Đăng bởi

霊的にきれいなお香は、古いベトナム人の伝統的な美しさを保ちます。

緑豊かな野菜、四季折々の果物、漢方薬に使用される種類のハーブ、きれいなHuong生産まで、ハーブがあふれているのは私たちの国では好きではありませんきれいなお香。自然と熱帯の気候は、ベトナム人にさまざまなハーブを与えています。

清潔な香を使用する傾向、自然から清潔な香、元の原産地に戻ることが徐々に普及してきている。 Huong市場では、Nhangは今、あなたは簡単に全国各地から多くのブランドを見るでしょう。その傾向に追いつくと、ベトナムの自然な清潔な香料市場は、老舗のスタートアップ企業やラベルのない浮遊製品、起源のないものまで、製造業者の老舗製品で賑やかになります。国です。

あなたはどのブランドが評判が良く、有益で信頼できるのかを知るのがあまりにも混乱していますか?以下の情報を参照することができます。

品質への取り組み
100%ハーブ
消費者に安全
一流の清潔な香を参照すると、Tam Linhは非常によく知られたブランドであり、香製造および天然香の分野における先駆者と見なすことができます。今日のベストセラー商品:

TAM LINH LIEN
ロングチューブ(43 cm)
中型チューブ(38 cm)
短チューブ(29 cm)
香水カード
きれいなお香
1日の香水
Huongは3日以内に
Huong bud(ビーンベース)
TAM LINH THAO MOC
ロングチューブ(38 cm)
香水カード
美しいラベルもこのブランドのハイライトの1つです。製品は品質のための多くの支持と感謝を受けました、製品は40以上の純粋なハーブの組み合わせです。 Huongの市場、香香は偽物で、金色で、そして混乱していて、ビジネスマン、本物の労働者の名声に影響を与えます。ベトナムのアイデンティティを維持するという願望と情熱、そして方向性の選択における一貫性により、Huong Tam Linhブランドは伝統的な製法に基づいて100%から製造された原料で製品を製造しています。自然は安全、香り、新鮮な空気をもたらします。顧客の支援は、Huong Tam Linhの労働者がより積極的になるための大きな動機です。伝統的な美しさは、ベトナムで最も古く、最も美しいHuongブランド、古いベトナム人の優しく優しい美しさの発祥の地に広がっています。

うまくいけば、上記の情報はあなたが完璧なHuong製品ラインを選択するのを助けるでしょう。それ以上の情報が必要な場合はご連絡ください。

Đăng bởi

Hoa hậu Tiểu Vy với nghi thức hầu đồng tại Miss World

Trong phần thi đầu tiên tại Miss World 2018Hoa hậu Tiểu Vy đã lựa chọn thể hiện điệu múa chầu văn – một loại hình nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam.

 

 

  Miss World 2018 đã chính thức khởi động với phần thi đầu tiên “Top of the World” nhằm chọn ra những điệu múa đặc sắc từ các nước để biểu diễn chính tại đêm chung kết. Đến với phần thi này, Hoa hậu Tiểu Vy đã thể hiện điệu múa chầu văn – một loại hình nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam gắn liền với nghi thức hầu đồng – đến với Miss World.  Đây được xem là tiết mục đậm chất văn hoá và khá phức tạp. Tiểu Vy phải tập múa với đuốc nến trên 2 bàn tay, các động tác đòi hỏi sự mềm dẻo, tinh thần, ánh mắt phiêu lãng mang tính chất tâm linh của đạo Mẫu.  “Vy cảm thấy hơi tiếc vì phần đặc sắc nhất trong điệu múa chầu văn này là việc múa với lửa, nhưng để đảm bảo an toàn, ban tổ chức đã hạn chế phần này” – Hoa hậu Tiểu Vy chia sẻ.  Trang phục của Hoa hậu Tiểu Vy cho phần thi này cũng được đánh giá cao. Cô và êkíp trong chuyến công tác Hà Nội đã lặn lội đến các khu phố cổ, các nghệ nhân chuyên may thêu trang phục cho các nghi lễ hầu văn để nhờ tư vấn trang phục.  Sắc xanh của miền rừng núi được thể hiện trên nền gấm có hoa văn tinh xảo sang trọng. Các hoạ tiết cỏ cây, hoa lá và chim công đang múa được thêu bằng chỉ ngũ sắc, chỉ vàng kim tinh xảo để tạo nên sắc màu rực rỡ, bắt mắt cho bộ trang phục.  Năm nay Tiểu Vy được đích thân đạo diễn Hoàng Nhật Nam tư vấn cho tiết mục “Cô đôi thượng ngàn” trên nền ca của ca nương Kiều Anh và dàn nghệ sĩ hát văn cùng dàn nhạc cụ dân tộc độc đáo.  Tiết mục mang đến sự tươi vui, rộn ràng với giá Cô đôi dạo chơi miền rừng núi với muôn thú, cỏ hoa cây trái chốn tiên cảnh.

Đăng bởi

Các lễ hội truyền thống tháng 5 âm lịch.

1. Lễ hội Bánh chưng – Bánh giầy  được  nhân dân Sầm Sơn tổ chức hằng năm :




Lễ hội bánh Chưng – bánh Giầy được tổ chức tại Đền Độc Cước hàng năm. Được tổ chức vào ngày 12 tháng 5 (âm lịch) hằng năm tại đền Độc Cước. Nội dung chính của lễ hội là tế lễ, cầu mưa và thi làm bánh Chưng, bánh Giầy

 


2. Lễ hội Cầu Ngư Bơi Chải





Nghi thức tế lễ trang nghiêm trước khi bước vào lễ hội Cầu Ngư Bơi Chải


Được tổ chức vào ngày rằm tháng 5 (âm lịch) hàng năm tại cửa biển Lạch Hới. Người dân tổ chức đu thuyền để tỏ lòng tôn kính vị thần biển, thần Mặt Trăng, thần Độc Cước đã che chở, phù hộ cho nhân dân trong vùng.




3. Lễ hội Trà Cổ ( từ ngày 29 tháng 5 đến 6 tháng 6 âm lịch): Lễ hội dân gian Trà Cổ diễn ra tại làng Trà Cổ, thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Hội làng Trà Cổ diễn ra trong 7 ngày với các nghi thức rước từ Trà Cổ về quê tổ Ðồ Sơn, rồi từ Ðồ Sơn quay về Trà Cổ, mồng 1 tháng 6 âm lịch là ngày vào hội rước Vua ra bể (còn gọi là rước vua ra Miếu) với nghi thức gồm một đội quân cầm vũ khí, cờ thần, phường bát âm. Sau lễ rước là cuộc thi các sản phẩm chăn nuôi trồng trọt. Nét độc đáo của hội Trà Cổ là hội thi làm cỗ, thi nấu ăn, ai nấu ăn giỏi đều được cả làng biết đến. Ngày mồng 6 tháng 6 âm lịch là ngày kết thúc hội có múa bông. Trong ngày múa bông, người ta cầu mong trời đất thần linh phù trợ cho đánh bắt được nhiều cá tôm, buôn bán phát đạt, chăn nuôi, trồng cây tươi tốt, cuộc sống ấm no.



4. Hội Yên Lập(tháng 5 âm lịch)


Hội Làng Yên lập được tổ chức từ ngày 24 đên 26 tháng 5 âm lịch tại Xã Yên Lập,Huyện Vĩnh Tường,Tỉnh Vĩnh Phúc Việt Nam.






Hội Làng Yên lập được tổ chức từ ngày 24 đên 26 tháng 5 âm lịch tại Xã Yên Lập,Huyện Vĩnh Tường,Tỉnh Vĩnh Phúc Việt Nam nhằm suy tôn Đăng Đạo Song Nga, âm phù Hai Bà Trưng.


Thông tin chi tiếtThời gian: 25 – 27/5 âm lịch.


Địa điểm: Xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.


Đối tượng suy tôn: Đăng Đạo Song Nga, âm phù Hai Bà Trưng.


Đặc điểm: Lễ trình Thánh, đón Ngài về dự hội trên ba thuyền ghép lại, thi bơi trải.


Sáng 24 :buổi sáng hạ chải, buổi chiều cọ chải.
Ngày 25: Bơi lấy giải. Địa điểm xuất phát từ đình 3 làng (Hạc Đình – Bố thôn và Đa thôn) về miếu làng Trống (Me Trống thuộc xã Việt Xuân) vào buổi sáng.
Chiều 25: Bơi trình thuyền (lễ rước sông nước) sang gò cội Nụ giữa cánh đồng trước cửa đình 3 làng.
Sáng 26: Cọ chảiCả 3 làng, mỗi làng có một chải là một thuyền hình rồng bằng gỗ chò dài 20 mét, rộng 2,2 mét, đầu và đuôi sơn đỏ, thân giữa sơn màu đen. Mũi chải có 40 người, một đứng đầu chải cầm cờ đỏ làm hiệu, 1 người bẻ lái và 38 tay bơi.


Chải làng Đình bao giờ cũng thắng cuộc. Câu ca của dân địa phương là:


“Chải làng Đình rập rình đi trước.


Chải làng Vó chịu khó đi sau


Chải làng Da bơi la bơi liệt”


Đó cũng là thứ tự của cuộc thi tài mùa bơi chải.
Đăng bởi

Nghĩ ngơi thân và tâm

Tôi đi từ cụm từ“thư xả” để bắt đầu cho buổi nói chuyện về thiền định và thiền tuệ hôm nay. Tôi sẽ nói đơn giản thôi. Đơn giản với ngôn ngữ đời thường cho ai cũng nghe được, hiểu được. Và ai cũng có thể thực hành được. Tôi sẽ tự giới hạn không sử dụng thuật ngữ Phật học hay thiền học vì nó phức tạp lắm, nhất là đối với những người không phải là Phật tử lâu năm, hoặc không phải là hành giả trong một lớp thiền nào đó.

