nhất thời của đứa con bị thần kinh. Thế nhưng về sau gia đình không khỏi lo lắng khi thấy trừ những khi ngủ ra, thời gian còn lại đều được Nhàn dành cho việc đào giếng.

                                                     Nhàn chuẩn bị xuống giếng.
“Dù ngày hay đêm, bất kể khi nào tỉnh dậy là nó ra đào”, ông Kỳ cho biết. Thấy giếng mỗi ngày một sâu, sợ con gặp nguy hiểm, nhiều đêm vợ chồng ông Kỳ không còn cách nào khác là chia nhau ra ngồi thức để trông chừng.
Chúng tôi dùnng thước dây đo thử thì chiếc giếng đã sâu gần 10m, nhưng vẫn chưa thấy Nhàn dừng việc đào lại. Việc làm kì quặc của cô gái này đã thu hút hàng trăm người dân hiếu kỳ trong xã và của vùng lân cận kéo nhau đến xem.
Nhìn miệng giếng tròn và sâu thẳng, nhiều người không khỏi kinh ngạc. Theo lời một số người thợ đào giếng lâu năm trong vùng, nếu không dùng dụng cụ thì khó mà đào được miệng giếng tròn và sâu thẳng tắp như vậy.
“Thấy giếng sâu như vậy mà con cứ đào sẽ gặp nguy hiểm chúng tôi định lấp đi. Tuy nhiên lại không dám bởi tính khí của Nhàn rất thất thường, nhỡ nó phản ứng. Chúng tôi chỉ biết thay nhau trông chừng mà thôi”, ông Kỳ giãi bày.
                                        Dù đã sâu gần 10m nhưng Nhàn vẫn đang tiếp tục đào.
Dụng cụ để đào giếng của Nhàn.
Chuồng trâu bỏ hoang, một trong những nơi Nhàn đổ số đất đã đào được.
Đống đá được lấy lên trong quá trình đào giếng.
Tấm đậy giếng khi nghỉ đào do Nhàn tự tay làm.
Miệng giếng tròn và sâu thẳng tắp.
Một số vật dụng do Nhàn nặn bằng đất sét, làm bằng tre.
Đăng bởi

Có gì trong Vũ Trụ ?

Vũ trụ có bạn, có tôi, có rượu chát, có trà tàu, có bàn phím ta đang dùng, màn hình trước mặt ta, và rất nhiều thứ phụ thuộc khác … Nhưng tổng quan, thì vũ trụ chỉ có sáu thành tố :
   Vật chất thông thường cấu tạo bời những phân tử, nguyên tử, điện tử … như chúng ta hằng quen thuộc (4%)
         Rồi đến ánh sáng, vừa là hạt (quang tử), vừa là sóng, với những tần số trải dài từ sóng radio, qua tia hồng ngoại, rồi ánh sáng thấy được, tia cực tím, tia X, cho đến tia gamma, mang nhiều năng lượng nhất.
         Một thành tố ít được chúng ta quan tâm là hạt neutrinos, một loại hạt rất khó dò tìm.
         Thật ra, hai thành tố dồi dào nhất trong vũ trụ lại chỉ là những giả định : đó là vật chất đen (21 %) và năng lượng tối (75 %)
         Sau hết, để có thể mô tả vũ trụ, chúng ta cần cho nó một cấu trúc hình thể.

Vật chất thông thường

Còn được gọi là vật chất « baryonique », đại khái bao gồm tất cả vật chất mà chúng ta cảm nhận được bằng giác quan, kể cả các vì sao, thiên hà v.v… Vật chất loại này chỉ chiếm khoảng 4 % của toàn thể vũ trụ. Trung bình vũ trụ chỉ có một dương tử (proton) trong bốn thước khối, tức một tỷ trọng vô cùng thấp hơn « chân không » mà kỹ thuật có thể tạo ra được.
Chúng ta chỉ quan sát được một phần nhỏ của vật chất thông thường, nên câu hỏi đặt ra là làm sao tính được tỷ trọng (mật độ) của nó ? Có hai cách : một là dựa trên kết quả của sự cấu thành các nhân nguyên tử trong thời gian từ một giây đến ba phút sau Big Bang. Khi ấy, nhiệt độ xuống dưới 1 tỷ độ, cho phép dương tử (proton) và trung hòa tử (neutron) kết hợp thành các nhân deuterium, helium và lithium, tức những hạt nhân đầu tiên. Số lượng các hóa chất này, đo từ quang phổ (spectre) của các thiên hà ở xa, cho biết mật độ protons và neutrons nguyên thủy, rồi mật độ « vật chất thông thường ».
Cách thứ hai dựa trên nền ánh sáng của vũ trụ. Số là vào khoảng 380 ngàn năm sau Big Bang, khi điện tử sát nhập vào các nhân (protons + neutrons) để tạo thành những nguyên tử, thì các quang tử  (photons) bắt đầu có thể thoát được ra khỏi trạng thái hỗn nguyên lúc ban đầu và cho ra hình ảnh đầu tiên của vũ trụ. Nền ánh sáng ấy có những gia giảm cực nhỏ (khoảng 1/100 000 độ), phản ảnh cấu trúc vật chất của vũ trụ vào tuổi 380 000 năm. Dựa trên các yếu tố ấy, người ta tính ra được mật độ của vật chất thông thường. Việc hai cách tính cho ra những kết quả tương đồng, với sai số không trên vài phần trăm, được coi như một thắng lợi đáng kể của vũ trụ học cuối thế kỷ 20.

