Đăng bởi

Nghệ thuật giao tiếp trong kinh điển Phật giáo

Chính phải đàm đạo mới biết được trí tuệ của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được1. Sự khẳng định của câu kinh vừa nêu đã đồng thời cho thấy, quá trình trao đổi thông tin giữa người với người mà thuật ngữ chuyên ngành hôm nay gọi là nghệ thuật giao tiếp, đã được ghi nhận và lưu tâm từ thời Đức Phật. Với Phật giáo, việc giao tiếp giữa các cá nhân nhằm truyền đạt thông tin là điều rất mực quan trọng, nhất là những thông tin liên quan đến lộ trình khai phóng tâm linh và đoạn tận đau khổ.



Tầm quan trọng của nghệ thuật giao tiếp trong Phật giáo

Chân lý đã được Đức Phật thân chứng. Quá trình làm cho mọi người cùng nhận ra chân lý là khúc khải tấu nhiệm mầu của nghệ thuật giao tiếp, được Đức Phật và những đệ tử của Ngài thực hiện. Vì lẽ, giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin giữa người với người nội hàm các yếu tố như người phát tin, người nhận tin, kênh truyền và bối cảnh… Ở đây, người phát tin có thể là Đức Phật, có thể là các Thánh Tăng thời Phật, có thể là nhà truyền giáo, có thể là vị giảng sư… cụ thể hơn, là những ai đang nỗ lực trong hoạt động hoằng pháp đều được xem là người truyền phát thông tin theo sự phân chia của ngành khoa học giao tiếp. Trong hoạt động hoằng pháp, đối tượng thính pháp chính là người nhận tin. Và lẽ dĩ nhiên, buổi thuyết giảng sẽ được diễn ra trong một không gian địa lý cụ thể nào đó (bối cảnh), với phương thức mặt đối mặt hoặc thông qua những phương tiện truyền thông khác như thuyết giảng từ xa hay qua băng đĩa, video (kênh truyền). Tựu trung, thuyết giảng giáo lý nói riêng hay hoằng pháp nói chung, thực chất là một quá trình giao tiếp theo nghĩa tích cực và thánh thiện.
Kể từ khi xuất hiện, Đức Phật thực sự là người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối2. Gần năm mươi năm đi khắp lưu vực sông Hằng, hơn ai hết, Đức Phật đã gặp gỡ và tiếp xúc với nhiều hạng người, đủ mọi giai tầng và phẩm loại. Trong tất cả mọi cuộc gặp gỡ và giao tiếp, Ngài đã “Với từ tâm, vì lợi tha và do lòng từ, Thế Tôn thuyết pháp”3 nhằm đem đến an lạc và giải thoát cho từng người. Đối tượng thì đa dạng, phức tạp và sai biệt, vì thế phương thức giao tiếp của Đức Phật cũng nhuần nhuyễn, uyển chuyển và tùy duyên. Sự thành công trong lãnh vực hoằng hóa của Đức Phật, đã đồng thời cho thấy Ngài là một bậc thầy vĩ đại trong nghệ thuật giao tiếp theo nghĩa hôm nay.
Đi theo con đường của Như Lai thì phải theo hạnh Như Lai. Thao thức đem giáo pháp vào đời là tâm nguyện của bất cứ ai dấn thân theo con đường mà Đức Phật đã khai mở. Phải dũng mãnh phát nguyện như Tỳ kheo Abhibhukhi đứng ở cõi trời Phạm Thiên: Hãy đứng dậy, lên đường/ Hãy dấn thân Phật giáo/ Hãy đánh bại ma quân/ Như voi phá chòi lá4. Muốn thực hiện tâm nguyện đó, phải đủ sức và đủ duyên, mà điều kiện cần ở đây là phải tương đối thành công trong nghệ thuật giao tiếp. Cần phải thấy rằng, nếu kham nhẫn là một đức tính đặc thù của nhà truyền giáo thì ở đây, nhuần nhuyễn trong nghệ thuật giao tiếp là một tố chất cần thiết, liên quan đến sự thành công của bất cứ một nhà hoằng pháp dù ở thời đại nào.
Trong lãnh vực sinh hoạt cộng đồng nói chung, lời nói là một trong những phương thức truyền đạt thông tin và tạo nên các mối liên hệ giữa con người với con người. Không có lời nói, không thể hình thành xã hội con người đúng nghĩa. Từ lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, một lời nói có thể hưng, vong cả một quốc gia, một triều đại hoặc liên quan đến sự thành, bại của một con người. Vì lẽ, lời nói là một trong ba trọng nghiệp căn bản trong dòng chảy sinh mạng của con người. Trọng nghiệp này thường được Đức Phật lặp lại nhiều lần trong kinh điển: Phàm con người đã sanh/ Sanh với búa trong miệng/ Kẻ ngu khi nói bậy/ Tự chặt đứt lấy thân5. Phải ý thức rằng, tu tập là một quá trình chuyển hóa nghiệp lực. Quán sát và làm chủ được hành vi giao tiếp thì ở một chừng mực nào đó nói lên sự tiến bộ, thăng hoa trên con đường tu tập của mỗi người.
Trong Phật giáo, kết quả của mọi nỗ lực tu tập nhằm đem đến an lạc, giải thoát cho mình và cho người. Thuần thục trong nghệ thuật giao tiếp là con đường tiệm cận dẫn đến lý tưởng vừa nêu. Đó cũng là điều để lý giải tại sao dù bất cứ ở đâu, nghệ thuật giao tiếp luôn được quan tâm và chú trọng.
Các thủ pháp trong phương thức giao tiếp
Để thành công trong giao tiếp thì phải có phương pháp. Phương pháp giao tiếp đã được Đức Phật nêu rõ trong nhiều kinh điển. Với những khái quát bước đầu cho thấy, trong kinh Sa Môn Quả6, kinh Ví Dụ Cái Cưa, Tiểu Kinh Dụ Dấu Chân Voi7 và kinh Lời Nói8 đều đề cập và thống nhất về năm phương thức giao tiếp căn bản của con người nói chung và của một vị Tỳ kheo nói riêng. Năm phương thức giao tiếp đó là: Nói đúng thời, nói lời liên hệ đến lợi ích, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói với lời từ tâm.
1. Nói đúng thời
Thời ở đây cần được hiểu là thời gian, không gian và cả tâm sinh lý của đối tượng vào thời điểm ấy. Thời gian và không gian là những yếu tố quan trọng trong lãnh vực giao tiếp. Có những lời nói thể hiện ở thời gian, không gian này thì phù hợp nhưng sẽ mất tác dụng và đôi khi gây ra những sự nguy hại nếu như xuất hiện ở lúc khác, trong bối cảnh khác. Theo ngành khoa học giao tiếp ngày nay, thời gian và địa điểm là những yếu tố có tác động rất lớn đến sự thành công của giao tiếp.
Đức Phật luôn nói đúng thời điểm. Thời điểm ở đây được hiểu là thời điểm của đối tượng cùng những thuộc tính và biến chuyển tâm lý. Cùng một chân lý, nhưng căn cứ vào nghiệp lực của từng đối tượng, trong bối cảnh không gian và ở những thời điểm phù hợp, mà Đức Phật có những cách triển khai chân lý khác nhau. Thủ pháp nói đúng thời điểm đã được Đức Phật vận dụng nhuần nhuyễn… Nơi đây, ta có thể đơn cử vài trường hợp mà Đức Phật đã tùy tâm trạng, thời điểm của mỗi người để có những bài thuyết giảng sinh động khác nhau như việc hóa độ nàng Kisa Gotami9, kẻ điên cuồng Angulimala10, Sa di La Hầu La11 và rất nhiều trường hợp khác. Xem ra, khi lựa chọn thời điểm phù hợp, trong một không gian phù hợp, sẽ tạo nên những điều kiện tối ưu cho việc chuyển tải thông điệp từ người nói đến với người nghe. Yếu tố này rất mực quan trọng trong mọi mối quan hệ giao tiếp nói chung giữa người với người.
2. Nói lời liên hệ đến lợi ích
Lợi ích ở đây chính là lợi ích cho người nghe, liên hệ đến người nghe, vì người nghe mà nói. Như Lai là một vị nói lời liên hệ lợi ích cho chúng sanh12. Theo kinh Thanh Tịnh,dù ở quá khứ, hiện tại hay vị lai, những pháp nào liên hệ sự chân thực và lợi ích, Như Lai sẽ trả lời. Như vậy, này Cunda, đối với các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại, Như Lai là vị nói phải thời, nói chơn chánh, nói như thật, nói có lợi ích, nói đúng Pháp, nói đúng Luật. Do vậy mới gọi là Như Lai13. Có thể xem tôn chỉ vì lợi ích người nghe mà nói là một dấu hiệu đặc thù trong nguyên tắc giao tiếp của Phật giáo.
Ở đây, trong giao tiếp thường tình, đôi khi người ta muốn nói cho sướng miệng, nói cho vơi đi sự bực bội trong lòng, nói với sự huênh hoang khoác lác, nói nhằm thỏa mãn tự ngã cá nhân… mà không chú ý đến thái độ của người nghe và những người không muốn nghe. Điều này ta có thể bắt gặp trong giao tế đời thường, trong những cuộc vui gặp mặt, trong những buổi diễn thuyết và thậm chí ngay cả trong những giảng đường, lớp học. Cần phải thấy rằng, một khi nội dung buổi nói chuyện không liên hệ đến lợi ích của thính chúng thì sẽ tạo nên một sự uể oải, rã rời cho cả người nói lẫn người nghe. Xét trên phương diện hiệu quả, đó là những kiểu nói không liên hệ đến lợi ích của người nghe.
3 Nói đúng sự thật
Giao tiếp nhằm truyền đạt thông tin cho người. Với Phật giáo, tính xác thực của thông tin là điều bắt buộc trong nguyên tắc giao tiếp. Các bậc Thế Tôn không bao giờ nói lời hư vọng14. Đó là sự khẳng định rõ ràng nguyên tắc nói đúng sự thật trong giao tiếp. Hơn thế nữa, Thế Tôn nói gì thì làm vậy, làm gì thời nói vậy, một vị nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy, thành tựu các pháp và tùy pháp như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn15.
Thông thường trong giao tiếp, vì nhiều lý do khác nhau như vì sợ hãi, vì nguy hiểm, vì danh dự, vì lợi dưỡng, vì tế nhị, vì đùa chơi… nên đôi khi người ta không nói đúng sự thật, và đây là một trong những thói quen xấu của con người nói chung. Trong một vài trường hợp đặc biệt, việc nói dối không nhằm vào bất cứ mục đích gì, vì thói quen nói dối chỉ là dư tàn từ tập khí xa xưa. Để ngăn ngừa tập khí không tốt đó, Đức Phật đã mạnh dạn tuyên bố: Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi16. Học theo hạnh Thế Tôn, ở đây, hạng người nói đúng sự thật thì sẽ không vì mình hay vì người, hay vì một vài lợi vật nhỏ mà đã cố ý nói láo. Người như vậy, này các Tỳ kheo, được gọi là người nói như hoa17.