Thư xả là nghỉ ngơi toàn bộ thân và tâm, nghĩa là thân phải thư giãn, tâm phải buông xả. Tại sao thân tâm phải thư giãn, buông xả?

Trước tiên, chúng ta phải hiểu thư giãn là gì, buông xả là gì?

Thư giãn thuộc về thân, các bạn nhớ cho như vậy.

Thư giãn, nói cho dễ hiểu là “duỗi cho giãn ra”. Cái thân của chúng ta làm việc nhiều quá, các cơ bắp đều đã đờ cứng, thần kinh (thuộc thân) căng thẳng nên sinh ra mệt mỏi, lừ đừ, đờ đẫn; ngoài ra nó còn làm cho ta trằn trọc, thao thức không ngủ được; và những biến chứng về tim mạch cũng từ đó mà phát sanh. Vậy, việc làm đầu tiên là chúng ta phải duỗi cho giãn ra tất cả mọi đờ cứng của cơ bắp làm cho nó trở về trạng thái cũ, là hình thức nghỉ ngơi của thân đó.

Nói thư giãn nhưng không phải là “cố ý” thư giãn. Khi cố ý thư giãn là chúng ta khởi một “chủ ý” bắt thân phải phục tùng. Đây là thói quen của bản ngã có từ vô lượng kiếp của con người, nhất là từ khi chúng ta tiếp thu văn hóa, tư tưởng, ngôn ngữ Tây Phương – bao giờ cũng có một cái tôi, cái ta, một cái ngã để giao lưu, đối thoại, làm việc, kể cả lúc ta muốn cho cái thân được nghỉ ngơi. Và khi khi ngơi, chúng ta cũng quen nói là sẽ có “phương pháp” làm cho nó nghỉ ngơi.

Không phải vậy, thưa các bạn. Cái “thân tôi” nghỉ ngơi đã trật, mà “phương pháp” nghỉ ngơi lại càng trật luôn. Ta lại muốn “tham dự” vào sự vận hành tự nhiên của pháp giới. Trong trường hợp này, muốn nghỉ ngơi thật sự ta hãy nằm xuống, như xác chết, và xác chết thì không có cái tôi nào, cái ý thức nào xen dự vào đấy cả. Nó tương tự như thế savasana (xác chết) trong hattha-yoga, là buông lỏng thân như một xác chết thì bạn có thể phục hồi rất nhanh tất cả những năng lực đã bị mất đi. Đây mới chính là “nguyên lý” trả thân lại cho thân, cách nói khác của “chánh niệm” rốt ráo. Chánh niệm rốt ráo chính là chánh niệm ở thế giới paramattha, đơn giản là thân chỉ “thả xuống”, để yên như nó là… chứ không phải niệm cái này, niệm cái kia!

Sau khi thư giãn về thân rồi, chúng ta mới quay sang buông xả.

Buông xả thuộc về tâm, các bạn nhớ cho như vậy.

Cũng tương tự như cái thân, cái tâm của chúng ta do suy nghĩ nhiều quá, lo âu nhiều quá… mà sinh ra căng thẳng như sợi dây đàn. Nếu căng thẳng đúng độ, âm thanh sẽ cao vút, nhưng căng quá độ nó sẽ đứt tung luôn! Và ta cũng bị đứt tung luôn như vậy! Hãy để cho cái tâm được nghỉ ngơi, được tịnh dưỡng, các bạn ạ. Nó đã làm việc quá nhiều, đã hết công suất: Chuyện công việc làm ăn ngày càng khó khăn. Chuyện con cái cứng đầu khó dạy, không chịu học, cứ mải ham chơi… Chuyện vật giá leo thang. Chuyện bệnh tật, ốm đau. Chuyện nhà, chuyện cửa, chuyện chợ búa, bếp núc… Chuyện bên nội, bên ngoại.

Chuyện thế gian, thế giới, chuyện chiến tranh, chuyện khủng bố, chuyện ô nhiễm môi trường, chuyện đạo đức băng hoại… Rồi đêm nằm ngủ nữa, có yên đâu. Ý tưởng, tâm niệm, lo nghĩ cứ lăng xăng trong đầu. Các bệnh về tâm lý, stress là triệu chứng bệnh lý phổ thông của thời đại. Thân bị căng mà tâm cũng bị căng. Tôi nhớ có vị thiền sư đã đưa ra ví dụ rất chính xác về một sợi dây thun căng thẳng, và chúng ta đều như thế đó! Sợi dây thun nếu căng trong chừng mực nào đó, trong một thời gian nào đó thì nó còn có khả năng trở lại trạng thái ban đầu. Nhưng nếu nó căng mãi, căng hoài, ngày này sang ngày nọ, thì sợi giây thun kia không thể trở lại trạng thái ban đầu được nữa. Nó liệt rồi. Coi chừng chúng ta cũng bị liệt như thế.

Sợi lò xo trên cái cân cũng vậy, cứ cân mãi, cân hoài, không cho nó nghỉ – thì nó cũng bị liệt luôn, không thể trở về số không được nữa! Tâm buông xả cũng tương tợ vậy. Suốt tháng, suốt năm, quý vị có cho nó nghỉ ngơi đâu? Ban đêm quý vị cũng không cho nó nghỉ, cứ mộng tưởng, vọng tưởng, hồi ức chuyện này, chuyện kia lung tung… Vậy, buông xả là để cho cái tâm được thật sự nghỉ ngơi. Phải để cho cái tâm được như phòng không, nhà trống, rỗng rang, vắng lặng. Nói đơn giản vậy chớ khó lắm đấy. Khi nói buông xả, chúng ta lại suy nghĩ, hãy buông xả nghe, hãy để cho tâm rỗng rang nghe… Đấy, đấy, mới đó mà quý vị lại suy nghĩ rồi, lại lầm thầm trong đầu rồi! Cái tôi, cái ta của chúng ta lại muốn xen dự vào đấy nữa. Tuy nhiên, vấn đề không đến nổi tệ lắm đâu. Hãy nương nơi hơi thở, cứ tập lắng nghe hơi thở một hồi, và đừng làm gì cả, rồi từ từ cái tâm sẽ yên, sẽ lặng, sẽ rỗng không ngay.

Vậy, để cho cái thân nghỉ ngơi, cái tâm nghỉ ngơi thì được gọi là thư giãn, buông xả. Là bài học thực tập đầu tiên cần thiết cho tất cả chúng ta, cho tất cả mọi người đang sống trong xã hội có quá nhiều vấn đề bức xúc, cạnh tranh khốc liệt như đang diễn ra mọi nơi, mọi chỗ khắp trên thế giới bởi nền văn minh vật chất thực dụng này.

Ngày nay nhân loại đã tiến bộ quá, văn minh quá, tiện nghi vật chất phong phú quá. Khoa học, kỹ thuật và những công nghệ thông tin càng tăng tốc thì trái đất càng ô nhiễm, càng phá vỡ sự cân bằng sinh thái – đem đến biết bao nhiêu tật bệnh, động đất, sóng thần, bão lụt, cháy rừng, vi trùng, vi khuẩn… đe dọa mạng sống con người và những đau khổ về tâm lý. Nền văn minh trục vật ấy, có cái lợi rất lớn mà cái hại cũng không kém gì! Và điều rõ ràng nhất – xã hội tăng tốc thì con người cũng tăng tốc. Tăng tốc để làm giàu, tăng tốc để hưởng thụ, tăng tốc mọi khả năng kèn cựa, áp đảo, giật giành, đấu đá… trong những cuộc chạy đua chưa có hồi chung cuộc. Chạy đua cho đến bạc tóc, chạy đua cho đến nấm mồ! Trong tình huống đó, dĩ nhiên mọi người, ai cũng bị lôi cuốn vào giữa dòng xoáy tất yếu, vào giữa cơn lốc chóng mặt, quay cuồng của hơn thua, thành bại, được lợi, mất lợi, được danh, mất danh, buồn vui, khổ lạc… huyễn hóa, bọt bèo; để rồi, không biết có ai bất chợt nhìn thấy, rằng là lúc này, sao mình làm việc gì cũng hấp tấp, vội vã, khẩn trương? Tính khí thì tại sao lại sớm nắng, chiều mưa, lúc nóng, lúc lạnh thất thường như thế? Tại sao, bây giờ mình hay nổi nóng, cay cú, giận giữ, căng thẳng “điên cái đầu” đến thế?

Nó đã đến rồi đấy! Chúng nó đã đến rồi đấy! Những bóng ma bất thực, ảo hóa chập chờn, nhưng nó có khả năng bóp méo hoặc chi phối toàn vẹn đời sống tâm-sinh-vật-lý của chúng ta. Đấy là những dấu hiệu rối loạn tâm lý nội tại, nếu không được trị liệu thì nó sẽ dẫn đến biến chứng của sự thác loạn thần kinh não bộ. Thât may mắn thay cho ai đã nhìn thấy nó, thấy để tu tập, để tu thiền định và thiền tuệ, để trở lại sự an bình cho cái thân, cái tâm đã quá nhiều bệnh tật và thống khổ này!