 Nền ánh sáng của vũ trụ

Ánh sáng

Vũ trụ chan hòa ánh sáng. Cứ một dương tử (proton) thì có 1,5 tỷ quang tử (photons). Đầu tiên là « nền ánh sáng » phát ra từ 380 ngàn năm sau Big Bang, rồi đến đủ loại tia sáng, đem lại cho chúng ta những hình ảnh của các sự vật, từ sự vật thông thường quanh ta, cho đến các vì sao, thiên hà, và cả lỗ đen. Thí dụ như tia X được phát ra từ những ngôi sao neutrons, « sao lùn trắng », lỗ đen …
Thật ra « nền ánh sáng »  chiếm 95 % ánh sáng của vũ trụ. Làm sao biết được nó đến từ 380 ngàn năm sau Big Bang ? Có nhiều phương pháp, nhưng một bằng chứng thường được nhắc đến là sự quân bình nhiệt lượng với vật chất đi cùng với nó (tính từ quang phổ). Vũ trụ sau giai đoạn phát ra « nền ánh sáng » đã giãn nở ra rất nhiều, nên vật chất trở thành quá thưa thớt để ánh sáng có thể quân bình năng lượng với vật chất ấy. Vì thế, « nền ánh sáng » bắt buộc phải đến từ một quá khứ xa xưa, khi mật độ vật chất còn đủ cao, vượt trên một mức độ nào đó.

Hạt Neutrinos

Phần lớn neutrinos đến từ thời điểm 10-35 giây sau Big Bang, khi nhiệt độ của vũ trụ còn cao hơn 10 tỷ độ (một phần nhỏ đến từ sự bùng nổ của các ngôi sao supernovae sau này). Vào lúc ấy, cứ mỗi 4 quang tử, thì người ta có 9 neutrinos (hay anti neutrino). Trên lý thuyết, có một « nền neutrino » phát ra vào khoảng 1 giây sau Big Bang, khi các nhân nguyên tử khởi sự cấu thành. Nếu « nhìn » ra được « nền neutrinos » ấy thì người ta sẽ có một hình ảnh của vũ trụ chỉ một giây sau Big Bang ! Đây là một trong những nỗ lực của vũ trụ học hiện đại.
Neutrino không có điện lực và khối lượng của nó rất nhỏ, nên ít tác động với các hạt khác, khiến việc dò tìm nó vô cùng khó khăn. Thậm chí sự hiện hữu của nó chỉ là một giả thuyết trong suốt 36 năm, từ 1930, khi được Pauli đề nghị để quân bình phương trình phóng xạ béta, cho đến 1956, khi neutrino thực sự được chứng nghiệm bởi Reines và Cowan. Quan sát được sự hiện hữu của neutrino cũng là một thắng lợi quan trọng của vật lý và vũ trụ học.

Vật chất đen

Ngược lại với những gì vừa được trình bày, vật chất đen và năng lượng tối đem chúng ta vào lãnh vực của giả định. Từ 1930, Zwicky nhận thấy khối lượng của các thiên hà cao hơn khối lượng của các vì sao cấu thành chúng, và đề ra giả thuyết một phần vật chất của các thiên hà không phát ra bất cứ một tín hiệu nào cho phép chúng ta có thể nhận biết nó. Giả thuyết ấy được gọi là « vật chất đen ».
Tác động duy nhất của vật chất này trên các vật thể quanh nó là lực hấp dẫn. Các thiên hà phải có một khối lượng nào đó thì mới có đủ lực hấp dẫn để mang hình thái mà chúng ta nhìn thấy. Nếu khối lượng ấy kém hơn, thì lực hấp dẫn cũng giảm đi, và thiên hà sẽ không thể nào hiện hữu, vì các ngôi sao và khối hơi của nó sẽ không đủ « sức hút » để « ở chung » với nhau, mà sẽ tan tác ra, mỗi thành phần đi về một phía.
« Nền ánh sáng của vũ trụ » cũng cho ta bằng chứng về sự hiện hữu của vật chất đen. Như đã nói ở trên, nền ánh sáng phát ra từ 380 000 năm sau Big Bang này có những gia giảm nhiệt độ rất nhỏ nhưng đủ để cho biết mật độ vật chất ở một số điểm có hơi cao hơn ở những điểm khác một chút. Những điểm có nhiều vật chất hơn sẽ cho ra các vì sao, thiên hà, và nhóm thiên hà sau này, do lực hấp dẫn khiến vật chất kết tụ lại. Khi vũ trụ giãn nở, thì các hạt vật chất càng lúc càng xa nhau, và mật độ vật chất cũng giảm đi theo cùng một tỷ lệ. Nếu chỉ tính trên « vật chất thông thường », thì sự gia giảm mật độ từ 0,001 % vào 380 000 năm sau Big bang, sẽ không thể lên quá 1 % trong vũ trụ ngày nay. Trong thực tế, con số này cao hơn gấp nhiều chục lần, khiến giả thuyết « vật chất đen » trở thành cần thiết.
Cái gì cấu thành vật chất đen ? Một trong những nỗ lực hiện nay của vũ trụ học nhắm vào việc nghiên cứu một loại hạt gọi là Wimp (Weak Interaction Massive Particle), như một ứng viên tốt vào hàng ngũ « vật chất đen ». Chúng không thể thấy được, vì không phát ra bất cứ tín hiệu nào, nên người ta chỉ có ba cách để tìm ra chúng :
1)      Khi hai wimp đụng nhau, chúng tự hủy và cho ra âm điện tử (electrons), dương điện tử (positrons) và neutrinos. Một quang phổ kế (spectromètre) được dự trù đặt trên Trạm Không Gian Quốc Tế để dò tìm các positrons, trong khi các thí nghiệm « super Kamiokande » (Nhật) và IceCube (Nam Cực) đo lường hạt neutrino.
2)      Vật chất đen, trong đó có hạt wimp, không ngừng xuyên qua địa cầu. Một tỷ wimp hiện đang xuyên qua người bạn trong lúc bạn đang đọc bài này. Một số cực hiếm wimp có thể  đụng vào một nhân nguyên tử và làm cho nó di động một chút. Nhiều thí nghiệm hiện đang tập trung vào phản ứng này, sau khi làm lạnh các nguyên tử được quan sát để giảm thiểu sự động đậy bình thường của chúng (thí nghiệm Cogent và Dama, rồi Xenon, Majorana … sử dụng các kỹ thuật ngày một tân tiến hơn).
3)      Người ta cũng có thể tạo ra các wimp. Theo vật lý lượng tử thì một biến cố xảy ra theo chiều này cũng có thể xảy theo chiều khác. Trong LHC (Large Hadron Collider) đặt tại Genève, người ta bắn những hạt thông thường vào nhau, rồi quan sát phương trình năng lượng và vận chuyển của những gì hiện ra sau đó. Nếu phương trình này không quân bình, thì người ta có thể kết luận là mình đã tạo ra những hạt không tương tác với các máy dò tìm, tức không thể « nhìn thấy », như hạt wimp …
Ngoài ba loại thí nghiệm tập trung vào các wimp này, người ta cũng có thể quan sát một số biến cố xảy ra trong vũ trụ để « thấy » được những ảnh hưởng gián tiếp của vật chất đen. Thí dụ như nhóm   thiên hà Boulet, cấu thành bởi sự va chạm giữa hai nhóm thiên hà, cho ra những tia X, kết quả của vật chất thông thường đụng vào nhau (ở đây là các khối hơi). Các tia X này cho biết vị trí của các khối hơi đang va chạm, và người ta có thể quan sát một cách gián tiếp sự hiện diện của vật chất đen vì nó làm thay đổi hình dạng của các nguồn tia X, do lực hấp dẫn của nó.
 Nhóm thiên hà Boulet
Một giả thuyết thú vị quanh vật chất đen là sự hiện hữu của các thiên hà, ngôi sao, hành tinh « đen », và, tại sao không, có thể có cả những con người « đen » trên các « hành tinh đen » ấy, đang nghiên cứu chúng ta như những « vật chất đen » của họ ! Thậm chí họ có thể đang đi ngang qua thân thể chúng ta, mà chúng ta không hề hay biết … Giả thuyết này được đưa ra lần đầu tiên bởi hai nhà Nobel vật lý Lee Tsung Dao và Yang Chen Ning, năm 1956. Mặc dù các kiến thức gần đây cho biết giả thuyết ấy khó là một hiện thực, người ta vẫn nghĩ vật chất đen  có thể chứa đựng rất nhiều ngạc nhiên kỳ thú, sẽ được khám phá ra trong tương lai.
Vì vật chất đen vẫn được coi như một giả thuyết, người ta có thể đặt câu hỏi : có giả thuyết nào khác cắt nghĩa được sự hình thành và dạng thái của các thiên hà cũng như ngôi sao, mà không cần đến vật chất đen hay không ? Câu trả lời là có. Trong trường hợp ấy người ta phải giả định một chuyện khác, phức tạp hơn rất nhiều, là sự thay đổi tính chất của lực hấp dẫn trong một số điều kiện nào đó. Vật lý học luôn khám phá ra những dạng thức mới của vật chất, nên việc giả định một dạng vật chất chưa được thực nghiệm, rõ ràng là dễ hình dung hơn quan niệm sự thay đổi của cả một định luật vật lý.