Trên phương diện thâm sâu, đôi khi nhằm bảo vệ tự ngã và sở dục của mình mà con người đã không nói đúng sự thật khi giao tiếp và đây là cửa ngõ tạo ra những đau khổ cho mình và cho người. Chính vì điều này, Đức Phật đã cẩn trọng khuyến hóa: Dầu cho vì quả đất đầy những vàng… Dầu cho vì mọi lợi ích vật chất… Dầu cho vì mạng sống… Dầu cho vì người mỹ nhân địa phương, vị ấy cũng không cố ý nói láo18.
Đạo Phật là đạo như thật và tôn trọng sự thật, vì sự thật chính là chân lý. Nói đúng sự thật là sự khởi đầu để bước đến chân lý. Trên phương diện đời sống nhân sinh, việc nói đúng sự thật góp phần tạo nên một sự tin tưởng lẫn nhau ở tất cả mọi người. Và khi con người sống trong sự tin tưởng lẫn nhau, thì đó là dấu hiệu của một đời sống hạnh phúc thực sự.
Trên phương diện xuất thế, với những bậc có tâm hành vĩ đại, việc tôn trọng sự thật trong phương thức giao tiếp đã được tuân thủ một cách tuyệt đối, cho dù nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng: Dầu ai là kẻ thù của ta. Ðối với họ, ta không có gian trá19. Trên lộ trình của một người học Phật, trong giao tiếp cần phải thực hiện theo phương châm: Thấy nói thấy, nghe nói nghe, cảm giác nói cảm giác, thức tri nói thức tri20. Đây là nguyên tắc nói đúng sự thật cần phải tuân thủ khi giao tiếp với người.
4. Nói lời nhu hòa
Cùng biểu đạt một sự kiện, con người có thể vận dụng nhiều cách thức truyền đạt khác nhau. Có những cách nói dễ dàng đi vào lòng người nhưng đồng thời cũng có những cách nói làm cho người nghe bực bội, khó chịu. Một người khéo léo trong giao tiếp theo quy chuẩn Phật giáo thì trong ngôn hành, vị ấy nói những lời nhẹ nhàng, thuận tại, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người21.Trong bốn phương pháp nhiếp hóa, thu phục lòng người thì lời nói nhẹ nhàng, dễ nghe, nhu nhuyến, mà kinh văn gọi là ái ngữ22 đóng một vai trò quan trọng. Cần phải thấy rằng, bản chất của con người muốn nghe những điều thích ý, nhẹ nhàng. Ngay như các con vật nuôi trong nhà, ở một chừng mực nào đó cũng cảm nhận được những lời nói nhẹ nhàng, dễ nghe. Khi nói lời dễ nghe, nội dung thông tin được chuyển đến người nghe gần như trọn vẹn.
Trong liên hệ đời sống, với những va chạm từ nhiều phía, mà vẫn giữ được phong vị từ hòa trong ngôn ngữ, là dấu hiệu chứng tỏ cho một sự vững chãi, trưởng thành của một con người. Điều này, không phải ai cũng thực hiện được, thậm chí ngay cả người xuất gia. Cho nên kinh văn đã khẳng định: Khi nào Tỳ kheo bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm mà vị ấy vẫn hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa, khi ấy vị ấy mới được xem là hiền lành, mới được xem là nhu thuận, mới được xem là ôn hòa23. Sự khẳng định đó một lần nữa cho thấy rằng, cần phải giám sát ngôn hành thật kỹ lưỡng trong mọi liên hệ va chạm với thực tế đời sống, mới có thể thực hiện được trọn vẹn hạnh nói lời nhu hòa.
Cũng cần phải nói thêm rằng, nói lời nhu hòa, dễ nghe không hẳn biểu hiện cho tính yếu đuối, thiếu khẳng định. Khẳng định hay phủ định, nghe hoặc không nghe không liên quan nhiều đến tính chất nhẹ nhàng, ôn hòa trong lời nói. Mặc dù vậy, trong những trường hợp cần thiết, với những đối tượng cần thiết, việc nhấn mạnh ngữ điệu trong ngôn ngữ trình bày, như chuyện chàng thanh niên Ambattha, cũng được Đức Phật cân nhắc vận dụng24.
5. Nói với từ tâm
Ta sẽ thuyết vì lòng từ mẫn25,đó là sự khẳng định rõ ràng và dứt khoát về mục tiêu thuyết pháp nói riêng và giao tiếp của Phật giáo nói chung. Vì lẽ, nền tảng của đạo Phật được xây dựng trên hai cột trụ lớn, đó là đại trí và đại bi. Tất cả mọi pháp hành của Phật giáo về cơ bản đều quy hướng về hai cột trụ này. Ở đây, đại bi là tình thương yêu không hạn lượng và giao tiếp với tâm từ mẫn là sự biểu hiện sinh động cho lòng đại bi.
Trên phương diện tự thân, lời nói có một sức mạnh nội tại, gắn kết với tâm lực và toan tính của người nói. Lời tuyên bố hùng hồn của nhà luận chiến Niganthaputta Saccaka được ghi lại trong kinhTrung Bộ không hẳn là lời khoác lác, nói đùa: Khi đối thoại với ta, không ai là không run sợ, không hoảng sợ, không khiếp sợ, không ai là không toát mồ hôi nách. Dầu ta có đối thoại với một cột trụ vô tình, cột trụ ấy khi đối thoại với ta cũng run sợ, cũng hoảng sợ, cũng khiếp sợ, huống nữa là một người thường26. Tuy nhiên, khi diện kiến Đức Phật, với ngôn ngữ từ hòa và cách thức trình bày khéo léo, Đức Phật đã thuận thứ thuyết giảng, khiến cho Niganthaputta Saccakaquy phục và dâng lời sám hối: Tôn giả Gotama, rất có thể còn có sự an toàn cho một người chiến đấu với con rắn độc dữ tợn, nhưng không thể có sự an toàn cho một người chiến đấu với Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, chúng tôi thật lỗ mãng, chúng tôi thật là khinh suất27.Câu chuyện vừa nêu phần nào cho thấy lời nói với từ tâm có sức mạnh chuyển hóa vô bờ.
Sống trong đời thì phải giao tiếp với đủ hạng người. Khi giao tiếp, để giữ được tâm từ mẫn, lời nói chan chứa thương yêu là điều không phải dễ dàng thực hiện. Nói rõ hơn, khi gặp phải những chướng duyên, thử thách, dù đó là những thử thách liên quan đến sự chịu đựng tột cùng thể xác, người đệ tử Phật không để sân tâm khởi lên, thể hiện qua ác ngữ. Hình ảnh một người dù bị kẻ đạo tặc dùng cưa cưa tay, chân nhưng vẫn không thốt lên một lời ác ngữ và vẫn giữ được nội tâm bình ổn, từ hòa là điều được Đức Phật tán thán trong kinh28. Có thể đó chỉ là ẩn dụ lý tưởng, về sự kham nhẫn và giám sát ngôn hành của bậc Thánh, nhưng qua đó có thể thấy được, nói với từ tâm là thủ pháp giao tiếp cần được vận dụng, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Tính khả dụng của ngôn từ trong giao tiếp
Việc sử dụng nhuần nhuyễn các tính chất, mức độ, cường độ, âm vực… của lời nói có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình giao tiếp. Chẳng hạn, mặc dù nói lời ái ngữ, nói đúng thời điểm, nói đúng sự thật… nhưng chất giọng thì rền rĩ, bập bẹ, ngọng nghịu khó nghe… cũng ảnh hướng khá nhiều đến hiệu quả giao tiếp. Căn cứ vào kinh Sa Môn Quả29, kinhBrahmayu30, kinh Xà-ni-sa31, kinhVừa Đủ32thì ngôn từ lý tưởng được sử dụng trong giao tiếp, phải hội đủ nhiều tính chất tốt đẹp mà kinh điển thường dùng mỹ từ Phạm âm, tức là tiếng nói của Phạm Thiên, để biểu thị cho các tính chất đó. Theo kinh văn, Phạm âm bao gồm tám yếu tố33. Tiếng nói của Đức Thế Tôn cũng bao hàm đầy đủ tám yếu tố này34. Ở đây, chúng tôi chỉ giới thiệu khái quát về hai yếu cố cơ bản, tổng hợp từ các kinh vừa nêu: 1. Nói rõ ràng, dễ hiểu, tao nhã và phân minh; 2. Nói lưu loát, mạch lạc và có hệ thống.
1 Nói rõ ràng, dễ hiểu, tao nhã và phân minh
Giọng nói rõ ràng, dễ hiểu, tao nhã và phân minh là những lợi thế của người truyền đạt thông tin khi giao tiếp. Theo kinh văn, giọng nói dễ nghe, phát âm tốt, lời nói tao nhã, phân minh, phát ngôn không bập bẹ35, là những điều kiện cơ bản thuận lợi cho việc giao tiếp. Khi nói rõ ràng, thì người nghe dễ dàng thấu đạt nội dung và không bị nhầm lẫn. Ở đây, yếu tố chất giọng, phương ngữ, cách thức ngắt câu, mức độ nhả chữ… là những lưu ý quan trọng. Vì lẽ, khi giọng nói trong trẻo, thanh tao, người nghe sẽ thích thú đón nhận và đó là một lợi thế trong việc giao tiếp. Kinh văn thường dùng ẩn dụ giọng nói dịu ngọt như tiếng chim Karavika (Ca-lăng-tần-già)36 thì luôn được người nghe hân hoan đón nhận.
Bên cạnh đó, thính chúng ở mỗi khu vực thường sử dụng một phương ngữ nhất định trong giao tiếp. Kinh văn thường mô tả là mỗi cảnh giới, mỗi quốc độ có những ngôn ngữ khác nhau. Vận dụng nhuần nhuyễn phương ngữ khi giao tiếp cũng là một yếu tố đem đến sự thành công. Nôm na hơn, có thể hiểu, tùy theo mỗi vùng miền, quốc gia, trú xứ… để giao tiếp thuận lợi, cần phải am tường ngôn ngữ của khu vực đó. Ở đây, trong nhiều quốc độ, người ta biết những chữ Pati… Patta… Vittha… Sarava… Dharopa… Pona… Pisila… Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy, những chữ là như vậy, như vậy, một người không chấp thủ mà giải thích: “Các vị ấy y cứ như thế này, giải thích như vậy”. Như vậy, này các Tỳ kheo, là không chấp trước địa phương ngữ, không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng37.Nói một cách cụ thể, thông hiểu nhiều ngôn ngữ là yếu tố thành công trong nghệ thuật giao tiếp.
Một điều cần lưu ý, để việc truyền đạt thông tin rõ ràng, dễ hiểu thì cách thức ngắt câu, mức độ nhả chữ… nói theo ngành khoa học giao tiếp ngày nay thì yếu tố âm thanh và cường độ giọng nói, là những lưu ý quan trọng. Kinh văn thường nêu rõ, khi giao tiếp thì nên nói chậm rãi, nhả chữ chắc chắn, không được nói hấp tấp, vội vàng. Vì, nếu nói vội vàng, thời thân mệt mỏi, tâm bị tổn hại, tiếng bị tổn hại và cổ họng bị đau. Lời nói một người vội vàng không được rõ ràng và không được nhận hiểu38. Đây là một lưu ý quan trọng, không những liên quan đến việc bảo hộ sức khỏe dựa trên cơ sở y khoa, mà còn liên quan đến tư chất cũng như sự định tĩnh của một con người.
2 Nói lưu loát, mạch lạc và có hệ thống