Thưa các bạn,

Chính khi nó đang xẩy ra, đang căng thẳng, đang bức xúc, bất an ấy – chúng ta đừng nôn nóng, vội vã tìm cách giải quyết nhé! Tuyệt đối không! Không làm gì cả! Hãy bình tĩnh thử nào! Hãy tịnh định và thở vài hơi thở thử xem! Lăng xăng tìm cách giải quyết thì vấn đề càng trầm trọng, căng thẳng thêm mà thôi. Là thêm dầu vào lửa đấy! Những lúc như vậy, hãy thở thôi, và hãy cứ thư giãn, buông xả như cách mà chúng ta đã biết. Đơn giản là chúng ta chỉ cần cho phép thân tâm mình được hoàn toàn nghỉ ngơi – nghỉ ngơi thật sự, nghỉ ngơi đúng nghĩa của “sự thực” nghỉ ngơi – dù chỉ một lát thôi; nghĩa là, đừng gắng gượng, đừng ức chế, đừng cố bắt nó đứng yên, đừng bắt nó phải như thế này hoặc như thế kia – mà phải để cho nó thật thoải mái, tự nhiên, như nhiên vậy.

Tại chỗ này, chúng ta sẽ quan sát một ly nước. Ta cầm ly nước trong hai tay, và thầm nói rằng: Tôi sẽ cố giữ cho ly nước đứng yên và mặt nước không dao động! Nhưng dù tôi cố gắng thế nào thì mặt nước vẫn vị chao nhẹ, gợn lăn tăn! Bây giờ, bạn hãy đặt ly nước xuống bàn, và quan sát nó, một hồi là mặt nước đứng yên, lặng ngay. Cái thân tâm ta cũng vậy, để cho nó yên, đừng làm gì cả, thì nó sẽ tự động yên như ly nước đặt trên bàn! Để cho thân thư giãn, buông lỏng toàn thể cái thân, như xác chết, không làm gì cả; để cho tâm bạn buông xả mọi bận rộn, phức tạp, đa đoan trong những lo âu, tính toán đời thường – cũng không làm gì cả! “Điềm đạm vô vi, chân khí tùng chi” là nguyên lý cao nhất của y đạo Đông phương đấy!

Nói tóm lại, thư giãn buông xả nghỉ ngơi hoàn toàn, nghỉ ngơi cả thân lẫn tâm – là điều kiện tất yếu không thể bỏ qua trong bất kỳ tâm thái thiền nào. Nó là cái gốc, cái nguồn cho thân tâm được phục hồi sức khỏe, lấy lại sinh lực đã bị tiêu hao – mà thiếu nó thì mọi nỗ lực đi sau đều như xây lâu đài trên cát. Rất nhiều người xem thường yếu tố cơ bản này, họ quyết tâm đi thẳng vào thiền định, thiền tuệ hay tham công án, tưởng sẽ có kết quả nhanh; nhưng hãy coi chừng: Càng mong kết quả nhanh chừng nào lại càng phản tác dụng ngay chừng đó! Thực ra, tự thân sự thư giãn, buông xả đã mang lại nhiều kết quả lớn lao giúp cho thân tâm ta được ổn định; và cũng từ đó, nó giải quyết vấn đề phiền não nội tâm hay phiền não từ thế giới xung quanh mang lại rất hiệu quả.

Vậy thì, sau khi thư giãn, buông xả rồi, các bạn sẽ dễ dàng đi vào các đề mục thiền nào tùy ý. Hãy không nói đến những đề mục phức tạp khác, chỉ nói đến hơi thở, cái hơi thở vốn là sự sống của chúng ta mà chúng ta ít có thì giờ xem, nghe nó thở ra sao! Bạn chỉ cần ngồi và nghe nó thở, nó thở ra sao, ngắn dài cứ kệ nó. Chỉ nghe và xem một cách khách quan, trung thực. Đừng triết luận, đừng giảng giải; nghĩa là đừng xen tâm trí vào đấy! Các bạn có làm được như vậy không? Cứ ghi nhận và an trú tâm vào đó. Chỉ cần chuyên nhất, lắng nghe không xao lãng. Thế rồi, chuyện gì xẩy ra? Sự an lạc nó sẽ đến với bạn! Nó đến như một định luật tự nhiên của tâm và pháp. Chẳng có huyền nhiệm và phép lạ nào ở đây. Thân yên lặng, ổn định thì tâm yên lặng, ổn định. Tâm yên lặng, ổn định thì an lạc, hạnh phúc nó sẽ đến cho thân tâm ấy. Nó xẩy ra tự nhiên như những định luật của trời đất. Đấy là cả một nghệ thuật. Thiền là cả một nghệ thuật, phải nắm chắc nghệ thuật ấy để mang đến sức khỏe cho tâm linh, để sống một cuộc đời có ý nghĩa và rỗng không phiền não. Ngoài ra, có người không muốn nghe hơi thở mà chỉ muốn nhìn ngắm xung quanh. Cũng được thôi. Xung quanh chúng ta có vô vàn đề mục, vô vàn đối tượng. Nó có thể là một bông hoa đỏ, một ô cửa trống, một làn mây bay… và còn nữa, một dòng sông lặng, một chậu cây, một ánh trăng bên hiên… Và khi ấy, bạn cứ nhìn vậy thôi, thanh thản và tự nhiên như đang đọc một quyển sách, đang thưởng ngoạn một tác phẩm nghệ thuật – đừng để tâm lang thang đi đâu cả, thì tham ưu và phiền não sẽ không tác duyên được. Các bạn hãy cố gắng thực tập thiền ấy trong đời sống thường nhật. Như khi lái xe, khi đọc sách, khi viết email, khi nấu ăn, khi rửa chén bát…Và những khi như vậy, cái gì đang xẩy ra, đang diễn ra, đang tác động đến thân, bạn cũng phải biết lắng nghe, quan sát một cách trung thực. Cụ thể là những đau, nhức, tê, ngứa, nóng, lạnh… Rồi còn những khó chịu, bực bội, nóng nảy, dễ chịu, thích thú… gì đó ở nơi tâm, cũng phải được lắng nghe, ghi nhận… Nghĩa là đừng bỏ quên bất cứ một cảm giác nào xẩy ra ở nơi thân và nơi tâm. Và đấy được gọi là thiền, có đầy đủ định tuệ ở trong, nó không hai. Và thiền này là của chúng ta, không ở bất kỳ một trường phái nào, nhưng nó là Tứ Niệm Xứ đó vậy.

Và cuối cùng, ai thực hành được thì mọi khổ ưu trên đời này chỉ là những giọt nước nó trượt trên lá sen, tâm trí ta không dính.

Rốt lại, chỉ có một từ “xả”, thưa các bạn!

Chỉ cần “xả” là “đáo bỉ ngạn” tức khắc, ngay tại đây và bây giờ!

Mong vậy thay,

MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH

Đăng bởi

Văn khấn, sắm lễ khi tảo mộ tiết Thanh minh như thế nào?

Ông bà ta xưa chọn Tiết Thanh Minh là ngày cắt cỏ trên mộ và đắp đất lên mộ (tảo mộ). Vì ngày này thời tiết chuyển sang ấm dần, mưa nhiều hơn, cây cỏ tốt hơn trùm lên mộ, có thể làm mộ sụt lở nên cần phải cắt cỏ, đắp thêm đất lên mộ. Nhân lúc đi Thanh Minh tảo mộ, để tưởng nhớ tổ tiên, người thân đã khuất, mọi người có thể dạo chơi ngắm cảnh cỏ cây tươi tốt, nên còn gọi là Đạp Thanh. Nguyễn Du có câu:


Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh
Công việc chính của lễ tảo mộ là sửa sang các ngôi mộ của tổ tiên cho được sạch sẽ. Người ta mang theo xẻng, cuốc để đắp lại nấm mồ cho đầy đặn, rẫy hết cỏ dại và những cây hoang mọc trùm lên mộ cũng như tránh không để cho các loài động vật hoang dã như rắn, chuột đào hang, làm tổ mà theo suy nghĩ của họ là có thể phạm tới linh hồn người đã khuất.
Ảnh minh họa: Internet
Sau đó, người tảo mộ thắp vài nén hương, đốt vàng mã hoặc đặt thêm bó hoa cho linh hồn người đã khuất.
Trong những ngày này, khu nghĩa địa trở nên đông đúc và nhộn nhịp. Các cụ già thì lo khấn vái tổ tiên nơi phần mộ. Trẻ em cũng được theo cha mẹ hay ông bà đi tảo mộ, trước là để biết dần những ngôi mộ của gia tiên, sau là để tập cho chúng sự kính trọng tổ tiên qua tục viếng mộ. Những người quanh năm đi làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này (có thể sớm hơn một, hai ngày vì nhiều lý do khác nhau) để tảo mộ gia tiên và sum họp với gia đình.
Bên cạnh những ngôi mộ được trông nom, chăm sóc cẩn thận, còn có những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng. Những người đi viếng mộ thường cũng cắm cho các ngôi mộ này một nén hương.
Cách sắm lễ tảo mộ tiết Thanh minh:
Lễ trong tiết Thanh Minh gồm có: hương đèn, trầu cau, tiền vàng, rượu thịt (chân giò, gà luộc hoặc một khoanh giò nạc độ vài lạng), hoa quả.
Khi đến nghĩa trang hay khu vực có để mộ phần của gia đình mình thì gia chủ đặt lễ vào chỗ thờ chung. Sau đó thắp đèn, nhang, vái ba vái vị Linh thần Thổ địa rồi khấn.
Bài văn khấn Lễ âm phần long mạch, sơn thần thổ phủ
Văn khấn lễ âm phần Long Mạch, Sơn thần thổ phủ nơi mộ
Nam mô a di Đà Phật
– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần:
– Con kính lạy các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.
Hôm nay là ngày: …………………………………………………
Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….
Nhân tiết Thanh minh (hoặc là nhân tiết thu, tiết đông, hoặc nhân ngày lành tháng tốt.. .) tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước án, kính mời chư vị Tôn thần lai lâm chiếu giám.
Gia đình chúng con có ngôi mộ của…………………..
Táng tại xứ này, nay muốn sửa sang xây đắp (hoặc tảo mộ, bốc mộ…) vì vậy chúng con xin kính cáo các đấng Thần linh, Thổ công, Thổ phủ Long Mạch, Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ và Chư vị Tôn thần cai quản trong khu vực này, chúng con kính mời các vị chư Thần về đây chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho vong linh được an nhàn yên ổn, siêu thoát. Cúi xin các vị phù hộ độ trì cho tín chủ chúng con toàn gia mạnh khỏe an bình, bốn mùa không tật ách, tám tiết hưởng thái bình.
Nam mô a di Đà Phật
Bài văn khấn Lễ vong linh ngoài mộ
Nếu viết văn khấn ra giấy thì đọc, xong hoá ngay cùng tiền vàng. Trong khi đợi tuần nhang thổ địa thì mọi người trong gia đình đi viếng thăm các ngôi mộ của gia đình mình, thắp lên mộ mấy nén. Đứng trước ngôi mộ và khấn:
Văn khấn lễ vong linh ngoài mộ
-Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương
-Con Kính lạy Hương linh………………(Hiển khảo, Hiển tỷ hoặc Tổ Khảo………….
Hôm nay là ngày. . ………….
Nhân tiết:………………………….
Tín chủ (chúng) con ……………………………
Ngụ tại:…………………….
Chúng con và tòan thể gia đình con cháu, nhờ công ơn võng cực, nền đức cao dầy, gây dựng cơ nghiệp của………….. chạnh lòng nghĩ đến âm phần ở nơi hoang vắng, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước mộ, kính mời chân linh……. . .. …….. . …. . . .lai lâm hiến hưởng. Chúng con xin phép được sửa sang phần mộ, bồi xa, bồi thổ, cho được dầy bền, tu sửa minh đường hậu quỷ cho thêm vững chắc. Nhờ ơn Phật Thánh phù trì, đội đức trời che đất chở, cảm niệm Thần linh phù độ, khiến cho được chữ bình an, âm siêu dương thái. Con cháu chúng con xin vì chân linh . . ……..Phát nguyện tích đức tu nhân, làm duyên, làm phúc cúng dâng Tin Bảo, giúp đỡ cô nhi quả phụ, tế bần cứu nạn, hiếu thuận tông nhân để lấy phúc này hướng về Tiên Tổ.
Cúi xin linh thiêng chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì con cháu, qua lại soi xét cửa nhà. Che tai cứu nạn, ban tài tiếp lộc, điều lành mang đến, điều dữ xua đi. Độ cho gia đạo hưng long, quế hờ tươi tốt, cháu con vinh hưởng lộc trời, già trẻ nhuần ơn Phật Thánh.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Sau khi khấn xong, đợi hết 2/3 tuần hương thì đi lễ tạ các nơi, hóa vàng, xin lộc và mọi người trở về nhà làm lễ gia thần và gia tiên ở nhà.
Đăng bởi

Sự khác nhau giữa Chùa, Đình, Đền, Phủ, Miếu, Quán trong phong tục Việt

Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt Nam có rất nhiều nơi thờ cúng khác nhau như Chùa, Đình, Đền, Phủ, Miếu, … Nhưng không phải ai cũng hiểu được ý nghĩa của những địa điểm thờ cúng đó.



Cho nên có rất nhiều người đi chùa mà không hiểu được ý nghĩa của việc đi chùa, ở gần nhà có cái đình mà cũng không hiểu vì sao cái đình lại “mọc” lên ở đó,…
Vì vậy, chúng tôi đã biên tập bài viết này để giúp bạn đọc dễ dàng phân biệt được các địa điểm thờ cúng khác nhau, hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng và những nhân vật được thờ cúng trong đó.
Chùa là gì?
 phan biet chua, dinh, den, phu, mieu, quan trong phong tuc viet hinh anh 1
Chùa Kim Liên tại Nghi Tàm, Quảng An, Tây Hồ, Hà Nội (Ảnh: Huyền Phương)
Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo, là nơi tập trung sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật của các nhà sư, tăng, ni. Mọi người kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, chiêm bái, vãn cảnh, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ Phật giáo.
Ở một số nơi, chùa cũng là nơi cất giữ xá lị và chôn cất các vị đại sư.
Đình là gì?
Đình là nơi thờ Thành hoàng của các làng, đồng thời là nơi hội họp, bàn việc của dân làng. Đình được coi là trung tâm sinh hoạt văn hóa gắn bó với một cộng đồng cư dân và mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam.
 phan biet chua, dinh, den, phu, mieu, quan trong phong tuc viet hinh anh 2
Đình làng Đình Bảng.
Thành hoàng là người có công với dân, với nước, lập làng, dựng ấp hay sáng lập nên một nghề (ông tổ của nghề). Dưới các triều vua thường có sắc phong cho Thành hoàng, vì hầu hết Thành hoàng đều có công với nước. Dân làng, hay phường hội đi lập nghiệp nơi khác cũng xây miếu, đền thờ Thành hoàng quê gốc của mình tại nơi ở mới.
Đền là gì?
Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị Thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng theo truyền thuyết dân gian.
 phan biet chua, dinh, den, phu, mieu, quan trong phong tuc viet hinh anh 3
Đền Kiếp Bạc.
Các đền nổi tiếng có thể kể đến ở nước ta như Đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Sóc, đền Trần… thờ các anh hùng dân tộc.
Đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Kim Liên, đền Quán Thánh… thờ các vị thánh theo truyền thuyết dân gian.
 phan biet chua, dinh, den, phu, mieu, quan trong phong tuc viet hinh anh 4
Đền Quan Thánh (Tây Hồ, Hà Nội) thờ vị thần Huyền Thiên Trấn Vũ. Theo truyền thuyết dân gian, thần Trấn Vũ để trấn giữ ở phía Bắc kinh thành Thăng Long xưa. (Ảnh: Huyền Phương)
XEM THÊM >> Cảnh sắc Tây Hồ xưa và nay
Miếu là gì?
Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có quy mô nhỏ hơn đền. Đối tượng được thờ ở miếu rất đa dạng, thể hiện ở tên gọi của miếu – tên gọi theo đối tượng được thờ thường phiếm chỉ và tượng trưng.
Ví dụ: miếu Cô, miếu Cậu, miếu thờ thần núi gọi chung là miếu Sơn thần, miếu thờ thần nước gọi là miếu Hà Bá hoặc miếu Thủy thần. Miếu thờ thần đất gọi là miếu thổ thần hoặc thần Hậu thổ.
Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị, không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân sinh. Ở một số nơi, trong các ngày giỗ thần như ngày sinh, ngày hóa (nhân thần), ngày hiện hóa (thiên thần) làng mở tế lễ, mở hội, nghinh rước thần từ miếu về đình. Tế lễ xong, lại rước thần về miếu yên vị.
Miếu nhỏ còn được gọi là Miễu (cách gọi của người miền Nam)
Nghè là gì?
Một hình thức của đền miếu, thờ thần thánh. Đây là kiến trúc thường có mối quan hệ chặt chẽ với một di tích trung tâm nào đó. Nghè có khi thờ thành hoàng làng ở làng nhỏ, được tách ra từ làng gốc như Nghè Hải Triều (Cẩm Giàng – Hải Dương).
Nghè cũng có thể là một ngôi đền nhỏ của một thần trong xã nhằm thích ứng với dân sở tại để tiện việc sinh hoạt tâm linh khi ngôi đền chính khó đáp ứng được nhu cầu thờ cúng thường nhật, như Nghè ở Trường Yên là một kiến trúc phụ của đền vua Đinh.
Hiện ngôi nghè cổ nhất được tìm thấy từ thế kỷ XVII.
Điện thờ là gì?
Điện là sảnh đường cao lớn, thường chỉ chỗ Vua Chúa ở, chỗ Thần Thánh ngự. Như vậy Điện thờ là một hình thức của Đền, là nơi thờ Thánh trong tín ngưỡng Tam tứ phủ. Tuy vậy quy mô của Điện nhỏ hơn Đền và Phủ, lớn hơn so với Miếu Thờ. Điện thông thường thờ Phật, thờ Mẫu, Công đồng Tam tứ phủ, Trần Triều và các vị thần nổi tiếng khác.
Điện có thể của cộng đồng hoặc tư nhân. Trên bàn thờ thường có ngai, bài vị, khám, tượng chư vị thánh thần và các đồ thờ khác: tam sơn, bát hương, cây nến, đài, lọ hoa, vàng mã,…
Phủ là gì?
Phủ là đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu (tín ngưỡng bản địa của người Việt Nam). Một số nơi thờ tự (ở Thanh Hóa) gọi đền là phủ. Có thể hiểu Phủ là nơi thờ tự Thánh Mẫu khá sầm uất, mang tính chất trung tâm của cả một vùng lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa phương, thu hút tín đồ khắp nơi đến hành hương (tương tự như chốn Tổ của sơn môn đạo Phật).
Ngôi phủ sớm nhất còn lại hiện biết là điện thờ các thần vũ nhân ở chùa Bút Tháp, có niên đại vào giữa thế kỷ XVII.
Quán là gì?
Quán là một dạng đền gắn với đạo Lão (Đạo giáo). Vào các thế kỷ XI và XIV đạo Lão ở Việt nặng xu hướng thần tiên nên điện thờ thực chất giống như một đền thờ thần thánh.
 phan biet chua, dinh, den, phu, mieu, quan trong phong tuc viet hinh anh 5
Bích Câu đạo quán.
Sang tới thế kỷ XVI và XVII, sự khủng hoảng của Nho giáo đã đẩy một số nhà Nho và một bộ phận dân chúng quan tâm nhiều tới Lão giáo, và điện thờ đạo Lão có nhiều sự phát triển mới, với việc thờ cúng các thần linh cơ bản theo Trung Hoa.
Đó là Tam thanh (Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Đạo Quân, Thái Thượng Lão Quân), Ngũ Nhạc mà nổi lên với Đông Phương Sóc và Tây Vương Mẫu, rồi Thánh Phụ, Thánh Mẫu. Cửu Diệu Tinh Quân (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Mặt Trời, Mặt Trăng, Hồ phủ, Kế đô) đồng thời trên chính điện cũng có cả tượng của Hoàng Quân giáo chủ (Ngọc Hoàng).
Có thể kể tới các quán điển hình như: Hưng Thánh Quán, Lâm Dương Quán, Hội Linh Quán, Linh Tiên Quán… đều ở Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). “Thăng Long Tứ quán” bao gồm: Chân Vũ quán (tức đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh); Huyền Thiên cổ quán (nay là chùa Quán Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai); Đồng Thiên quán (nay là chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành); Đế Thích quán (nay là chùa Vua ở phố Thịnh Yên).
Am là gì?
Hiện được coi là một kiến trúc nhỏ thờ Phật. Gốc của Am từ Trung Quốc, được mô tả như ngôi nhà nhỏ, lợp lá, dùng làm nơi ở của con cái chịu tang cha mẹ, về sau đổi kết cấu với mái tròn, lợp lá, làm nơi ở và nơi đọc sách của văn nhân. Từ đời Đường, Am là nơi tu hành và thờ Phật của ni cô đặt trong vườn tư gia.
Với người Việt, Am là nơi thờ Phật (Hương Hải am tức Chùa Thầy, Thọ Am tức Chùa Đậu – Hà Tây…) cũng có khi am là ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của xóm làng – Vào thế kỷ XV (thời Lê sơ) là nơi ở tĩnh mịch để đọc sách làm thơ của văn nhân. Miếu thờ thần linh ở các làng hoặc miếu cô hồn ở bãi tha ma cũng gọi là Am.
Đăng bởi