Năng lượng tối

Năng lượng tối chiếm ba phần tư vũ trụ. Sự hiện hữu của nó cũng là một giả định. Nhiều quan sát cho thấy sự giả định này là cần thiết :
         Einstein, vào năm 1916 đã nghĩ rằng vũ trụ không thể hiện hữu nếu không có một lực phân ly nào đó quân bình được lực hấp dẫn. Nó khiến cho các cấu trúc vật chất được kéo xa nhau ra để không « rơi » vào nhau. Hubble, năm 1929 nhận thấy vũ trụ không cố định như Einstein nghĩ, mà không ngừng giãn nở. Cùng lúc, Friedman và Lemaitre (một linh mục !) chứng minh rằng thuyết tương đối đã tiên liệu sự giãn nở của vũ trụ. Rồi từ 1998, người ta biết không những vũ trụ giãn nở mà độ giãn nở của nó càng ngày càng gia tăng. Năng lượng tối đem lại « sức hút » cần thiết để cắt nghĩa hiện tượng gia tăng giãn nở này (*). 
         Từ nền ánh sáng của vũ trụ, người ta tính ra là tuổi của vũ trụ nhỏ hơn 10 tỷ năm, trong khi có một số ngôi sao già hơn số năm ấy ! Giả thuyết năng lượng tối giải quyết được nghịch lý này (tuổi thật của vũ trụ là 13,7 tỷ năm).
         Độ xa của các thiên hà cho biết thiên hà ấy được tạo ra bao giờ. Người ta nhận thấy vũ trụ càng ngày càng làm ra ít thiên hà hơn trong quá khứ. Quan sát này được giải thích bởi năng lượng tối. Thật vậy, năng lượng tối làm cho sự giãn nở của vũ trụ càng ngày càng gia tăng, khiến vật chất càng ngày càng xa nhau ra và càng khó kết tụ lại để cho ra các vì sao và thiên hà.
Vật lý lượng tử cho biết chân không có một năng lượng, và người ta đã nghĩ năng lượng của chân không, chính là năng lượng tối. Tuy nhiên, năng lượng của chân không cao hơn con số năng lượng tối được ước tính rất nhiều (khoảng 60 lần), gây nên một khó khăn hiện vẫn chưa được giải quyết. Nếu năng lượng tối quá cao (thí dụ bằng năng lượng chân không), thì sức hút của nó sẽ khiến vũ trụ giãn nở quá nhanh, vật chất sẽ không có thời gian để kết tụ lại, các vì sao và thiên hà không thể nảy sinh, và chính chúng ta cũng như mọi sự sống sẽ không hiện hữu !
Nhiều giả thuyết tìm cách giải thích hiện tượng gia tăng tốc độ giãn nở của vũ trụ mà không cần đến năng lượng tối. Một trong những giả thuyết ấy cho rằng độ giãn nở của vũ trụ không đồng nhất, vì mật độ của vũ trụ không đồng nhất. Độ giãn nở sẽ cao hơn trong những vùng có mật độ thấp (vì lực hấp dẫn của vật chất kém hơn). Theo giả thuyết này thì chúng ta đang sống ở trung tâm của một vùng có mật độ vật chất rất thấp hơn các vùng khác, một vùng « trống không ». Mặc dù nó phủ định việc vũ trụ có một mật độ đồng nhất, giả thuyết vừa nói vẫn không phủ định quan sát cơ bản của vũ trụ học dựa trên « nền ánh sáng ». Thật vậy, từ trung tâm của một vùng trống rỗng  nhìn về mọi phía, người ta có thể có cảm tưởng rằng vũ trụ đồng nhất.
Một lý thuyết tương tự khác, giả định sự hiện hữu của nhiều vùng « trống không » có thể đem lại cảm tưởng sự giãn nở của vũ trụ luôn gia tăng. Các giả thuyết này phù hợp với một mô hình toán học dựa trên phương trình của thuyết tương đối, được đề ra bởi Linh Mục Lemaitre và các nhà vũ trụ học Toldman và Bondi. Tuy nhiên, vấn đề là chứng minh được sự hiện hữu của những vùng trống không ấy. Một số quan sát đã được công bố, một vài phương trình mới đã được đề nghị, nhưng chưa giải pháp nào đủ tính thuyết phục. Trong một tương lai gần, các chương trình Supernova Legacy Survey sẽ nghiên cứu ánh sáng của nhiều trăm supernova phụ trội (*), cùng với chương trình Joint Dark Energy Mission, nghiên cứu tiến trình giãn nở của vũ trụ. Vệ tinh Plank cũng sẽ khảo sát nền ánh sáng của vũ trụ với nhiều chi tiết hơn, và, vào năm 2020, viễn vọng kính SKA, sử dụng sóng radio, sẽ đem lại một thống kê các thiên hà bao quát chưa từng có. Người ta sẽ biết được vũ trụ có thể có các vùng trống không vĩ đại hay không, và giả thuyết năng lượng tối có phải được duy trì hay không ?