Giao tiếp phải lưu loát, mạch lạc và có hệ thống. Các yếu tố này góp phần làm tăng tính hấp dẫn của câu chuyện, tạo sự tập trung lắng nghe và hướng thính chúng vào trọng tâm của vấn đề mình muốn trình bày. Có mạch lạc hệ thống39, là nguyên tắc giao tiếp lý tưởng của một vị Tỳ kheo theo Kinh Sa Môn Quả. Cùng một vấn đề, nhưng được trình bày lưu loát thì sẽ đem đến một hiệu ứng và kết quả tối ưu cho người nghe. Cụ thể hơn, tính logic nội tại tạo nên sự mạch lạc, lưu loát của vấn đề được trình bày. Muốn nói lưu loát, mạch lạc, có hệ thống thì phải hội tụ nhiều điều kiện và vận dụng nhuần nhuyễn nhiều phương pháp. Trong những pháp thức căn bản, thì khả năng ghi nhớ và khả năng lý luận là những pháp thức nền tảng.
Cần phải thấy, muốn trình bày lưu loát thì phải nắm vững vấn đề mình muốn trình bày. Nói cách khác, phải có tri thức ghi nhớ. Trong điều kiện của xã hội thời xưa, khả năng ghi nhớ, nắm giữ, là tài sản thiêng liêng, cao cả. Kinh gọi đó là văn tài. Theo kinh văn, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe,… đã ghi nhớ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến. Này các Tỳ kheo, đây gọi là văn tài40.
Trong điều kiện phương tiện lưu giữ tri thức còn thô sơ như xã hội thời xưa, yếu tố lắng nghe chăm chú và lãnh hội tri thức luôn được quan tâm, chú trọng. Nghe và tác ý ghi nhớ là điều kiện tối cần để có tri thức, đó là điều được khẳng định nhiều lần trong kinh điển. Cũng chính bởi điều này mà kinh Tăng Chi phân biệt có ba hạng trí tuệ trên đời: trí tuệ lộn ngược, trí tuệ bắp vế và trí tuệ rộng lớn41. Ở đây, hạng người nghe mà không chú ý, như cái ghè lộn ngược thì chẳng chứa đựng được gì; hạng thứ hai tuy có chú ý lắng nghe, nhưng khi đứng dậy là quên mất, như bỏ đồ trên bắp vế, khi đứng dậy thì đồ vật rơi tứ tung và hạng cuối cùng, nghe và lãnh hội đầy đủ được gọi là hạng trí tuệ rộng lớn. Do vậy, khao khát lắng nghe để có tri thức với con người thời xưa trở thành một khao khát cháy bỏng. Lời sẻ chia của một cư sĩ được ghi lại trong kinh đủ chứng minh được điều này: Bạch Thế Tôn, con cảm thấy không bao giờ vừa đủ được nghe diệu pháp, con chết con vẫn còn ân hận luyến tiếc42.
Từ việc nghe nhiều, thuộc lòng, nắm vững tri thức… dẫn đến việc nói năng lưu loát, mạch lạc là điều không xa. Cũng bởi lý do này, nên Tôn giả Ananda, được xem là người đa văn đệ nhất. Ananda là bậc đa văn, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe… những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lặp lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát. Vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng, với văn cú viên dung lưu loát43. Trên một tầm mức khác, với một tôn giáo tôn trọng trí tuệ và xem trí tuệ là hàng đầu như Phật giáo, thì việc không nghe, không hỏi là chướng ngại cho trí tuệ44.Khẳng định đó cho thấy việc lắng nghe và cật vấn cũng là những yếu tố rất mực quan trọng cho trí tuệ nói chung và vấn đề giao tiếp nói riêng.
Về phương diện lý luận, cật vấn, theo kinh Phúng Tụng, thuộc kinh Trường bộ, tập 2, và kinh Tăng chi, chương Bốn Pháp, phẩm Bánh Xe, kinh Các câu hỏi, thì có bốn pháp thức trả lời câu hỏi: Trả lời câu hỏi một cách dứt khoát, trả lời câu hỏi bằng cách phân tích, trả lời câu hỏi bằng cách cật vấn, trả lời câu hỏi bằng cách giả lơ, bỏ qua45. Theo sự phân định của kinh văn, tùy tình hình và tùy đối tượng cụ thể để có thể lựa chọn một cách thức trả lời thích hợp. Suy luận thấu đáo về cách thức trả lời của từng vấn đề, nói rõ hơn là nắm vững phương thức lý luận, là một trong những tiền đề tạo nên tính mạch lạc và hệ thống.
Yếu tố phi ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp
Theo ngành khoa học giao tiếp, yếu tố phi ngôn ngữ có một vai trò quan trọng trong giao tiếp. Vì lẽ khi giao tiếp thì khoảng lặng, nét mặt, nụ cười, ánh mắt, điệu bộ cử chỉ… có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời nói, điệu bộ tạo nên tính hấp dẫn của vấn đề và dễ dàng đưa người nghe tiếp cận chân lý.
Với Đức Phật, không phải ai hỏi gì Ngài cũng trả lời. Đôi khi, sự im lặng của Ngài đã là một bài pháp vô ngôn, có khả năng đưa người thấu đạt chân lý. Với người thường tình, im lặng chưa phải là giải pháp tối ưu trong tương quan giao tiếp. Với Đức Phật, sự vận dụng yếu tố phi ngôn ngữ này được phát hiện rải rác trong kinh. Kinh Brahmayu46 đề cập rất mực chi tiết oai nghi của Đức Thế Tôn trong cuộc sống hàng ngày, từ việc nhỏ nhất như ăn cơm, rửa bát, đến việc thuyết pháp cho thính chúng sau khi thọ trai xong. Từ kinh văn có thể thấy rõ, mỗi việc của Đức Phật đều là những bài pháp không lời có khả năng thức tỉnh những ai có duyên thân cận. Khảo sát các tác phẩm về Đồ tượng học trong Đại Tạng kinh Bắc truyền, ngay như hình tượng các thủ ấn (mudra) của Đức Phật, đã là yếu tố phi ngôn ngữ, nhưng có sự tác động rất lớn vào tâm thức nhiều người.
Một trong những yếu tố phi ngôn ngữ đầu tiên trong giao tiếp là ánh mắt. Ánh mắt của một người đôi khi có thể bộc lộ rõ ràng tâm trạng người đó. Ở một số giống loài không có ngôn ngữ, giao tiếp bằng ánh mắt được xem là một trong những kênh thông tin. Với loài người, trong khi giao tiếp, ánh mắt chuyển tải nhiều thông tin quan trọng về người nói cũng như về nội dung trình bày. Từ thực tế có thể thấy, có những ánh mắt tràn ngập thương yêu nhưng cũng có những ánh mắt tạo nên một sự khó chịu, bực bội, phản cảm cho người nghe. Bài học về cách nhìn từ Đức Phật luôn có ý nghĩa vượt thời gian:Không ngó liếc, ngó xiên/ Và cũng không ngó trộm/ Nhưng với tâm chánh trực/ Rộng mở và cao thượng/ Ngài nhìn khắp đại chúng47.Với đại chúng đông đảo thì nhìn khắp, nhưng với giao tiếp đơn lẻ thì cần phải nhìn thẳng vào họ, như câu chuyện nhìn thẳng vào mắt chàng thanh niên Bà-la-mônKapathika48.
Với Đức Thế Tôn, trong khi thuyết giảng ở những pháp hội đông người, do đồ chúng đã thuần thục, tịnh tín, thế nên Ngài không vận dụng quá nhiều thân hành mà ở đây tạm hiểu là cử chỉ, điệu bộ trong khi thuyết giảng. Trong những nỗ lực khảo sát kinh tạng hiện có, chúng tôi vẫn chưa phát hiện Thế Tôn bộc lộ những điệu bộ hay cử chỉ khi thuyết giảng. Thoảng rất ít, ngài chỉ giơ tay chỉ vào một ai đó hoặc dùng tay minh họa một điều gì trong những bài thuyết giảng, nhằm vào một đối tượng cụ thể, trong một không gian cụ thể49. Theo quan kiến của riêng chúng tôi, trong một chừng mực nào đó, phải chăng khi thuyết giảng đòi hỏi phải có một sự trang nghiêm về thân hành? Hoặc cũng có thể, phải chăng do nghiệp cảm của hội chúng thời Phật nhẹ nhàng nên Đức Thế Tôn không cần vận dụng quá nhiều thân hành nhằm minh họa cho buổi thuyết giảng? Phải chăng, chính yếu tố thân hành, cử chỉ, điệu bộ tạo nên sự khác biệt, giữa một buổi thuyết giảng giáo pháp của Đức Phật và một buổi diễn thuyết về các vấn đề thời sự trong nhân gian?
Trong khi đó, ngành khoa học giao tiếp thời nay vẫn xem yếu tố cử chỉ, điệu bộ có một ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình giao tiếp. Vì thực tế chứng tỏ rằng, khi nói năng, điệu bộ và cử chỉ có tính bổ trợ cho vấn đề trình bày. Thử tưởng tượng, khi nói mà tay, thân xuội lơ, tất sẽ tạo nên một cảm giác thiếu phấn chấn cho cả người nói và người nghe. Các vị diễn giả thời nay hầu hết đều vận dụng nhuần nhuyễn yếu tố này trong những buổi diễn thuyết. Ngay như trong truyền thống sinh hoạt của các tu sĩ Phật giáo Tây Tạng, ngôn ngữ cử chỉ và điệu bộ cũng được tích cực vận dụng trong những cuộc tranh biện Phật pháp. Thậm chí, như Đức Đạt lai Lạt ma thứ 14 hiện tại, ngài cũng rất tự tại và hoan hỷ khi sử dụng yếu tố cử chỉ và điệu bộ, thậm chí trong những buổi thuyết giảng nơi đông người.
Từ hai lý do vừa trình bày, có thể cho thấy yếu tố phi ngôn ngữ cũng cần được vận dụng trong quá trình giao tiếp. Vấn đề là vận dụng yếu tố đó làm sao đừng để tạo nên một sự phản cảm trong giao thức văn hóa cộng đồng. Ở đây, trong giao tiếp phi ngôn ngữ, điều cần nhất là phải tạo nên một sự tương ứng với hoàn cảnh và hội chúng, nhằm đem đến một hiệu quả tối ưu trong giao tiếp với một người hay nhiều người.
Tạm kết
Giao tiếp là nhu cầu căn bản của con người, nhằm duy trì hoạt động sống ở nghĩa rộng nhất, thể hiện qua sự trao đổi thông tin giữa người với người. Có giao tiếp, con người sẽ từng bước kiện toàn những phẩm chất sống theo thú hướng nghiệp lực riêng mình. Giao tiếp không chỉ giới hạn trong lời nói, ngôn ngữ, chữ viết, mà còn thể hiện dưới những dạng thức khác nhau như ánh mắt, hình ảnh, âm thanh… Quá trình giao tiếp đạt đến trình độ nghệ thuật, đó là sự chuyển đạt và bảo lưu trọn vẹn thông tin từ người nói cho đến người nghe, là sự tổng hòa và phối hợp nhuần nhuyễn giữa các thủ pháp giao tiếp cùng các tính chất đặc thù của ngôn ngữ. Với người xuất gia, giao tiếp ở nghĩa rộng được hiểu là sứ mạng hoằng hóa độ sanh. Trong bất cứ ý nghĩa nào, người xuất gia có hai việc cần phải tư lượng khi giao tiếp: Nói pháp hay giữ im lặng của bậc Thánh50