Những lễ hội truyền thống trong tháng 2 âm lịch

Lễ hội đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của nhân dân từ ngàn xưa cho tới nay. Đi chơi trong mùa lễ hội cũng là cách để đắm mình cảm nhận không khí náo nức, để  sống những khoảnh khắc quá khứ truyền thống được tái hiện sinh động.  Những lễ hội được tổ chức trong tháng 2 âm lịch






Hội Chùa Trầm (2/2 âm lịch): Chùa Trầm tọa lạc trên một diện tích chỉ trên dưới năm chục mét vuông trên núi Trầm (hay còn gọi là Tử Trầm Sơn), thuộc xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 25 km. Xưa kia toàn bộ khu núi Trầm là nơi vua Lê, chúa Trịnh đặt hành cung. Núi Tử Trầm có chùa Hang được xây dựng trong động Long Tiên dưới chân Tử Trầm Sơn với những pho tượng đá, văn bia khắc trên vách động, trống đá, khánh đá… ; có hang Long Tiên Động rất lớn và bàn thờ Phật bên trong. Ở đây có đường lên đỉnh núi gọi là đường lên Trời và đường xuống hang sâu gọi là đường xuống Âm phủ. Đứng trên đỉnh núi Trầm có thể nhìn thấy toàn cảnh vùng đất So Sở và các danh thắng kề cận như chùa Vô Vi, chùa Trăm Gian …
Chùa Trầm.


Lễ hội kén rể (2/2 âm lịch): Theo truyền thuyết, nữ tướng Lê Thị Hoa từng tham gia đánh thắng giặc Nam Hán và được Hai Bà Trưng sắc phong “Nữ sử anh phong”. Bà trở về làng cùng nhân dân lập ấp, phát triển canh nông. Để tưởng nhớ công lao của bà, hàng năm vào ngày 2/2, dân làng Đường Yên, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội lại tổ chức lễ hội kén rể với những nghi thức và trò chơi dân gian hết sức độc đáo để chọn rể tài hiền cho nữ tướng. Mở đầu là lễ vinh quy bái tổ của nữ tướng Lê Hoa. Sau phần lễ là màn trình diễn độc đáo của 2 chàng trai trong phần thi kén rể. Họ phải trổ tài kể vè, giới thiệu bản thân, cấy lúa, cày ruộng, câu ếch, bắt lợn, “chõng chó” (chọc cho chó sủa vang lên).

Các chàng rể thi tài tại lễ hội kén rể. Ảnh: KTĐT


Hội năm làng Mọc (9 – 11/2 âm lịch): Lễ hội lớn chung cho 5 làng Mọc (Mọc Quan Nhân, Mọc Chính Kinh, Mọc Cự Lộc, Mọc Giáp Nhất, Mọc Phùng Khoang, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội) nhộn nhịp tưng bừng (cứ 5 năm tổ chức lớn một lần). Vào chính hội (11/2), từ mờ sáng, kiệu, rồng, sư tử, bát bửu, chấp kích, cờ quạt, đội tế, đội dâng hương… đi theo nhịp trống, nhạc bát âm từ đình Phùng Khoang đến đình Giáp Nhất. Đoạn đường rước dài trên 3km, đi qua làng nào đoàn rước của làng đó ra đón mừng rồi nhập cuộc. Đoàn rước của năm làng nối tiếp nhau dài trên một cây số với một biển cờ, quạt, hương án, long đình, voi nan, ngựa gỗ… đội múa rồng, múa sư tử, ông thổ, ông địa phe phẩy quạt ở giữa. Trong hội có nhiều trò chơi: đánh vật, chọi gà, chơi cờ tướng, hát chèo…

Đình làng Mọc

Xưa dân làng Mọc chọn năm nào phong đăng hoà cốc, dân khang, vật thịnh sẽ làm giấy xin phép quan trên cho mở hội. Hội năm làng được tổ chức rất trọng thể với nhiều nghi thức, trò diễn hấp dẫn. Các già làng cho rằng lễ hội năm làng được tổ chức nhằm rước các Thánh du xuân và thưởng lãm cảnh quan năm làng; năm làng vẫn giữ qui ước, lệ như xưa là đến kỳ Đại hội Năm làng Mọc sẽ vẫn cùng nhau tổ chức Lễ hội và rước sách tế Thần cầu cho quốc thái dân an…

Lễ hội Nghinh Cô tại Dinh Cô (12/2 âm lịch): Địa điểm: Thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Ngày vía cô trở thành lễ hội lớn thu hút rất đông khách từ nhiều tỉnh thành khác đến. Các đội múa lân, dàn nhạc ngũ âm từ nhiều tỉnh Nam bộ đến góp vui. Các nghi lễ trong ngày hội: lễ cầu an tại chính điện vào đêm hôm trước. Bên ngoài diễn ra đêm hội hoa. Lễ rước vào sáng 12 trên hàng chục chiếc ghe thuyền trang hoàng lộng lẫy để cầu mong trời yên bể lặng, tôm cá đầy khoang.

Hội miếu Ông Địa (2/2 âm lịch): Miếu Ông Địa (125 đường Lê Lợi, phường 3, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh) được xây dựng từ đầu thế kỷ 19 và từng được vua Tự Đức sắc phong vào năm 1852. Hàng năm lễ hội diễn ra vào ngày 2/2 âm lịch là ngày vía Thổ địa Phúc Đức Chính Thần. Đây là lễ hội tiêu biểu cho các lễ hội miếu ở TP.HCM và Nam bộ với các nghi thức: “gióng trống khai trang” thông báo vào lễ, “mời trầu” bằng điệu hát bóng rỗi để thỉnh thần về dự lễ, diễn tuồng hài “Địa Nàng” với nhân vật ông Địa và nàng tiên mang nội dung phê phán thói hư tật xấu trong xã hội hương thôn xưa. Sau đó là màn diễn múa mâm vàng, mâm bạc và múa đồ chơi do các nghệ nhân dân gian trình diễn. Kết thúc hội là nghi thức phát lộc.

Lễ Kỳ Yên đình Bình Đông (10 – 14/2 âm lịch): Đình Bình Đông nằm trên bờ rạch Bà Tàng thuộc Phường 7, quận 8, TP. Hồ Chí Minh, là một trong hai ngôi đình có lượng khách tham quan, lễ bái đông nhất thành phố. Lễ Kỳ Yên gồm có: lễ cúng tiên sư tưởng nhớ những bậc thầy dạy nghề trong thôn, lễ tụng kinh cầu an theo nghi thức Phật giáo, hoàn sắc, lễ tế thần, lễ tế tiền hiền, hậu hiền những thế hệ khai hoang lập ấp và xây dựng các công trình phúc lợi cho thôn làng. Có hát bội cúng thần.