Cấu trúc hình thể

Một tô phở không thể chỉ có bánh phở, nước dùng, thịt, hành, rau thơm, tương tàu, tương ớt … mà còn cần một yếu tố vô cùng quan trọng. Đó là cái tô ! Vũ trụ cũng thế. Hình thái của vũ trụ liên hệ đến các thành tố cấu thành nó và độ giãn nở của nó. Phương trình Friedmann gắn liền hằng số Hubble (độ giãn nở) với mật độ vật chất (tỷ trọng), và độ cong của vũ trụ, tức dạng thái hình học của nó, có thể tính được từ nền ánh sáng. Người ta cũng tìm cách thẩm định xem phương trình Pythagore có được kiểm chứng trên một khoảng cách cực lớn hay không ? Nói cách khác người ta nối ba thiên hà ở rất xa nhau bằng những đường thẳng và nhìn xem tổng số độ của tam giác ấy bằng, hay nhỏ hơn, hoặc lớn hơn 180 độ. Các kết quả đều cho biết vũ trụ gần như một mặt phẳng (3 góc của tam giác vừa kể cộng lại bằng 180°). Tuy nhiên, cũng như con người thời xưa đã nghĩ trái đất là một mặt phẳng (vì chỉ quan sát được một phần nhỏ của địa cầu), kết luận này vẫn chỉ được coi như tạm thời.

Kết

Sự hiểu biết về vũ trụ hiện vẫn còn rất phôi thai. Khoảng 95% thành tố của vũ trụ vẫn còn chưa được khám phá. Tạm thời, nhiều giả thuyết được đề ra để cắt nghĩa một số quan sát, trong khi chờ  những quan sát khác. Có những giả thuyết quy định sự hiện hữu của con người, như số lượng vật chất tối. Chúng là những tiền đề của một suy luận triết học gọi là « nguyên tắc nhân hiện » (principe anthropique). Có phải vũ trụ đã chọn giải pháp này thay vì giải pháp khác, chỉ để cho chúng ta hiện hữu ? Điều chắc chắn là nếu một giải pháp khác được chọn lựa, thì sẽ không có một sinh vật nào có mặt để nêu lên câu hỏi ấy !
Một vấn nạn khác cũng rất khó tránh, là : điều gì đã quy định sự chọn lựa ấy ?
Nguyễn Hoài Vân

17 tháng 7 năm 2011
(*) Các supernova loại Ia có một độ sáng cố định, chỉ lệ thuộc khoảng cách. Mặt khác, khi một thiên thể ở xa phát ra một tia sáng, thì trong thời gian tia sáng ấy bay đến chúng ta, vũ trụ đã giãn nở, khiến sóng của tia sáng kia bị kéo dài ra, làm cho nó thiên về phía màu đỏ (màu đỏ có làn sóng dài nhất trong các màu). Biết được quang phổ (spectre) của một vài hóa chất quen thuộc, người ta đo lường sự chuyển dịch về phía màu đỏ của những quang phổ ấy khi được phát ra bởi một supernova chẳng hạn, rồi, với hằng số Hubble, người ta tính khoảng cách của supernova ấy. Với cách tính này, người ta nhận thấy các supernova Ia có độ sáng kém hơn dự liệu. Tức là chúng nằm ở xa hơn khoảng cách mà người ta chờ đợi. Nói cách khác, vũ trụ đã giãn nở với một tốc độ nhanh hơn. Sự gia tăng tốc độ giãn nở này đưa đến giả thuyết năng lượng tối.
Đăng bởi

Tại sao con người không nhớ tiền kiếp của mình?