(Theo, Nguyệt San Giác Ngộ, số 191)

Chú thích:
(1) Kinh Tương ưng, tập 1, phẩm thứ hai, kinh Bện tóc; Nội dung tương tự cũng xuất hiện trong kinh tiểu bộ, kinh Phật tự thuyết (Udana), chương 6, phẩm Sanh ra đã mù, Ud. 64.
(2) Kinh Trường bộ, kinh Đại bát Niết bàn.
(3) Kinh Trung bộ, tập 3, kinh số 103, kinh Nghĩ như thế nào.
(4) Kinh Tương ưng, tập 1, chương 6, Tương ưng Phạm thiên, phẩm thứ hai, Arunavàti.
(5) Kinh Tương ưng, tập 1, chương 6, Tương ưng Phạm thiên, phẩm thứ nhất, Tudubrahmà; Nội dung tương tự cũng xuất hiện trong kinh Tiểu bộ, kinh Tập, chương 3, Đại phẩm, kinh Kokaliya, câu 657.
(6) Kinh Trường bộ, tập 1, kinh Sa môn quả.
(7) Kinh Trung Bộ, tập 1. Kinh Ví Dụ Cái Cưa; Tiểu kinh Dụ Dấu Chân Voi.
(8) Kinh Tăng chi, chương Năm pháp, phẩm Bà La Môn, kinh Lời Nói.
(9) Kinh Tiểu bộ, tập 3, Trưởng lão Ni kệ, phẩm 10, tập 10 kệ, Kisa Gotami, Theri 143.
(10) Kinh Trung bộ, tập 2, kinh Angulimala.
(11) Kinh Trung bộ, tập 2, kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Ambala.
(12) Kinh Trường bộ, tập 1, kinh Tướng.
(13) Kinh Trường bộ, tập 2, kinh Thanh tịnh.
(14) Kinh Trường bộ, tập 1, kinh Đại bát Niết bàn.
(15) Kinh Trường bộ, tập 2, kinh Đại điển tôn.
(16) Kinh Trung bộ, tập 2, kinh Giáo giới La Hầu La ở rừng Ambala.
(17) Kinh Tăng chi, chương Ba pháp, phẩm Người, kinh Nói như hoa.
(18) Kinh Tương ưng, tập 2, Chương Sáu, Tương ưng lợi đắc cung kính, Phẩm thứ Hai, kinh Từ một đồng tiền vàng cho đến người mỹ nhân địa phương.
(19) Kinh Tương ưng, tập 1 Chương 11, Tương ưng Sakka, phẩm thứ nhất, Không Gian Trá.
(20) Kinh Tăng chi, chương Bốn pháp, phẩm Sợ hãi phạm tội, kinh Cách Thức Nói.
(21) Kinh Trung Bộ, tập 1, Tiểu kinh Dụ Dấu chân voi.
(22) Kinh Trường Bộ, tập 2, kinh Phúng tụng; kinh Tăng chi, chương Bốn pháp, phẩm Thắng trí, kinh Nhiếp pháp.
(23) Kinh Trung bộ, tập 1, kinh Ví dụ cái cưa.
(24) Kinh Trường bộ, tập 1, kinh Ambattha.
(25) Kinh Tăng chi, chương Năm pháp, phẩm Diệu pháp, kinh Tôn Giả Udayi.
(26) Kinh Trung bộ, tập 1, Tiểu kinh Saccaka.
(27) Kinh đã dẫn.
(28) Kinh Trung bộ, tập 1, kinh Ví dụ cái cưa.
(29) Kinh Trường bộ, tập 1, kinh Sa môn quả.
(30) Kinh Trung bộ, tập 2, kinh Brahmayu.
(31) Kinh Trường bộ, tập 2, kinh Xà ni sa.
(32) Kinh Tăng Chi, chương Tám pháp, phẩm Đất rung động, kinh Vừa đủ.
(33) Kinh Trường bộ, tập 2, kinh Xà ni sa. Tám yếu tố bao gồm: lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động.
(34) Kinh Trung bộ, tập 2, kinh Brahmayu. Tiếng nói thoát ra từ miệng Tôn giả Gotama có tám đức tánh: lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động.
(35) Kinh Tăng chi, chương Tám pháp, phẩm Đất rung động, kinh Vừa Đủ.
(36) Kinh Trường bộ, tập 1, kinh Tướng.
(37) Kinh Trung bộ, tập 3, kinh Vô tránh phân biệt.
(38) Kinh đã dẫn.
(39) Kinh Trường bộ, tập 1, kinh Sa Môn Quả.
(40) Kinh Tăng chi, chương Bảy pháp, phẩm tài sản, kinh Tài sản rộng thuyết.
(41) Kinh Tăng chi, chương Ba pháp, phẩm Người, kinh Lộn Ngược.
(42) Kinh Tăng chi, chương Ba pháp, phẩm Kusinara, kinh Hathaka.
(43) Kinh Trung bộ, tập 1, Đại kinh Rừng sừng bò.
(44) Kinh Tăng chi, chương Mười pháp, phẩm Ước nguyện, kinh Khả lạc.
(45) Kinh Trường bộ, tập 2, kinh Phúng tụng.
(46) Kinh Trung bộ, tập 2, kinh Brahmayu.
(47) Kinh Trường bộ, tập 1, kinh Tướng.
(48) Kinh Trung bộ, tập 2, kinh Canki.
(49) Kinh Trung bộ, tập 2, kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Ambala.
(50) Kinh Tiểu bộ, kinh Phật tự thuyết, Udana, chương 3, phẩm Nanda.