Lễ hội Tây Thiên (15-17/2 âm lịch): Tây Thiên là nơi thờ Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu, người được Hùng Chiêu Vương thứ 7 lập làm Chính Vương Phi, có công giúp vua dẹp giặc, mở mang bờ cõi, thống nhất giang sơn, dạy dân trồng lúa, giữ lửa trong buổi bình minh của dân tộc. Xong công việc, bà lại trở về quê hương tại thôn Đông Lộ, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo ngày nay, rồi “hóa” tại đây. Lễ hội được tổ chức ba ngày với phần tế lễ và nhiều trò chơi dân gian như thi hát dân ca của người dân tộc thiểu số Sán Dìu, thi nấu cơm, thi hú đáo, làm bánh chưng, bánh dày, kéo co, chọi gà… Nơi đây cũng vừa xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm lớn nhất cả nước, cùng với cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ vẫn còn giữ nguyên vẻ nguyên sơ, quanh năm có mây mù, thông reo, chim hót.
Lễ hội Tây Thiên. Ảnh: VietNamNet


Lễ hội Quán Thế Âm (19 đến 21 tháng 2 âm lịch): Lễ hội diễn ra tại chùa Quán Thế Âm trong quần thể Khu danh thắng Ngũ Hành Sơn. Lễ hội bao gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ mang màu sắc lễ nghi Phật giáo với các lễ dâng hoa, lễ rước ánh sáng, cầu nguyện, thuyết giảng về Bồ Tát Quán Thế Âm và đại nguyện của ngài, lễ rước tượng Quan Thế Âm. Phần hội bao gồm nhiều sinh hoạt văn hoá mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc như hội hoá trang, hát dân ca, thi cờ, nhạc, hoạ, điêu khắc, múa tứ linh, thả đèn trên sông, hát tuồng…



Lễ hội Quán Thế Âm năm nào cũng nườm nượp du khách.


le hoi
Lễ hội tháng 2

LỄ HỘI ĐÌNH YÊN PHỤ

Đình Yên Phụ (Tây Hồ) nằm trong làng Yên Phụ, là một làng cổ ở trên bán đảo nhô ra Hồ Tây. Trước đây đình ở 66 Phó Đức Chính, gọi là An Trì, thờ Uy Linh Lang Đại vương. Khi thực dân Pháp sang xâm lược, đình bị biến thành trường tiểu học Yên Phụ. Theo sử sách, ở các vùng lân cận Hà Nội có tới 72 nơi thờ Uy Linh Lang. Theo truyền thuyết, Uy Linh Lang là con vua Trần Thánh Tông( trị vì từ 1258 – 1278). Ngài là một anh hùng chống quân Nguyên, có ngày Ngài đánh giặc tới 8 trận ở chiến trường khác nhau. Bởi vậy, những nơi ngài đi qua nhân dân còn nhớ và lập đình thờ phong Thành Hoàng làng. Cũng bởi vậy, không chỉ riêng đình Yên Phụ mà ở các nơi thờ Uy Linh Lang đều tổ chức lễ hội vào 10 – 2 âm lịch hàng năm. Riêng đình Yên Phụ còn là nơi Uy Linh Lang từng ngồi làm việc nước. Dân làng Yên Phụ luôn tin vào sự phù trợ của Uy Linh Lang trong việc phát triển kinh tế. Hàng năm, dân cầu xin ngài đắp phù trợ để đắp đê được thuận lợi. Để tỏ lòng biết ơn, dân vùng này kiêng nói chữ “Lang” (khoai lang gọi là khoai dây).
xem ngay tot xau
Lễ hội Đình Yên Phụ
Lễ hội đình Yên Phụ trang nghiêm và là một nét đẹp văn hoá truyền thống của Hà Nội cần được duy trì giữ gìn. Năm 2006, từ tiền công đức và đóng góp của nhân dân phường Yên Phụ và khách thập phương, đình Yên Phụ đã được trùng tu rất tỉ mỉ, nhưng vẫn giữ được toàn vẹn cấu trúc cổ xưa. Đình Yên Phụ thâm u, bền vững, nằm bên Hồ Tây, chắc chắn sẽ là nơi linh thiêng, gìn giữ nét văn hoá nghìn năm Thăng Long – Hà Nội.

LỄ HỘI MIẾU MẠCH LŨNG

Trong suốt 3 ngày diễn ra LE HOI (tức ngày 10 -12/2 âm lịch), hàng nghìn người dân huyện Đông Anh (Hà Nội) cùng du khách thập phương đã kéo về miếu Mạch Lũng làm lễ dâng hương và dự lễ hộicủa làng. Hàng chục xe ô tô và hàng trăm xe gắn máy chạy dọc đường dẫn lên gò miếu.
Miếu Mạch Lũng (trước còn có tên là Lũng Trang) tọa ngự trên gò đất cao rộng trên 30.000m2 thuộc thôn Mạch Lũng, xã Đại Mạch, huyện Đông Anh, Hà Nội – dải đất cổ bên triền sông Hồng có bề dày lịch sử hàng ngàn năm. Lễ hội Miếu Mạch Lũng được tổ chức trong 3 ngày từ 10 đến 12/2 âm lịch hàng năm, tại xã Đại Mạch, huyện Đông Anh. Miếu Mạch Lũng là di tích lịch sử thờ ba vị anh hùng dân tộc thời Hùng Vương thứ 18.
Trong suốt 3 ngày diễn ra le hoi, các đoàn đại diện cho các tổ đội sản xuất, nhóm đồng niên, đông ngũ, đồng môn…và các gia đình lần lượt mang lễ lên miếu làm lễ dâng hương. Những gia đình làm ăn khá giả có thể dâng đến 5 mâm lớn với thủ lợn, xôi, gà, trầu cau, bánh cốm…và những gia đình nghèo nhất cũng thể hiện lòng thành với đĩa xôi, khoanh thịt. Tất cả các việc đại sự trong các gia đình như hiếu, hỉ, xây nhà…đều phải dừng lại để tập trung cho ngày Thánh.
Cùng với các nghi lễ truyền thống trong lễ hội này như tế nam, tế nữ, tế cáo, rước kiệu, lễ hội làng Mạch Lũng còn có nhiều hoạt động văn hóa dân gian như: chọi gà, cờ tướng, bịt mắt đập niêu, hát quan họ… thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia.
Đăng bởi

Cô Bé Suối Ngang

   Cô bé Suối Ngang được thờ ở Đền Suối Ngang, xã Phố Vị, Hữu Lũng, Lạng Sơn. Đền Suối Ngang còn gọi là Đền Cô Bé Suối Ngang nằm gần khu tâm linh Bắc Lệ. Đường đến Đền Cô Bé Suối Ngang rất dễ đi, hoàn toàn đi bằng xe ô tô đến tận sân đền. Nếu có dịp đi lễ đền Bắc Lệ, chúng ta nên ghé vào thắp hương đền cô để xin cầu, tài, cầu lộc. 

 

 Đền Cô bé Suối Ngang đã có từ rất lâu, không rõ từ thời nào. Đền Cô đã nhiều lần trùng tu nên đã tố hảo hơn rất nhiều. Tuy nhiên, vẫn giữ được nhiều nét cổ. Đây được coi là một ngôi đền đẹp và linh thiêng.

 Cô Bé Suối Ngang cũng như các cô bé khác trên ngàn đều là Cô bé Thượng Ngàn – chính là cô út trong Tứ Phủ Thánh Cô và đều hầu Mẫu Thượng Ngàn. Các cô bé Thượng Ngàn đều là các bộ nàng trong Cung Sơn Trang.

 Nơi đây là nơi hầu lý tưởng với các thanh đồng sắt căn của Cô bé Thượng Ngàn.

Đăng bởi

Tết của người Mông ở Mèo Vạc, Hà Giang .

Các cô gái, chàng trai trong những bộ trang phục rự rỡ đón Tết

Tết của người Mông ở xã Cán Chu Phìn của  huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang đến sớm hơn Tết nguyên đán khoảng 1 tháng. Người Mông đón Tết từ ngày 26/11 âm lịch và kéo dài trong 10 ngày. Thời gian này, người Mông không đi nương mà cùng nhau vui văn nghệ hát, múa, ném còn, hát đối giao duyên. Trong không khí rộn rã của tiếng khèn, tiếng chiêng, từng đoàn người, từ các cụ già đến các em nhỏ xúng xính trong những bộ áo, váy mới đi chơi Tết.


Những ngày cuối năm, ở xã Cán Chu Phìn, các gia đình người Mông tất bật chuẩn bị đón Tết của dân tộc mình. Cả năm làm ăn vất vả, vật lộn mưu sinh, Tết đến, người Mông dành hẳn 10 ngày để nghỉ ngơi.  Gia đình phải chuẩn bị từ 10 ngày trước. Từ ngày 20 tháng 11 âm lịch phải chuẩn bị rau cho bò, lợn, củi đun. Còn trước Tết một tuần thì đi chợ mua quà, quần áo mới. vì ngày Tết cả trẻ con và thanh niên trai gái khi đi chơi đều mặc quần áo mới của dân tộc mình”.