Đây là câu hỏi đã được loài người đặt ra từ lâu khi vấn đề luân hồi được nêu ra.Tiền kiếp của mình là gì ?

Tại sao con người không nhớ tiền kiếp của mình?

Nếu luân hồi là có thật thì cho đến nay, nguyên nhân nào đã khiến cho con người nhớ lại hay quên đi cuộc đời trước đó của mình vẫn chưa hoàn toàn được giải thích và chứng minh rõ ràng. Tuy nhiên không phải đó là nguyên nhân để phủ nhận vấn đề luân hồi. Vấn đề luân hồi là một vấn đề sâu xa tế nhị. Từ ngàn xưa, con người đã tìm cách lý giải vấn đề này. Trong nhân gian, không hiếm những lời giải thích tại sao lại quên những gì về tiền kiếp. Nếu giả dụ rằng có sự tái sinh thì nhớ lại kiếp trước sẽ gây được biết bao điều phiền toái trở ngại. Một người sinh ra nếu nhớ lại tiền kiếp của họ, người ấy sẽ tìm đến những gì liên quan đến bản thân họ ở quá khứ hơn là hiện tại.

Thực tế trên thế gian đã có khá nhiều trường hợp xảy ra. Vì hiện tại họ mới chỉ sinh ra và rất mới lạ đối với những người mà họ nhận là cha, mẹ, anh em, bà con… Một thí dụ dể hiểu là khi một đứa bé ra đời và đến tuổi biết suy nghĩ, nếu đứa bé ấy nhớ lại tiền thân của mình là con của ông A, bà B thì dĩ nhiên khi lớn tình mẫu tử, phụ tử sẽ sống dậy nơi đứa bé và dĩ nhiên nó sẽ tìm đủ mọi cách để gặp lại cha mẹ cũ. Như vậy người mẹ hiện nay của đứa bé sẽ ra sao? Sẽ đau đớn khổ sở, buồn rầu biết chừng nào? Thí dụ ấy giống như tâm trạng của một cô gái ngày xưa về nhà chồng mà bao nhiêu kỷ niệm đẹp với người yêu dấu đều bỏ lại đằng sau trong khi người mà mình sẽ gọi là chồng thì lại là một người không quen biết do cha mẹ của tiền kiếp thì hình ảnh ấy sẽ lôi cuốn vô cùng không những vì tình cảm rằng buộc mà còn có thể là vì tò mò muốn biết sự thật về kiếp trước của mình ra sao.

Luật luân hồi quả báo quy định rõ ràng con người sẽ phải chuyển sinh qua nhiều kiếp và những gì họ phải trải qua như buồn đau khổ hận, tai nạn hoặc sung sướng hạnh phúc, giàu sang, đều do từ kết quả họ tạo ra từ kiếp trước. Hiện tượng luân hồi được xem như là một định luật. Tuy nhiên luật này dễ bị xáo trộn khi con người biết được rõ ràng mỗi kiếp của mình. Những bậc đại sư, những vị cao tăng cũng chưa hẳn biết rõ tiền kiếp của mình. Những bậc Thiền giả có huệ lực cao khi tập trung tư tưởng mới có thể nhớ lại kiếp trước và xem đó như là những biến cố đã xảy ra trong những dòng đời trước đó của mình. Chính Đức Phật Thích Ca khi đang trên đường tìm đạo, vẫn chưa biết được tiền kiếp của mình, mãi đến khi chứng ngộ đạo pháp mới thấy được các kiếp. Nhờ ngài đã đắc được Túc Mạng Minh và Thiên Nhãn Minh, nhờ đó mà ngài nhớ lại được hàng ngàn tiền kiếp chuyển hóa trong trí như một cuộn phim quay ngược dòng thời gian.

Như vậy, chỉ những bậc siêu phàm mới có khả năng nhớ lại tiền kiếp, còn loài người hầu như tất cả đều chìm đắm trong tăm tối mê mờ không thấy, không biết những gì đã xảy ra ở những tiền kiếp của mình. Chỉ họa huần mới có những trường hợp dị biết lạ lùng như có những đứa bé mới 4, 5 tuổi kể lại tiền kiếp mình hay có người có khả năng khơi dậy những hình ảnh của kiếp trước nơi người khác.
Trong dân gian Việt Nam ta thường nghe kể lại chuyện những người chết đi sống lại kể các chuyện thác vào Địa Ngục. Những linh hồn này trước khi đi qua chiếc cầu khủng khiếp để đến chốn Diêm phù, họ đều được quỉ sứ cho ăn cháo. Cháo này gọi là Cháo Lú. Công dụng chính của Cháo Lú là để linh hồn người chết quên hết những gì về quá khứ của đời mình để dễ dàng cho việc đầu thai sau này, vì nếu không thì những linh hồn ấy vẫn còn mang nặng những nhớ thương tiếc nuối về cảnh cũ, người xưa, tình ruột thịt, máu mủ giữa cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái khiến lúc tái sinh luân hồi, họ lại tìm đến những gì liên hệ với tiền kiếp. Điều đó làm khó khăn trở ngại cho sự trả quả trong lần đầu thai lại này và cả những lần chuyển sinh khác nữa.Câu chuyện truyền khẩu trong dân gian ấy nói lên phần nào sự quên đi tiền kiếp của mỗi người khi họ đầu thai. Tuy nhiên, như đã nói từ trên, từ cổ đại cho đến nay vẫn không hiếm những người có khả năng nhiều ít về sự nhớ lại những gì trong quá khứ. Trên thế gian có nhiều người có trí nhớ siêu đẳng và cao hơn nữa, có người có khả năng nhớ lại tiền kiếp như đã trình bày từ trước.

Tại sao con người không nhớ tiền kiếp của mình?