Đăng bởi

Nghệ thuật uống trà Huế

Trước hết, uống trà theo kiểu cung đình Huế thì phải có một bộ đồ trà đúng kiểu.
Một chén trà nâng mời bạn bè, một chén trà trò chuyện tâm giao, thú uống trà đã trở thành nếp sinh hoạt quen thuộc của người dân Việt Nam cũng như của nhiều dân tộc trên thế giới. Tuy nhiên, tuỳ theo nếp sống, văn hoá của từng dân tộc mà người ta thưởng thức trà với nhiều phong cách và phương thức khác nhau. Trong chén trà mở đầu câu chuyện chung ấy, với riêng Huế, uống trà là một nghệ thuật với bao sự sắp đặt công phu và cả những nghi thức của một vùng văn hoá. 






Trước hết, uống trà theo kiểu cung đình Huế thì phải có một bộ đồ trà đúng kiểu . Không phải chỉ có một bộ đồ trà dùng cho suốt cả 4 mùa mà kiểu cách uống trà của Huế còn thể hiện ở chỗ có bốn loại chén trà dành cho bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Người Huế uống trà theo mùa còn gọi là thời trà. Trong bộ đồ trà ấy, những chén Tống, chén quân, dầm, bàn … đều có những qui định riêng,chức năng riêng. Người Huế uống trà như là một hình thức lễ nghi, dẫu uống một người ( còn gọi độc ẩm ), hai người ( còn gọi đối ẩm ), ba người, bốn người hay nhiều người ( còn gọi quần ẩm) thì mọi thao tác vẫn được giữ nguyên, kể cả những cung cách pha trà, rót trà, nâng ly trà. Về nguyên liệu chỉ có hai loại đó là trà và nước. Nhưng chỉ riêng hai nguyên liệu này cũng đã có hàng ngàn trang viết. Sự cầu kỳ, công phu ở đây không bút mực nào tả xiết,  từ việc hái chè xanh ở hướng nào, giờ nào, cách ngắt ngọn ra sao, người thiếu nữ hái chè để móng tay dài bao nhiêu, cho đến việc ngâm tẩm, phơi, sao khô là cả những qui trình nghiêm ngặt. Cho nên mới có những câu chuyện về Trảm mã trà ( Trà ngựa ), Hầu trà ( Trà khỉ), Trùng điệp trà ( trà sâu), Tiên khai trà ( Trà tiên) … Nước để pha trà cũng có những câu chuyện dài, nước mưa hứng từ đâu , nước giếng thì giếng phải sâu như thế nào, nước suối thì lấy ở đoạn nào: đầu nguồn, giữa nguồn hay cuối nguồn …. Sự công phu ấy cho thấy trà không đơn thuần là một thức uống mà người ta đã lồng vào đó bao công sức và tâm huyết để nâng lên thành một nghệ thuật. Ở Huế còn lưu truyền câu chuyện hứng sương trên lá sen để lấy nước pha trà , còn trà thì được bọc trong hoa sen để có hương thơm tự nhiên. Đun nước để pha trà cũng là một nghệ thuật . Để có một bình trà ngon, nước đun sôi chỉ ở dạng sủi tăm, nước sôi già quá sẽ làm trà nhanh chín, hương thơm không còn. Tinh tế đến như thế thì người uống trà cũng phải có một tâm hồn nhẹ nhàng , luôn hướng đến những vẻ đẹp của đất trời, của con người thì mới thẩm thấu hết hương vị của chén trà. Cũng như nhiều quốc gia uống trà khác trên thế giới, thú uống trà của người Huế có xuất phát từ cung đình. Từ cung đình ra dân gian, tính chất nghi lễ và sang trọng giảm dần nhưng cái hồn của thú thưởng thức trà vẫn được giữ nguyên, bạn bè uống cùng nhau chén trà để tăng thêm tình thân thiết.


Dẫu không uống tại lầu son, gác tía như các bậc vua chúa, quan quyền nhưng trong không gian đơn sơ, dân dã, chén trà vẫn được chủ nhân nâng hai tay mời bạn, khách và chủ đều tôn trọng nhau, chén trà vì thế vẫn nặng tình, nặng nghĩa.Trong thú uống trà của người Huế, có một điều đặc biệt là luôn đi kèm với một loại bánh đặc sản của Huế đó là các loại bánh in làm bằng hạt sen, đậu xanh, hoặc bằng bột nếp được gói bằng giấy màu ngũ sắc của Huế. Những ngày Tết, người Huế còn có thêm món mứt gừng. Đón chén trà nóng từ tay bạn hiền trao, nếm lát mứt gừng Kim Long nổi tiếng có vị ngọt ,hơi cay nồng ấm thế là như thấy cả một mùa mùa xuân đang về trong đất trời và trong cả lòng người. Thú vui uống trà bây giờ đã trở nên phổ biến trong đời sống của nhiều người dân Huế từ già đến trẻ. Người ta tìm thấy một sự tĩnh tâm, lắng đọng khi uống trà. Trong không gian xanh mướt của những ngôi nhà vườn xứ Huế, con người được giải toả khỏi những áp lực công việc, tìm thấy chính mình trong sự tĩnh lặng và sâu sắc mà hương vị chén trà đem lại. Đó chính là ý nghĩa cuối cùng của thú uống trà mà nhiều người đã chiêm nghiệm và thu nhận lại cho chính mình, làm giàu có đời sống tinh thần của bản thân và cũng là của vùng đất Huế.

Theo tập san Văn hóa Huế
Đăng bởi

Xem chỉ tay tự mình bói tình yêu, công danh và tương lai


Xem chỉ tay đường trí tuệ đoán công danh sự nghiệp … thiện tâm, ham muốn chiến thắng, dễ thành đạt nếu với bàn tay mềm mại hồng hào.

Người bình thường đều cho rằng may mắn chính là có tài vận, nhưng thực ra hai điều này có sự khác biệt. Bàn tay của con người chỉ có thể cho thấy được sự giàu sang của một người, ví như, người có đôi bàn tay dày dặn sẽ thông qua nỗ lực của bản thân mà có được sự giàu sang phú quý, còn người có đôi bàn tay mềm mại thì thiên về hưởng thụ, cụ thể còn phải xem một vài đặc điểm đặc trưng mới có thể khẳng định được, mời các bạn cùng tuvisomenh tìm hiểu…

Đường Vận mệnh đút nét và chống lên nhau

Đường chi tay đứt nét báo hiệu có những thay đổi lớn, nhưng đứt nét cũng tồn tại hai hình thái khác nhau, đó là đường Vận mệnh đứt đoạn và chồng lền nhau, báo hiệu bản thân cần quyết định thay đổi công việc. Độ rộng khoảng cách chỗ chồng lên nhau biểu thị mức độ thay đổi, nếu như khoảng cách rộng, báo hiệu sẽ chuyến sang một lĩnh vực hoàn toàn mới và chỗ ở theo đó cũng có sự thay đổi. Nếu trên đường Vận mệnh xuất hiện đường cắt ngang, báo hiệu khó khăn xảy ra, có thể có một vài sự việc ảnh hưởng đến công việc. Nếu như đường chỉ tay toàn bộ đều đứt nét, báo hiệu là người xử lý công việc đều xuất phát từ sự ép buộc, và hơn nữa sự thay đổi này là điều không thể kháng cự. Ngoài ra còn có thể là do xảy ra vấn đề về sức khỏe mà người này mất đi cơ hội công việc.

Gò Kim tỉnh có hình sao, danh tiếng cao

Thuật xem bói người xưa đúc kết lại những người có bàn tay này cho thấy thành công và tiền bạc cùng nhau tìm đến, cho nên người có bàn tay như vậy thường có vận khí tốt, cuộc sống hôn nhân cũng mỹ mãn, hơn nữa họ còn có danh tiếng nhất định trong xã hội. Đường chỉ tay hình ngôi sao xuất hiện đơn độc trên gò Thái dương, cho thấy là người có tài năng bẩm sinh siêu phàm, hơn nữa có thế dựa vào đó đế đạt được danh tiếng và tiền bạc.

Trên tay có nhiều đường Công danh, báo hiệu là người đa tài nghệ, họ có thể thể hiện tài năng xuất chúng của mình ở rất nhiều lĩnh vực, có thể đối mặt với những nhiệm vụ công việc khác nhau và đều hoàn thành xuất sắc. Kiểu người này không chịu được cô đơn, thích thể hiện, hơn nữa tâm tư khá tinh tế, có thế dồn sức chú ý của mình vào nhiều lĩnh vực yêu thích khác nhau. Trên tay có nhiều đường Công danh, thể hiện là người có năng lực thích ứng tốt, có thể giữ được thái độ tích cực trong công việc.