Không khí Tết rộn ràng nhất là ở chợ phiên cuối tuần. Chợ phiên vốn đã đông  nhưng đến với phiên chợ giáp Tết thì kẻ mua, người bán đổ về dường như không còn chỗ chen chân. Tất cả các quầy hàng đều chật kín người. Các món hàng được người Mông mua nhiều như quần áo, thịt lợn, mắm, muối, đường, vàng hương. Họ quan niệm cả năm có tiết kiệm thì Tết đến cũng phải sắm sửa đầy đủ mọi thứ dù là ít để làm lễ cúng mời tổ tiên. Tết thì trong gia đình mỗi người phải có quần áo mới. Vì vậy chờ đến phiên chợ giáp Tết, các bà, các mẹ mới tranh thủ sắm quần áo cho các thành viên trong gia đình. Số lượng hàng bán trong phiên giáp Tết thường phải gấp đôi phiên chợ thường. Trung bình một người mua 1 đến 2 bộ để mặc ngày Tết. Bà con mặc đẹp và rực rỡ, và luôn sắm cái mới. Dịp Tết mua nhiều hơn ngày thường vì lúc đó mới dành tiền để đi mua. Họ phải thử đi thử lại vừa và đẹp mới mua. Mẫu thay đổi, cứ có vải gì mới thì mang ra bán” – anh Tú nói.
Những mặt hàng cần thiết để dùng trong 10 ngày Tết đã được mang về nhà, lúc này mỗi gia đình tập trung dọn dẹp nhà cửa, vườn tược sạch sẽ. Đồ dùng trong nhà được lau chùi, sắp xếp ngăn nắp. Theo phong tục của dân tộc Mông, không chỉ có con người được nghỉ Tết mà các đồ vật phục vụ lao động, sinh hoạt cũng được nghỉ bằng cách được niêm phong. Đồ dùng như cày cuốc, dao, xẻng cũng được nghỉ vì nó đã giúp mình làm việc trong một năm rồi nên Tết cũng được nghỉ. Tôn trọng đồ đã lao động chung tay với con người,tất cả những thứ liên quan tới con người vào tối 30 đều được dán giấy. Cả xe máy cũng dán, những đồ cùng mình đi lao động trong một năm qua. 
Tết của người Mông, có ba món không thể thiếu là thịt, rượu và bánh ngô. Đêm 30 Tết, nhà nào cũng làm lễ cúng tổ tiên bằng một con lợn, một con gà trống còn sống để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cầu cho các thành viên trong gia đình khỏe mạnh, ai cũng đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Sáng sớm mùng 1 Tết, việc làm đầu tiên của người Mông là ra chuồng bò, lợn, gà gọi linh hồn của chúng về ăn Tết cùng với gia đình. Thức ăn cho các con vật trong nhà đều được làm mới như râu cho bò thì sáng ra mới thái, cám cho lợn thì cũng vừa nấu xong. Năm cũ qua đi năm mới đã về, trân trọng kính mời linh hồn của những con bò, trâu, gà, lợn mà đang đi lạc ở đâu đó xa xôi thì về ăn bữa cơm mới, bữa thức ăn mới đầu tiên thì phải  thái mới từ sáng chứ không thái từ hôm tước. con lợn thì ăn cám nấu mới, con gà về chuồng ăn chung thức ăn mới của ngày Tết
Người Mông rất hiếu khách. Họ quan niệm ngày Tết mà có nhiều anh em, bạn bè đến cùng ăn Tết và chúc nhau những điều tốt đẹp là năm đó gia chủ làm ăn sẽ có thêm nhiều tài lộc. Tết cũng là dịp để các chàng trai, cô gái người Mông có cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu và cũng từ đây nhiều đôi đã nên vợ thành chồng. 


Đăng bởi

Mẹo nhỏ thú vị làm đồ trang trí từ bóng đèn tròn

Dưới đây là 2 mẹo hay và nhanh với hướng dẫn chi tiết để bạn thực hiện các ý tưởng trang trí với bóng đèn!
1. Làm lọ hoa 
Chuẩn bị: 
+ 1 bóng đèn hỏng (kích cỡ bất kỳ)
+ Kìm
+ Kính bảo hộ 
+ Hoa tươi hoặc hoa giả

Thực hiện:
+ Dùng kìm bóc phần giấy bạc ở cuống bóng đèn.
+ Tiếp đó, đeo kính bảo hộ để đảm bảo an toàn cho mắt và lấy phần cuống đèn màu đen ra khỏi bóng đèn.
+ Tiếp tục dùng kìm để loại bỏ phần dây điện và ruột bóng đèn ở bên trong ra ngoài, chú ý làm nhẹ nhàng để bóng không bị vỡ.
+ Giờ bạn có một chiếc bóng đèn rỗng, hãy trang trí bóng đèn theo cách riêng của bạn, đổ nước vào bên trong và cắm hoa vào trong lọ mới tự chế.
2. Làm quả lê 
Chuẩn bị: 
+ Dây len
+ Súng bắn keo và keo 
+ Kéo
+ Bóng đèn tròn hình quả lê
+ Cành cây khô nhỏ
Thực hiện:
+ Trước tiên, bỏ phần cuống đèn màu đen của bóng đèn như cách làm lọ hoa bằng bóng đèn bên trên.
+ Chuẩn bị một cành khô có kích cỡ bằng cuống quả lê, dùng súng bắn keo gắn một đoạn ngắn cành khô vào cuống bóng đèn vừa được loại bỏ.
+ Tiếp theo, tiến hành quấn len từ cuống bóng đèn đến hết phần bóng đèn bằng keo, chú ý gắn đủ keo để len có thể bám chắc vào bề mặt của bóng đèn và đặc biệt là điểm đầu và điểm cuối gắn len lên bóng đèn
+ Khi quấn được quá nửa dây len lên bóng đèn, đổi ngược chiều bóng đèn để thuận tay và quấn hết phần bóng tròn ở dưới.
Mẹo nhỏ thú vị làm đồ trang trí từ bóng đèn tròn
Vậy là bạn đã hoàn thành quả lê làm từ bóng đèn! Làm tiếp các quả lê tiếp theo với các màu len khác nhau nếu bạn thích và đặt chúng ở một vị trí thích hợp để trang trí!



Đăng bởi

Biểu tượng của các chữ-số Do Thái

Nền tảng của một trong những truyền thống tư tưởng quan trọng nhất của nhân loại.