Từ lâu, các nhà nghiên cứu về hiện tượng tâm thần như Freud, Jerome Kegan, Emest Havemann. William C.L.C. Macleod, Kripke.D.F.,Simons R.N… đều cho biết rằng tiềm thức là cái thâm sâu vi diệu nhất thuộc về lãnh vực tinh thần ở con người. Họ cố gắng nghiên cứu tìm hiểu những vùng sâu thẳm của tiềm thức, vì kinh nghiệm cho thấy, qua giấc mơ nhiều người đã quay về thời kỳ ấu thơ của mình rất rõ ràng tự nhiên như đang xem qua một cuốn album dán ảnh của họ chụp vào những giai đoạn từ ấu thơ đến khôn lớn. Những hình ảnh ấy vô cùng linh hoạt và rất chi tiết cả từ hình ảnh, màu sắc, cử chỉ, môi trường, sự việc xảy ra. Như thế rõ ràng là ở trong bộ não đã có những vùng giữ lại ký ức của mọi việc đã xảy ra từ lúc con người sinh ra.
Theo nhà nghiên cứu nổi danh về vấn đề này là Hidtoring Tan thì trí nhớ được giữ lại trong những phân tử protein của tế bào não. Nếu có một năng lực nào làm khởi động các phân tử ấy thì các ký ức sẽ được phục hồi rõ nét. Từ lâu phương pháp thôi miên được áp dụng để làm khơi dậy những hình ảnh của quá khứ ấn nhập trong những vùng sâu thẳm của bộ não. Nếu khả năng của thuật thôi miên mạnh mẽ hơn nữa thì những hình ảnh của quá khứ xa xăm của một đời người sẽ hiện ra rõ rệt trong trí nhớ người đó và xa hơn nữa là tiền kiếp của người ấy. Nhiều thắc mắc về hình ảnh của tiền kiếp từ lâu đã được đưa ra. Người ta tự hỏi rằng tại sao trong bộ não một người lạ lại có tích chứa những hình ảnh của tiền kiếp trong khi người ấy sinh ra và lớn lên rồi già chết, bộ não ấy của một đời người lại ghi nhận những dữ kiện xảy ra từ những đời trước đó?

Cần nhắc rằng từ lâu, các nhà nghiên cứu về óc não đã quan tâm đến vấn đề là bộ não con người là một thế giới lạ lùng mà sinh vật học mới lần bước vào một vài đoạn đường của nó mà thôi. Ngày nay, các nhà khoa học nhận thấy rằng từ lúc con người ra sinh ra cho đến khi họ qua đời, dù người ấy sống đến 100 tuổi đi nữa thì họ cũng chỉ tiêu thụ có một phần mười năng lực của bộ não. Vậy còn chín phần kia vẫn chưa dùng tới là bởi nguyên nhân nào? Phải chăng những phần kia còn tích chứa trong ký ức, hình ảnh, sự kiện của nhiều đời nhiều kiếp khác nữa. Chỉ khi nào có được sự kích động, khêu gợi do nguyên động lực nào đo mà làm phát sinh như sự thôi miên chẳng hạn thì những ký ức ấy mới lột rõ. Đôi khi những hình ảnh, sự việc xảy ra trùng hợp với những hình ảnh trong quá khứ xa xăm của tiền kiếp cũng khích động được.
Điều này giải thích sâu xa hơn những trường hợp vì sao có người thấy cái bánh xe lại khiếp sợ vì trước đó hay từ tiền kiếp họ đã bị một tai nạn khủng khiếp có liên hệ tới bánh xe như bị tra tấn bằng bánh xe, bị bánh xe cán qua người. Nhiều người đôi khi khủng hoảng sợ trước một vài, thứ như sợi dây, nhánh cây, con mèo, hoặc có khi sợ nước, sợ màu đen, sợ tiếng còi… là những thứ xét ra không có gì phải đáng hoảng sợ. Nhưng theo khoa tâm lý học thì sự hoảng sợ ấy đều có nguyên nhân vì có thể trước đó những thứ ấy đã là nguyên nhân gây nên những sự việc hệ trọng, đôi khi nguy hiểm tạo đe dọa trong quá khứ và hình ảnh ấy ăn sâu trong tiềm thức cho đến khi được khơi dậy lại từ những sự vật, hiện tượng liên quan.
Theo ông Edgar Cayce (người có khả năng khơi dậy những hình ảnh trong tiền kiếp của người khác) thì mỗi người đều tích trữ trong bộ não mình những ký ức tiềm tàng từ tiền kiếp. Qua nhiều kiếp, mỗi người đã trải qua những giai đoạn phức tạp khác nhau và đôi khi những hình ảnh trong ký ức ấy được hiện ra trở lại qua nhiều tác nhân như giấc mộng khi đang ngủ hay những hình ảnh khi đang thức hay mạnh mẽ hơn và rõ ràng hơn khi được kích động qua giấc ngủ thôi miên.

Tiến sĩ Igo Xamolvich Lixevich (Liên Xô cũ), nhà nghiên cứu về triết học Đông phương đã ghi nhận rằng: “Không riêng gì ở các nước Đông Phương huyền bí mà ngay ở các nước Âu Châu và Mỹ Châu, đâu đâu cũng có những trường hợp lạ kỳ mà cho đến nay giới khoa học vẫn chưa giải thích được”.
Nhiều người, nhất là con trẻ, đã kể lại quãng đời về tiền kiếp của họ.
Các nhà khoa học hiện nay chỉ mới dựa vào các gen di truyền ở các nhiễm sắc thể trong tế bào và gọi từ trí nhớ gen hoặc giải thích qua hiện tượng tiềm thức là những gì mà ý thức con người không kiểm soát nổi hoặc qua những hình ảnh hay câu chuyện ngẫu nhiên nào đó để rồi tích tụ lại trong tiềm thức và khi gặp điều kiện hay bất chợt phát sinh vì tác động của một sự thúc đẩy nào đó về tâm lý. Riêng đối với các nhà nghiên cứu siêu linh thì có một lý luận cho rằng: cái gọi là hồn của một người chết nào đó đã nhập vào một người khác và nếu bị hồn khác xâm nhập lại yếu về năng lực tinh thần lẫn thể xác thì khi đó sẽ bị hồn mới nhập khống chế về điều trước tiên là kích động việc nhớ lại cuộc đời của người khác.