– Nếu không có đường chỉ tay này thì hay gặp trắc trở, ít thành công, nên còn được gọi gọi là đường thành công. Nếu có sẽ xác định tính thành đạt và của cải vật chất mỗi người, cách sống sang hèn.

– Trên đường chỉ̀ gặp những dấu cù lao hay bị gãy khúc, sẽ làm chậm trong công việc, tiền của bị phá tán; gặp dấu chữ thập cũng làm ngưng trệ sự phát triển trong công việc.

– Đường thành công càng dài, càng nhiều may mắn, nếu dứt điểm tại ngón áp út đều đặn, sâu, đậm thì thành công vào hậu vận.

– Nếu mất dần tại gò Thủy tinh, có số thất bại; nếu lu mờ thì hậu vận càng xấu thêm.

+ Ðường ngoằn nghèo thì nản chí; chỗ đậm nhạt: đê tiện.

+ Ðường to đậm ngắn: Hung ác, tàn hạo, giết người. Có điểm mờ thì thích đao búa, cướp, trộm.

+ Đường này đứt nhiều đoạn: Hay đau đầu. Nếu lại đậm sâu thì bị thần kinh không ổn định.

+ Đường này sát gần đường tâm tính: Dấu hiệu bản lĩnh, biết kìm nén ham muốn.

+ Đường trí tuệ chấm dứt gần ngón út: Sẽ trở nên táo bạo, liều lĩnh.

+ Ðường này tách biệt đường sinh mệnh và đầu bắt đầu dưới gần ngón trỏ thì kiêu ngạo, bảo thủ, không thiện tâm, ham muốn chiến thắng, dễ thành đạt nếu với bàn tay mềm mại hồng hào.

+ Ðường trí tuệ tách rời xa từ đầu với đường sinh mệnh: Dấu hiệu độc lập về trí tuệ và có lòng tự tin cao.

+ Ðường này bé mờ: Ý trí kém, suy nghĩ nông cạn yếu đuối.

+ Đường này nối nhau thành chuỗi: Biểu hiện của khả năng tư duy lôgíc, không có khả năng tập trung.

+ Ðường chỉ này cong về gan bàn tay thành một đường cong đẹp không vệt cắt thể hiện trí tưởng tượng khoảng đạt. Con người đầy mơ mộng.

+ Đường này song song với đường sinh mệnh thể hiện tính thiếu cẩn thận, bừa bải, đại khái qua loa. Người này thích sống tự đo thoải mái không có tinh thần trách nhiệm (chú ý khác đường sống phụ).

Đăng bởi

Truyện Ramayana

 
« Ngày nào còn nước, còn non, thì bằng TÌNH YÊU, Ramayana vẫn còn cứu rỗi nhân loại » … Chỉ cần đọc một câu của Ramayana là « tức khắc được thanh tịnh, tuổi thọ tăng thêm, khi quá vãng được lên Thiên Quốc ».

« Ngày nào còn nước, còn non, thì bằng TÌNH YÊU, Ramayana vẫn còn cứu rỗi nhân loại ». Đó là lời của Brahma, Đấng Tạo Hóa khi mặc khải truyện Ramayana cho Đạo Sĩ Valmiki. Thần tiên khắp Thiên Quốc cũng truyền tụng Ramayana là « áng thơ rửa mọi tội lỗi của Thế Gian, có khả năng đem lại cho người đọc vừa sức khỏe, vừa của cải dồi dào, cùng với niềm an lạc nội tâm ». Chỉ cần đọc một câu của Ramayana là « tức khắc được thanh tịnh, tuổi thọ tăng thêm, khi quá vãng được lên Thiên Quốc ». Đại khái vậy … Đủ để chúng ta cùng nhau duyệt qua một cách tóm lược câu chuyện vô cùng trọng yếu này của văn hóa Ấn Độ.
Thật vậy, người Ấn không ai không biết Ramayana. Tranh ảnh, sách vở, hình tượng, của họ đầy dẫy những hoạt cảnh lấy từ chuyện này. Có những gánh hát được lập ra chỉ để trình diễn những đoạn của Ramayana và kỹ nghệ điện ảnh Ấn Độ cũng đã dành rất nhiều tác phẩm cho thiên anh hùng ca ấy. Thậm chí nhiều khía cạnh tiêu cực của xã hội Ấn cũng được những người quá khích biện minh bằng huyền thoại Ramayana …

TÁC GIẢ CỦA RAMAYANA : MỘT TƯỚNG CƯỚP TRỞ THÀNH ĐẠO SĨ


Ramayana có nghĩa là « Anh Hùng Ca của Rama », gồm 96 ngàn câu thơ chia thành 24 ngàn đoạn. Tác giả là Valmiki, một người xuất thân ăn cướp, chuyên lột tiền những khách hành hương đến một Thánh Địa ở miền Bắc Ấn Độ. Tình cờ ông được một nhà tu, nạn nhân của ông, chỉ cho một pháp môn để trở về nẻo thiện. Pháp môn này rất đơn giản : chỉ cần suốt ngày niệm danh hiệu Rama thật nhanh, không ngừng nghỉ. Valmiki chẳng biết Rama là ai, chỉ biết có Mara là Thần Chết. Nhà tu bảo : « Không sao ! ông cứ niệm Mara, nếu thích ! » Thế là Valmiki niệm danh hiệu Mara, ngày này qua ngày khác, càng lúc càng nhanh. Với thời gian, ông niệm nhanh đến độ, các chữ Mara nối liền vào nhau, để trở thành … Rama ! Thần chết Mara hóa thành « Đấng Khả Ái », nghĩa của chữ Rama. Valmiki giác ngộ, bỏ nghề cướp bóc, trở thành Đạo Sĩ, chăm lo tu hành, nhưng vẫn chưa biết gì về nhân vật Rama. Cho đến một hôm, ông gặp một Đạo Sư kể cho ông nghe câu chuyện của một con người hoàn hảo, hóa thân của Thần Vishnu, Ngôi Hai Thiên Chúa, có tên là Rama. Từ lúc ấy Valmiki không ngừng bôn ba khắp nơi để tìm biết thêm về cuộc đời Rama, Đấng Khả Ái. Ông nguyện sẽ viết một anh hùng ca vĩ đại về nhân vật này. Nguyện lực của Valmiki mãnh liệt đến độ, một ngày kia, trong lúc thiền định, Brahma, Đấng Tạo Hóa, hiện đến mặc khải cho ông câu chuyện vẫn còn được truyền tụng từ hơn ba mươi thế kỷ nay.

VISHNU, ĐẤNG NHẬP THẾ :

Mặc dù có hàng triệu vị Thần, Ấn Giáo trong bản chất không phải là một tôn giáo đa thần. Tất cả các vị Thần trong Ấn Giáo chỉ là những biểu hiện của một Nguyên Lý duy nhất. Nguyên Lý ấy được gọi là Brahman (xin đừng lầm lẫn với Brahma, Tạo Hóa). Vì tâm trí con người quá hạn hẹp, nên để cho dễ hình dung Brahman, người ta phải hình dung những biểu hiện cúa Nguyên Lý này dưới những hình ảnh Thần Thánh muôn hình vạn trạng, mỗi vị Thần phù hợp với một chức năng đặc biệt, như Brahma tạo nên Trời Đất, Vishnu nuôi dưỡng, bảo trì, Shiva hủy hoại, chuyển hóa, Agni, thần lửa, Vayu, thần gió, v.v… Thật ra, mọi sự hiện hữu, kể cả con người, đều là những biểu hiện của Brahman, y hệt như các Thần Linh. Trong một số trường hợp, thần linh (thường là Vishnu, đấng mang chức năng nhập thế, cứu độ) có thể hóa thân thành người hay súc vật. Trong Ramayana, Vishnu, ngôi hai Thiên Chúa, hóa thân thành Rama, một con người, với những yếu đuối thường tình như chúng ta sẽ thấy, nhưng đồng thời cũng là Thiên Chúa.

Truyện Ramayana kể lại việc Vishnu nhập thế để loại trừ một Quỷ Vương vô cùng lợi hại, tên là Ravana. Anh chàng này nhờ lắm công phu tu luyện nên được Ngôi thứ nhất của Thiên Chúa là Brahma đồng ý thưởng cho anh ta tất cả những thần thông mà anh nguyện ước. Ravana xin được trở thành vô địch, không thể bị bất cứ một vị Thần nào đánh bại. Brahma ưng thuận. Ngặt một nỗi là liền sau đó Ravana khai chiến uy hiếp mọi vị Thần trên Thiên Quốc, kể cả Indra, Vua các vị Thần. Chư Thần kéo nhau đến xin Chúa Ba Ngôi (Brahma, Vishnu và Shiva) cứu giúp. Nhưng làm sao diệt trừ nổi Ravana khi vị Quỷ Vương này đã được Thiên Chúa ban cho thần thông bất bại ? Có một cách ! Ravana trong lúc kiêu căng đã chỉ nói đến các vị Thần mà quên không đòi được trở thành vô địch đối với loài người và loài vật. Ravana coi thường con người và thú vật, như những sinh linh yếu đuối, không đáng quan tâm … Sơ hở này khiến con người, hay súc vật, có thể đánh bại Ravana, mà không phản lại hồng ân mà Brahma đã ban cho vị quỷ vương. Thế là Vishnu, Đấng nhập thế cứu độ, liền quyết định giáng trần, sanh ra làm một con người, để diệt trừ Ravana.