Thật sự cho đến nay, vấn đề vẫn chưa được sự giải thích rõ ràng.

Đăng bởi

Kỉ lục Guinness: Nồi cháo lớn nhất thế giới

Kỉ lục Guinness: Nồi cháo lớn nhất thế giới

Ước mơ ăn mãi mà không hết của cả một thế hệ trẻ em ngày xưa đã trở thành hiện thực. Ngày 8 tháng 7 vừa qua tại Scotland, người dân và chính quyền địa phương đã chung tay làm nên một nồi cháo khổng lồ như trong chuyện cổ tích. Nồi cháo này nặng 690 kg và đủ để nuôi 2 nghìn người ăn đến no nê. Nồi cháo dinh dưỡng này cũng đã được tổ chức kỉ lục Guinness công nhận là nồi cháo lớn nhất thế giới tính tới thời điểm này.

Kỉ lục Guinness: Nồi cháo lớn nhất thế giới

                                                   Kỉ lục Guinness: Nồi cháo Thạch Sanh Ăn Mãi Không Hết

                                                              Nồi cháo lớn nhất thế giới

Mọi cố gắng để hoàn thành làm nên Nồi cháo lớn nhất thế giới đã được thực hiện bởi một nhóm các thợ đầu bếp lành nghề thuộc công ty thực phẩm Poragr Oats kết hợp cùng với người dân địa phương. Chủ tịch tập đoàn thực phẩm Poragr Oats – Craig Manson đã tỏ ra vô cùng tự hào khi nhắc đến kỉ lục Guinness mà công ty ông cũng đóng góp một phần không nhỏ để thiết lập: “Chúng tôi đã đạt được mục tiêu đưa ra là phá vỡ kỉ lục Guinness trước đó và đưa cái tên Poragr Oats lên bản đồ của thế giới. Đó là một điều vô cùng tuyệt vời”.

Nồi cháo kỉ lục này đã phải nấu liên tiếp hơn 7 tiếng đồng hồ, và toàn bộ hương vị cháo cũng như cách nấu đều được mô phỏng theo cách nấu cháo truyền thống của người Scotland. Có một điều thú vị trong lúc nấu cháo là các quan chức địa phương đã phải huy động cả một đội lính cứu hỏa để… tiếp nước trong quá trình nấu cháo. Khi nồi cháo được hoàn thành, tất cả mọi người đều nếm thử nhưng số lượng cháo vẫn còn thừa khá lớn. Hầu hết số cháo thừa đó đều được mang đi làm thức ăn cho gia súc trong vùng.

Chính vì hành động này mà chính quyền Scotland đã bị Tổ Chức nông lương thế giới phản đối rất gắt gao. Họ cho rằng chỉ để thiết lập một kỉ lục Guinness thế giới ‘ngớ ngẩn’ mà chính quyền địa phương đã lãng phí rất nhiều lúa mạch. “Trong khi trên thế giới có hàng triệu người mỗi ngày chết đói vì không có cái ăn thì họ lại đổ hàng tấn lúa mạch cho gia súc. Tôi nghĩ rằng kỉ lục Guinness mà Scotland lập được nên được đổi tên thành: hành động lãng phí nhất thế giới mới đúng”  – người phát ngôn của Tổ chức nông lương Thế giới phản ánh với báo chí.

Kỉ lục Guinness thế giới về nồi cháo lớn nhất tại Scotland đã phá vỡ kỉ lục Guinness được thiết lập vào năm ngoái tại thành phố Machester, Anh Quốc. Nồi cháo năm ngoái nặng 171kg.

Đăng bởi

Bí ẩn những chiếc máy bay trở về sau hàng chục năm mất tích

Vụ việc chiếc máy bay Malaysia mang số hiệu MH370 mất tích một cách bí ẩn những ngày qua gợi nhắc về không chỉ một mà còn hàng loạt vụ mất tích máy bay cũng vô cùng bí ấn khác. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là, sau khi biến mất một cách khó hiểu, những chiếc máy bay này lại trở về hoàn toàn nguyên vẹn.

Sự trở về bí ẩn sau gần 50 năm
Vào một ngày trời quang mây tạnh của năm 1984, tại bãi cát miền Bắc Mexico bỗng xuất hiện 5 máy bay quân sự Mỹ. Thân máy bay vẫn sáng bóng, thùng nhiên liệu vẫn chứa đầy xăng, nhưng trong máy bay thì trống rỗng chẳng có một người.

Các chuyên gia Mỹ cho rằng, cả 5 máy bay đó đều mất tích từ hồi năm 1945 lại vùng biển tam giác Bermunda. Nhưng việc đó vẫn đang tranh luận, bởi có người nói rằng, phiên hiệu của máy bay đã mất tích nhiều năm lại xuất hiện trở lại là một sự thực không thể phủ nhận được.

Máy bay mất tích 45 năm vẫn như mới
Năm 1985, tại vùng đầm lầy trong khu rừng rậm New Zealand, người ta phát hiện thấy một máy bay chở khách hai động cơ đã mất tích trước đó gần nửa thế kỷ. Điều khiến những người tìm kiếm không hiểu nổi là chiếc máy bay đó trông còn mới y như trước khi bị mất tích, không hề cũ đi hoặc biến dạng. Số hiệu trên máy bay vẫn rõ ràng, dễ đọc.

Bí ẩn những chiếc máy bay trở về sau hàng chục năm mất tích

Chiếc máy bay lấp lánh ánh bạc này mất tích trước đó 45 năm trên đường bay từ Manila – Philippines đến đảo Mindanao. Các điều tra viên khi mới trông thấy chiếc máy bay đó, không ai dám tim ở mắt mình. Vỏ ngoài của nó trông vẫn mới, thân máy bay hoàn toàn không có một vết tỳ nào, những cánh cửa của nó vừa mở là được ngay, không hề có tiếng cót két hay răng rắc gì cả.

Vào trong khoang máy bay không thấy người nào dù là sống hay chết. Nhưng trong máy bay cốc giấy, mẩu thuốc lá và mấy tờ báo năm 1937 vẫn chưa ngả màu vàng, dường như mới đó vẫn đang có người ngồi trong máy bay. Trong một chiếc gạt tàn, có để một vỏ bao thuốc lá thơm, loại thuốc lá mác ấy lưu hành vào những năm 1930, nhưng vào thời Chiến tranh thế giới thứ II đã ngừng sản xuất. Còn những trang phục và kiểu đầu tóc trên tờ báo đều thuộc thời kỳ kinh tế khủng hoảng và suy thoái ở Mỹ. Trong phích nóng vẫn còn cafe nóng hổi, và mùi vị của nó vẫn thơm ngon, chưa hề bị biến mất.

Ngạc nhiên hơn, bình ắc quy của máy bay vẫn nạp đầy điện, chỉ vặn công tắc là đèn trong máy bay bật sáng. Thùng chứa nhiên liệu của máy bay hầu như vẫn đầy nguyên. Tất cả những điều đó khiến cho nhân viên điều ra sởn tóc gáy.

Chiếc máy bay đó trông như được hạ cánh khẩn cấp nhờ các bánh xe của nó, vừa may nó đỗ xuống được chỗ đất mềm trong vùng đầm lầy, nên hoàn toàn không bị hư hại gì, vẫn có thể bay trở lại như 50 năm trước đây. Các nhà khoa học vẫn tiếp tục điều tra về bí mật của việc máy bay đã mất tích từ lâu nay bỗng xuất hiện trở lại.

Máy bay quay trở về nguyên vẹn sau 35 năm mất tích
Ngày 9/9/1990, trạm kiểm soát sân bay Venezuela phát hiện một chiếc Douglas (nhãn hiệu thông dụng thập niên 1930-1940) đột nhiên bay qua.

Khi nhân viên sân bay kết nối với họ, phi công trên máy bay hét lên: ‘Ôi chúa ơi, chúng tôi là máy bay 914 Pan American Airways từ Newyork đến Florida. Chúng tôi phải bay thế nào?’.

máy bay trở về

Xác minh nhật ký chuyến bay từ Mỹ, mọi người đều hoảng hốt vì tất cả phi hành đoàn cùng 50 hành khách được cho là đã chết trong chuyến bay số hiệu 914 ngày 2/6/1955.

Khi cảnh sát và các nhà khoa học Mỹ điều tra thẻ căn cước và cơ thể hành khách chuyến bay kỳ lạ, mọi chi tiết đều khớp 100%.

Mất tích 17 năm bỗng xuất hiện gần sân bay
Sự việc tương tự từng xảy ra vào thập niên 60. Theo ghi chép, ngày 04/04/1946, một máy bay của Mỹ bất ngờ bị mất tích. Không quân Mỹ đã huy động lực lượng tìm kiếm suốt 500km vùng trời nơi nó mất tích, nhưng không kết quả gì.

Bất ngờ, vào năm 1962 chiếc máy bay đó lại xuất hiện tại nơi cách sân bay mấy trăm mét. Thiết bị vô tuyến điện trên máy bay vẫn nguyên vẹn. Căn cứ theo phân tích máy móc thiết bị, dường như nó mới đõ xuống ngay chiều hôm đó, không ai nghĩ chiếc máy bay đã mất tích 17 năm.

Hộp đen xuất hiện sau 2 năm tìm kiếm
Chiếc Airbus A330 đã rơi xuống Đại Tây Dương vào ngày 1/6/2009 khi đang trên đường bay từ Rio de Janeiro (Brazil) sang Paris (Pháp). Toàn bộ 228 người trên chuyến bay đã thiệt mạng.

Tất cả các lực lượng đã được huy động để tìm kiếm chiếc máy bay gặp nạn nhưng vô vọng. Phải đến 2 năm sau, khi hộp đen của chiếc máy bay này được tìm thấy dưới lòng đại dương thì sự thật mới được hé lộ.

Nguyên nhân vụ tai nạn lúc đầu được cho là do yếu tố thời tiết. Các điều tra viên cho rằng máy bay gặp bão, sau đó lại đổ lỗi cho băng tuyết đã khiến bộ phận dò tốc độ của máy bay bị lỗi.

Tuy nhiên, dữ liệu từ hộp đen tìm được đã cho thấy, để xảy ra tai nạn có một phần lỗi của phi hành đoàn, cách xử lý sau khi chế độ tự bay bị ngắt của phi hành đoàn đã khiến chiếc máy bay chết máy và để lại hậu quả đáng tiếc là 228 người thiệt mạng.

Gần đây nhất, vụ tai nạn của MH17 lại khiến dư luận bùng lên những ý kiến trái chiều liên quan tới sự cố mất tích máy bay MH370 xảy ra ngày 8/3/2014. Máy bay MH370 chở theo 239 người được cho là đã đâm xuống Ấn Độ Dương khi đang trên đường từ Kuala Lumpur tới Bắc Kinh

Mới đây, có giả thuyết cho rằng MH17 chính là MH370, song sự thật về chiếc MH370 của Malaysia cho đến nay vẫn còn là ẩn số.