TUỔI TRẺ HUY HOÀNG CỦA RAMA

Phụ thân của Rama là một vị Vua thuộc dòng dõi thần Thái Dương. Vì hiếm muộn nên một ngày kia, nhà Vua cho tổ chức một cuộc cúng lễ linh đình để cầu tự. Vishnu thừa cơ hội xuống trần. Ngài ra lệnh cho thần Mặt Trời hiện đến trên ngọn lửa tế lễ, trao cho Nhà Vua một chén Thần Dược. Nhà Vua có ba vợ. Ông cho bà vợ lớn uống một nửa chén thuốc, bà vợ thứ hai một nửa của phần còn lại, tức một phần tư, bà thứ ba chỉ được một nửa của phần tư tồn đọng. Tức là vẫn cón một phần tám cuối cùng. Nhà Vua quyết định lại cho bà vợ thứ hai phần tám ấy. Chúng ta không cần đi xâu vào ý nghĩa của sự phân chia số học này, chỉ biết là sau đó ba bà Hoàng đều thụ thai một phần nào đó của Vishnu đã được hòa tan trong chén thuốc thần.

Rama là con bà vợ cả. Bà thứ hai cho ra đời hai trẻ sanh đôi (bà này đã uống thuốc hai lần), bà thứ ba cũng sanh một hoàng nam. Bốn đứa trẻ đều kháu khỉnh hay ăn chóng lớn, và lớn lên đều thông minh, khỏe mạnh, can đảm, đạo đức. Rama vượt trội hơn các em mình trong mọi lãnh vực. Khắp trong vương quốc ai ai cũng đều tán dương đức hạnh và tài ba của Rama. Mọi việc Rama làm đều hoàn hảo. Chàng luôn chú tâm lắng nghe và thông cảm với mọi người từ tiện dân cho đến vương tôn quý tộc, không hề phân biệt, và không ngần ngại giúp đỡ tha nhân, xem việc của người như việc của chính mình. Rama là vầng Thái Dương tỏa hào quang không những trong khắp vương quốc của phụ thân mình, mà còn chiếu soi đến mọi hang cùng ngõ hẻm trong thiên hạ.

TỪ CHIẾN CÔNG ĐẦU TIÊN ĐẾN MỐI TÌNH ĐẦU

Khi Rama được 16 tuổi, vua cha đang toan tính việc tìm vợ cho chàng, thì một Đạo Sư danh tiếng đến xin triều kiến. Trước vinh dự được tiếp đón vị Đạo Sư này, nhà Vua vô cùng cảm động. Ngài tuyên bố sẽ hiến dâng cho ông tất cả điều gì ông đòi hỏi. Đạo Sư đòi mượn Rama một thời gian để giúp ông trong một chiến dịch tiễu trừ ác quỷ. Vua cha kinh hoàng, lo sợ cho sự an toàn của đứa con yêu. Ngài hết lời năn nỉ xin vị Đạo Sư đổi ý, nhưng không được, rốt cuộc đành chấp nhận. Thế là Rama mang giáp trụ, gươm cung, lên đường, đem theo Lakshmana, người em con bà hoàng hậu thứ hai (một trong hai hoàng tử sanh đôi). Địch thủ là hai đầu lãnh ác quỷ, đệ tử của Ravana, vị Quỷ Vương đã đại náo thiên cung, đánh bại tất cả các vị Thần. Trên đường đi, vị Đạo Sư truyền thụ pháp thuật và võ công cao diệu cho Rama. Khi chàng vừa hấp thụ xong những tuyệt nghệ mới học được thì cũng là lúc phải đối đầu với ác quỷ. Đương nhiên là Rama chiến thắng vẻ vang. Đầu tiên chàng đánh bại một nữ quỷ như một tập sự sơ khởi, sau mới tiêu diệt đến hai ông tướng quỷ cực kỳ hung hăng. Thanh thế của Rama lẫy lừng vang dội khắp các vương quốc lân cận.

Gặp lúc một vị quốc vương ở gần đó đang kén chọn một chàng rể anh hùng cho cô con gái tuyệt đẹp của ông, tên là Sita. Sita thật ra là con của Thần Đất. Nàng sanh ra từ một luống đất trong lúc nhà Vua, theo nghi thức truyền thống, đang cày một thửa ruộng để sửa soạn cho một cuộc tế lễ (tục lệ này cũng hiện hữu ở Trung Hoa và Nhật Bản). Vị quốc vương vốn hiếm muộn không con, nên liền nhận nàng làm con, coi như một món quà của Thần Đất.

Cũng như trong chuyện Mahabharata và chuyện Ulysse trong huyền thoại Hy Lạp, cuộc tỷ võ tuyển phu bao gồm một màn tỷ thí dương cung. Ở đây là một cây cung thần vốn thuộc về Shiva. Đương nhiên là tất cả các ông hoàng có mặt, đại diện cho tinh hoa của giai cấp chiến sĩ Kashatrya, đều không dương nổi cây thần cung ấy, trừ … Rama. Chàng dương mạnh đến nỗi cây cung gãy làm đôi ! Rama cưới Sita, đem nàng về nhà. Trên đường về, chàng hàng phục Parashuram một Đạo Sĩ vô cùng oán ghét giai cấp Chiến Sĩ. Ông này thách Rama dương một cây cung thần khác, được gọi là « Thần Cung của Vishnu ». Rama cầm lấy cây cung, niệm chú, nạp tên, dương lên, rồi nhắm vào Parasuram tuyên bố : « Đạo Sĩ ! Ta vốn không thù hận gì với ông, nhưng mũi tên thần này không thể được nạp lên mà không hủy diệt một mục tiêu. Vì thế, ông phải chọn : hoặc chịu phế bỏ võ công và thần thông, hoặc phải chịu bị giam hãm trong khu rừng này ». Parsuram chọn bị phế bỏ tuyệt nghệ, chắp tay cung kính nhiễu quanh Rama về bên phải, rồi bỏ đi. Qua hai thành tích vừa kể, Rama chứng tỏ chàng có khả năng hàng phục hai giai cấp cao nhất của xã hội, là giai cấp chiến binh, Kshatrya, và giai cấp đạo sĩ, Brahmane. Chàng cũng biểu lộ liên hệ thần thánh giữa chàng và Shiva cũng như Vishnu. Cần nói ba ngôi Thiên Chúa, Brahma, Vishnu, Shiva, tuy ba nhưng chỉ là một thực thể.

BẢN ÁN LƯU ĐÀY

Mười hai năm sau, Vua Cha họp quần thần tuyên bố chính thức lập Rama làm Thế Tử, và ngay ngày hôm sau, quyết định sẽ tổ chức một cuộc đại lễ để phong cho chàng chức vị Phụ Chánh. Cả vương quốc vui mừng tột độ. Chẳng cần ai bảo ai, dân chúng thi đua chăng đèn kết hoa, trang hoàng khắp chốn để bày tỏ lòng quý mến Rama.

Tuy nhiên, khi nhà Vua về đến nội cung của bà hoàng được ngài sủng ái nhất, là bà thứ ba, thì có chuyện trục trặc. Số là bà này nghe lời một người tỳ nữ thân tín cho rằng nếu Rama lên ngôi thì sẽ có hại cho bà và con bà. Vị hoàng hậu nhớ lại là khi hai người lấy nhau, nhà Vua đã hứa với phụ thân bà là sẽ lập con bà lên làm Thế Tử. Thêm vào đó, nhiều năm về trước, trong một trận chiến gay go, nhà Vua thọ tiễn trọng thương ngã gục trên chiến xa, đã được bà cứu ra khỏi vòng vây rồi tận tình chăm sóc đến khi bình phục. Lúc ấy, nhà Vua trong cơn cảm kích, đã hứa sẽ cho bà hai đặc ân. Hôm ấy, bà Hoàng thứ ba tóc buông xõa, áo quần hở hang, nằm gục mặt khóc thút thít (mánh lới cổ điển !) cho đến khi nhà Vua đến ngồi gần bên vuốt ve an ủi hồi lâu mới chịu nức nở nhắc lại chuyện xưa và đòi chồng thực hiện hai điều đã hứa. Nhà Vua cảm động lập lại là sẽ thuận cho người vợ đẹp hai yêu cầu, bất kể đó là điều chi. Bà Hoàng lập tức đòi : thứ nhất, con trai của bà, hoàng tử Bharata, phải được sắc phong làm Phụ Chánh, và thứ hai, Rama phải bị lưu đày trong rừng sâu 14 năm như một đạo sĩ khổ tu. Nhà Vua choáng váng sỉu lên sỉu xuống, đồng thời khóc lóc năn nỉ « vợ hiền » rút lại những đòi hỏi quá quắt kia lại, nhưng không được. Ngài tức giận nguyền rủa bà, cũng không xong. Với cương vị một đấng quân vương, gương sáng của giai cấp chiến sĩ Kshatrya, mẫu mực của toàn thiên hạ, ngài không thể bội ước …
Thế là nhà Vua cho đòi Rama đến. Rama bước vào nội cung thấy phụ hoàng nằm trên giường run rẩy nói không ra lời. Hoàng tử gặng hỏi mãi, mới được bà mẹ ghẻ cho biết tự sự. Chàng liền thản nhiên tuyên bố : « tưởng chuyện gì chứ điều đó thì có chi quan trọng mà phụ hoàng phải bận tâm đến nỗi sanh bệnh ? Vinh dự và hạnh phúc của con nằm ở chỗ giúp được phụ hoàng thực hiện những điều đã hứa. Còn Ngai Vàng có về tay em Bharata thì cũng tốt thôi, vì Bharata dư thừa khả năng trị vì thiên hạ ».

TỪ THẾ TỬ PHỤ CHÁNH ĐẾN KHẤT SĨ KHỔ TU

Không chần chừ, Rama quay về nhà giã biệt công chúa Sita, rồi sửa soạn lên đường. Sita nhất định đòi theo. Rama từ chối, cho rằng nàng sẽ không thể chịu đựng nổi đời sống khổ hạnh giữa rừng sâu nước độc. Tuy nhiên, người đẹp nhất định không nhượng bộ (đòi tự tử , v.v…). Rốt cuộc Rama đành chịu cho nàng đi theo. Khi ấy, người em gắn bó nhất với chàng là Laskshmana xuất hiện khuyên Rama cứ ở lại thành đô, bất chấp bà mẹ ghẻ, và cứ lên ngôi phụ chánh như phụ hoàng đã dự liệu. Lakshmana cho rằng phụ hoàng tuy không nói ra nhưng chắc chắn cũng thầm ước mong Rama làm như thế. Rama gạt đi, cương quyết không chịu để cho vua cha phải mang tiếng bội ước. Lakshmana không còn cách nào khác, cũng đòi đi theo Rama trên đường lưu đày.
Rama đem toàn bộ của cải phân phát cho người nghèo rồi trút bỏ trang phục vương tôn quý phái, khoác lên người một mảnh áo làm bằng vỏ cây như các nhà khất sĩ. Sau đó chàng dắt vợ và em vào từ biệt phụ thân, từ biệt mẹ ruột cùng hai bà mẹ kế, rồi lặng lẽ lên đường. Quần thần, binh tướng và toàn thể dân chúng gạt lệ tiễn đưa ba người hành khất ra đi. Thậm chí họ không chịu nổi sự thiếu vắng Rama, nên cùng nhau lũ lượt kéo nhau theo chàng suốt mấy ngày đường. Rama phải dùng mưu kế, trong sương sớm giả quay về kinh đô, cho mọi người tưởng thật đi theo, rồi lén lấy đường tắt sang sông tiếp tục cuộc hành trình, đến khu rừng đã được chỉ định.

Thế là Rama, Sita và Lakshmana lang thang trong rừng núi thâm sâu, tìm đến thảo am của những Đạo Sư danh tiếng để cầu xin học Đạo, trước khi dựng lên thảo am của chính họ. Rama cũng phát nguyện sẽ bảo vệ các vị Đạo Sĩ cùng ẩn tu trong rừng sâu trước những tác hại của đám quỷ dữ đệ tử của Ma Vương Ravana.

Lúc Rama lên đường lưu đày, thì Hoàng Tử Bharata đang du hành nơi xa, bảy ngày sau mới về đến, và được cho biết những biến chuyển trọng đại vừa xảy ra. Bharata kinh hoàng trách thân mẫu mình đã xử sự sai trái. Cùng lúc, Vua cha buồn bã, lâm bạo bệnh và từ trần. Bharata tống táng phụ hoàng, rồi nguyện sẽ chỉ tạm thời làm Vua trong khi chờ đợi Rama mãn hạn lưu đày. Vị Tân Vương lấy một đôi giày của Rama, đem đặt lên ngai vàng, rồi tự mình mặc trang phục khất sĩ, hàng ngày ngồi dưới bậc thềm thiết triều, lo việc quốc sự.

QUỶ VƯƠNG RAVANA HẠ ĐỘC THỦ

 

Sự nghiệp tiễu trừ ác quỷ của Rama tiến triển tốt đẹp. Ngày kia, một nữ quỷ mê chàng như điếu đổ, đến dụ dỗ chàng bỏ vợ về sống với chị ta ! Rama khước từ, tinh nghịch đẩy sang cho cậu em Lakshmana. Nữ quỷ tức giận toan làm hại người đẹp Sita. Rama liền ra lệnh cho Lakshmana xử lý cô nàng quỷ dữ. Laksmana đánh bại chị nữ quỷ, cắt tai và mũi, đuổi ra khỏi rừng. Nữ quỷ chạy về mách với người anh đang ngự trị trên một bày quỷ rất đông ở gần đó. Ông anh đem 14 ngàn quân vây đánh Rama. Một mình với bảo kiếm và cung thần, Rama đánh bại đạo binh quỷ dữ, giết ông anh của chị nữ quỷ mê mình. Vấn đề là chị nữ quỷ này cũng là … em gái của Quỷ Vương Ravana ! Chị chạy về báo tin dữ cho anh mình …

Ravana rất tức giận, nhưng trước danh tiếng lẫy lừng của Rama, vị Quỷ Vương có vẻ muốn an phận nằm nhà hưởng thụ cuộc đời, hơn là lao vào một cuộc chiến đầy bất trắc hiểm nguy. Em gái Quỷ Vương, tức chị nữ quỷ say mê Rama, biết vậy nên nên liền vận dụng một độc kế. Chị ta hết lời tán dương nhan sắc có một không hai, tự cổ chí kim chưa ai so sánh được, của công chúa Sita. Ravana vốn hiếu sắc nên nghe nói động lòng , ngần ngừ hồi lâu, rồi quyết định ra tay bắt cóc Sita.

Quỷ vương sai một đồng lõa vận dụng thần thông biến thành một chú nai vàng với bộ lông óng ả tuyệt đẹp, đến lang thang gần thảo am của Rama và Sita. Sita nhìn thấy, thích quá, nhất định đòi Rama đuổi bắt chú nai về cho nàng. Tuy nhiên mỗi khi Rama rón rén đến gần, thì chú nai lại bỏ chạy mất, khiến Rama càng lúc càng rời xa thảo am. Một hồi lâu sau, đuổi mãi, Rama bực mình, dương cung bắn chú nai một mũi tên trí mạng. Trước khi chết, nai hiện nguyên hình quỷ dữ, và, dù sắp lìa đời, vẫn cố thực hiện một chiến công cuối cùng, bằng cách giả giọng Rama kêu lên thật lớn : « Ôi ! Sita ! Lakshmana ! » Tiếng kêu hoảng hốt, bi thương, vọng đến thảo am nơi Sita và Lakshmana đang đợi Rama. Lakshmana vội sách binh khí chạy đi tiếp cứu anh mình. Liền khi ấy, Ma Vương Ravana thừa cơ hội biến dạng thành một Khất Sĩ đến xin ăn trước thảo am. Sita ôm hoa quả bước ra toan bố thí thì vị Đạo Sĩ giả lập tức lấy lại hình dạng ghê rợn của Quỷ Vương với 10 cái đầu và 20 cánh tay, vồ lấy Sita, rồi bay thẳng về kinh thành của mình.

NHỮNG “NGƯỜI” BẠN QUÝ

Khi Rama và Lakshmana gặp nhau giữa rừng, thì hai chàng hiểu ngay là mình đã mắc phải kế “điệu hổ ly sơn”. Họ vội vã chạy về thảo am. Vắng bóng Sita, hai anh em hoảng hốt lục lọi khắp mọi khu rừng quanh đó, tìm dấu vết của người đẹp. Bên một dòng suối, họ gặp một Thần Ưng đang hấp hối. Số là vị Thần Ưng này đã toan can thiệp cứu Sita khỏi nanh vuốt của Ravana, nhưng không thành công. Thần Ưng, tên là Jatayu, bị đánh trọng thương, nhưng cố chờ gặp được Rama để thuật lại tự sự rồi mới qua đời. Jatayu là con của Garuda, linh vật của Vishnu (xin nhắc lại Rama chính là hóa thân của Vishnu). Sau khi thực hành nghi lễ hỏa táng Thần Ưng, Rama và Lakshmana tiếp tục cuộc tìm kiếm. Họ gặp một đám khỉ đang chơi với vài món nữ trang rơi từ người của Sita trong lúc nàng bị Ravana cắp nách bay trên không. Cuộc gặp gỡ này sẽ hoàn toàn quyết định đoạn tiếp của câu chuyện …

Số là lãnh tụ của đám khỉ này là một Vua Khỉ, tên là Sugriva, cũng bị lưu đày như Rama, do có sự xích mích với người anh. Vợ Vua Khỉ cũng bị ông anh chiếm đoạt. Vua Khỉ cảm thông tình cảnh của Rama, nên hứa giúp vị anh hùng tìm lại vợ hiền, khi … có thể. Tức là khi ông đoạt lại được ngai vàng của Vương Quốc Khỉ …

Không thể chần chờ, Rama ra tay giúp Sugriva loại trừ người anh quá quắt ngay lập tức, để có thể liền sau đó, quy tụ quanh mình một đạo dân binh vĩ đại gồm mấy chục triệu chú khỉ, được bổ sung bởi một bộ lạc gấu. Cần biết là dưới trướng của Ma Vương Ravana có tới 360 triệu ác quỷ vô cùng dũng mãnh, võ nghệ và pháp thuật tinh ròng, được chỉ huy bởi những kiện tướng đã từng hàng phục các đạo binh Thiên Quốc.

Trong số các “nhân” vật khỉ và gấu phụ lực với Rama, thì Hanuman là nổi bật hơn cả. Anh khỉ này có gốc gác rất cao quý vì anh ta là con của Thần Gió Vayu. Như chúng ta sẽ thấy, Hanuman không những là một kiện tướng võ nghệ tinh ròng và thần thông cao diệu, mà cũng là một Y Sĩ tài ba và một nhà chính trị xâu sắc. Người Ấn thờ kính Hanuman như biểu tượng của lòng quả cảm, sẵn sàng quên mình giúp đỡ tha nhân. Người ta thường gặp hình tượng Hanuman tự vạch lồng ngực trưng bày trái tim của mình ra, như hình tượng “Thánh Tâm Ky Tô” trong truyền thống Công Giáo.

HANUMAN VÀ SITA