I) Chín ch đầu trong bảng ch-số Do Thái ở trên, là chín nguyên lỳ, nhưsau :
ALEPH , số một, là nguyên lý “Sống – Chết”, không thể nghĩ bàn, của hiện hữu và không hiện hữu.
BEITH (VEITH), số hai, là nguyên lý của sdung chứa, bao bọc. Không có nguyên lý này, thì không gì có thể hiện hữu.
GHÎMEL, số 3, là schuyển động của tất cả các Beith, được khích hoạt bởiAleph
DÂLETH, số 4, là đối lực của Aleph, là shiện hữu vật lý của tất cả những gì trong thiên nhiên được vận động bởiGhimel.
HE, số 5, là nguyên lý của ssống, làm cho Daleth có thể trường tồn trong hiện hữu đối lại với việc gián đoạn sự sống hàm chứa trong nguyên lý « sống – chết ».
(Tổ phụ Abram, không có con chính thức nối dõi, nhưng khi Thiên Chúa đổi tên ông thành AbraHam – thêm vào tên Abram chHE – nguyên lý của s sống, thì liền có được người kế vị, để trthành “cha của muôn dân” – nghĩa chAbraham)
WAW, số 6, là thụ nhận s sống, là tác động trựctiếp của HE trên DALETH
ZEIN, số 7, là shoàn thành, sthể hiện của tiến trình đón nhận s sống, cho ra tất cả những gì có thể hiện hữu, hay, nói theo truyền thống, đưa đến toàn bộ các « khả hữu khả hữu ».
HHEITH, số 8, là kho chứa tất cả svật và năng lượng trong tình trạng không phân biệt.
ZEIN tác động vào nó, để chính trong HHEITH mà …
TEITH, số 9, NTÍNH nguyên thủy, rút ra s sống của các trình độ tiến hóa của mọi sinh vật.
Đó là phương trình nền tảng đặt ra bởiSáng Thế Ký. Còn lại là những khai triển, mà chúng ta tiếp tục tuần tự khảo sát :
II) Chín ch-số tiếp theo, khởiđằu t YOD, số 10, đến TSÂDE, số 90, mô tả 9 nguyên lý vừađược mô tả, khi được phóng chiếu vào thị hiện, trong tương quan với những ngẫu nhiên phức biến của điều kiện thực tế. Chúng là các nhân số của 10.
Tiếp theo đó, chín nhân số của 100 là những khai triển được khuếch đại thêm lên, đến tầm mức « vũ trụ » của chín nguyên lý đầu tiên.
Rồi đến số 1000 được viết dưới dạng Aleph m rộng (thật ra Aleph đã có nghĩa là 1000 trong tiếng Do Thái). Ý nghĩa ít dùng đến của nó, thường được coi như sự biểu hiện một cách cực kỳ mạnh mẽ của ALEPH, năng lực tối thượng,nguyên lý của vũ trụ, ở ngoài thời gian, vượt ngoài tri thức, không thể nghĩ bàn.
Đến đây chắc chắn các bạn đã nhận thấy rằng tìm hiểu các nhân số của chín chữ-số cơ bản cũng chính là tìm hiểu sâu xa thêm các nguyên lý được biểu tượng bằng chín chữ-số này.
Nên xem xét theo trình t : 1 rồi 10 và 100 … Trước khi chuyển sang 2 – 20 – 200 v.v… (xem tiếp phần sau)
Vài biệt lệ đáng chú ý là, cuối một nguyên t, thì :
KHAF, số 20, lại được dùng để chỉ 500
MEM, số 40, để chỉ 600
NOUN, 60 để chỉ 700
Các biệt lệ này diễn tả ý tưởng là : trong s vận hành của s vật, các số 20, 40, và 50, tr thành 500, 600 và 700 khi thể hiện nơicon người. Thí dụ con người ADAM là 1.4.40 (Aleph-Daleth-Mem), khi chưa thị hiện, nhưnglại là 1.4.600 khi trở thành hiện thực một cách toàn diện.
III) Xin tóm tắt ngắn gọn tương quan giữa các nhân số vừa được bàn đến :
1) Aleph-Yod-Qôf : 1.10.100.
Trong khi Aleph (số 1) là xung năng bao hàm những gián đoạn của chu kỳ : sống-chết-sống-chết … thì Yod (số 10) là sphóng chiếu tổng hợp của Aleph, diễn bày tính liên tục tồn tại của hiện hữu.
Trong điều kiện ấy, Yod (số 10), có nghĩa là bàn tay trong tiếng Do Thái, đối chọi lại Aleph, trong một cuộc chơiqua đó Yod không là gì cả nếu không có “đối thủ” Aleph.
Qôf (số 100) là một “nguyên số vũ trụ” rất khó nắm bắt ý nghĩa. Nó là Aleph khuếch đại tác động vào sphóng chiếu của chính nó.
Qôf hiện hữu trong Qahînn (Caïn), ngườigiết em mình trong Sáng Thế Ký (xem : ****), biểu tưng của vị Chúa bị lưu đày, hủy diệt các ảo tưởng.
2) Beith-Khaf-Reisch : 2.20.200.
Nếu Beith (số 2), với tính cách nguyên lý của sự dung chứa, nảy sinh từ chức năng giới hạn ssống (vì chứađựng chính là giớihạn),
thì Khaf (số 20), có nghĩa là lòng bàn tay trong tiếng Do Thái, luôn sẵn sàng đón nhận mọi th,
trước khi được khai triển thành Reisch (số 200), biểu tượng cho sbao bọc toàn thể hiện hữu, kết quả của động lực tổ chứcvô cùng mạnh mẽ trong vũ trụ.
3) Ghimel-Lâmed-Schîn : 3.30.300. Ba chữ-số này diễn tả một sự chuyển động càng lúc càng nảy triển nở,
khởi phát từ Ghimel (số 3), biểu tượng của chuyển động cơ bản, mang tính bộc phát, không bị kềm chế,
sang Lâmed (30), chuyển động có tổ chức, được điều tiết, và cũng tượng trưng cho sự liên kết,
để đạt đến Schîn (300), được truyền thống gọi là « Thần Khí » (hơi thở của Thiên Chúa).
4) Daleth-Mem-Tâv : 4.40.400.
Daleth (4), là hiện hữu theo nghĩa vật lý, được coi như nảy sinh từ nước : nước nguyên thủy của trời đất, cũng như nước của người mẹ, được tin là sinh ra mọi hiện hữu.
Mem (40) và Tâv(400) là sự khuếch đại của mọi hiện hữu, để khi đạt đến cùng cực thì có được khả năng kháng cự lại tác động của « sống – chết ».
Căn D.M.T. cấu thành bởi ba chữ đầu của bộ ba này, trong tiếng Do Thái, có thể được ngắt thành hai chữ DMmáu, và MTchết. DMT như thế, diễn tả toàn bộ chu kỳ sinh tử của hiện hữu.
5) Hé-Noun-Khaf  (cuối từ) : 5.50.500.
(5), sự sống nói chung,
kết tinh thành những sự sống cá biệt, Noun, (50),
và được khuéch đại để trở thành sự sống của toàn vũ trụ, Khaf(500).
6) Waw-Sâmekh-Mem (cuối từ) : 6.60.600.
Waw (6) là yếu tố nam của sự di truyền sự sống,
Sâmekh (60) là yếu tố nữ,
Mem (600) là toàn bộ kết cuộc của sự giao hợp giữa hai nguyên tố vừa nói.
Trong tiếng Do Thái, Waw duy trì bản tính của mình trong liên hợp từ « Và ».
7) Zein-Aeïn-Noun (cuối từ) : 7.70.700.
Zein (7) là sự mở rộng đến mọi « khả hữu khả hữu ».
Như nguyên lý của khả hữu, Zein được « nhìn thấy » nhờ Aeïn (70), nghĩa là con mắt trong tiếng Do Thái. Aeïn cũng được coi như căn nguyên của Zein.
Sự khuếch đại của Zein cho ra Noun (700), biểu tượng của tính vô định trong vũ trụ, phủ nhận mọi bám chấp, quy kết.
Ở đây chúng ta gặp lại Qahînn (Caïn), vị Chúa bị lưu đày, kẻ sát nhân đầu tiên …
8) Hheith-Phé-Phé (cuối từ) : 8.80.800 :
Ở ba cấp độ khác nhau, các chữ-số này biểu tượng cho bản chất đầu tiên của mọi sự, kho chứa nguyên liệu của sự sống, và năng lượng nguyên thủy, còn ở dạng vô phân biệt.
9) Teith-Tsâdé-Tsâdé (cuối từ) : 9.90.900.
Ba chữ-số này diễn tả một tiến trình khởi đi từ Nữ Tính nguyên thủy, được thăng hoa thành những biểu tượng như « Mẹ Thiên Chúa », Mẹ của loài người, v.v…
§§§§§§§§
Ý nghĩa của từ « Bereschyit », mở đầu Sáng Thế Ký
Trước hết cần nói ngay là từ này không có nghĩa là « Lúc khởi đầu » như thường thấy trong các bản dịch.
Bereschyit được cấu tạo từ các chữ-số : Beith-Reisch-Aleph-Schîn-Yod-Tâv. Chúng ta tuần tự khảo sát các chữ-số này :
Beith (số 2) : Mọi hiện hữu đều có trong ngoài, những gì thuộc về nó và những gì không là nó. Nó bao hàm việc gói ghém sự sống, và là sự sống của gói ghém ấy. Mỗi mầm sống đều có một bọc chứa phát triển cùng với năng lực kháng cự lại chính sự sống trong nó. Điều này ví như vỏ trứng gà : nó phải phát triển với một năng lực đủ sức chống lại sự lớn mạnh của mầm sống trong nó, cho đến khi mầm sống ấy trưởng thành đúng mức để trở thành gà con. Khía cạnh « nhị nguyên » này của mọi hiện hữu, kể cả của tư tưởng của chúng ta, được biểu tượng bằng số 2.
Reisch (số 200) : Là số 2 được nhân cho 100, Reisch biểu tượng cho toàn thể vũ trụ, từ các thiên hà, tinh tú, cho đến những vật thể nhỏ nhoi nhất, trong ý nghĩa tất cả những gì chứa đựng hiện hữu, cùng với tiến trình hiện hữu của chúng. Reisch là « chỗ ở » của mọi hiện hữu. Mọi sự sống đều thị hiện trong khả năng dung chứa của nó. Riesch bao hàm toàn bộ thiên nhiên, từ giọt nước, cọng cỏ, đến mỗi tế bào, cùng với những sự sống, những hiện hữu bên trong các cấu trúc ấy. Reisch cũng biểu tượng cho sự chuyển hóa liên tục của mọi hiện hữu và mỗi thành tố của nó, cũng như của những thành tố của các thành tố này, và các thành tố của chúng, đến vô cùng tận, khiến cho không gì có thể bất biến. Nó chính là sự sống, sự hiện hữu, được nhìn như tiến trình chuyển biến, hiện hữu khắp nơi, trong mọi hiện tượng.
Aleph (số 1) : Tiếm tàng trong sự dung chứa bao la vừa được bàn đến, và trong những sự dung chứa được dung chứa trong đó, có một năng lực tạo tác tự phát, luôn mãi tái sinh, nguồn thôi thúc vô tận của sự sống, chớp tắt không ngừng, hết sinh lại diệt, không thể nắm bắt, không thuộc thời gian. Chỉ những thị hiện của năng lực này là có thể cảm nhận và suy tưởng.
Aleph chính là nguyên lý không thể nghĩ bàn này. Thật vậy, Aleph luôn là nó đồng thời không bao giờ là nó. Vì nó không ngừng tự tạo, để luôn tự trở thành dưới những dạng thức hoàn toàn khác biệt. Aleph tác tạo và là sự tạo tác. Nó không được tạo ra, nhưng hiện hữu. Đồng thời nó không hiện hữu, vì mọi hiện hữu đều phải liên tục, trong khi nó luôn khác biệt với chính nó, tức không có sự liên tục. Nó không có ký ức, vì không có quá khứ. Không có mục đích, vì không có tương lai. Giả sử người ta bắt được nó, thì nó luôn mãi bị bắt. Người ta chôn vùi nó, nó sẽ luôn mãi bị chôn vùi. Khi tháo gỡ những ngăn trở, thì nó trở thành hành động, phá hủy mọi lực cản, mặc dù không bao giờ tiêu diệt chúng. Lý do vì không có những lực cản ấy, Aleph không thể thị hiện. Mặt khác, nếu không có Aleph, thì sẽ không có gì cả. Đó là hình ảnh của Aleph.
Chúng ta đã hiểu Alpeph nằm ngoài ý thức. Hình ảnh của nó chỉ là một cái bóng, vì nó  không thuộc về thời gian, cũng không thuộc về không gian. Nó hoàn nằm ngoài mọi suy tưởng. Chúng ta không có bất cứ phương cách nào để đạt đến Aleph.

Schîn (số 300) là s chuyển động của tất cả các hiện hữu. Mọi hiện hữu đều “sống động” nh Schîn. Schîn có thể là một năng lực chuyển động chống lại một s chuyển động đã có, hay làm cho nó chuyển hướng, hoặc tăng cường nó. Schîn tạo sự sinh động nhưng cũng có thể cuốn trôi hiện hữu. Chỉ s yếu ớt cùng cực là có thể cưỡng lại và tránh thoát nó. Sức mạnh cực lớn của nó cũng được thể hiện trong năng lực dồn ép.
Yod (số 10) : là một nguyên lý vừa phản lại, vừa tạo điều kiện cho s sống. Nó là s kéo dài những gì bị hủy diệt bởi thời gian. Yod, phóng chiếu của Aleph, đem lại một thực thể cho tất cả những khuynh hướng chôn vùi Aleph, dạng sống hay chết của nguyên lý này. Yod là hữuhạn không bao gitr thành vô hạn. Nó là hiện hữu trong thờigian của Aleph phi thờigian và không thể đo lường.
Tâv (số 400) : là sức đề kháng đối nghịch lại với luồng sinh khí kích hoạt nó. Thiếu nguyên lý chống kháng này, thì s sống không thể hiện hữu. Nhnó mà s sống tạo nên được những hình thể vô cùng đa dạng của mọi thị hiện.

Đăng bởi

Về bài thơ lên Đồng của Cụ Trần Tế Xương

Tú Xương đã viết 1 bài thơ “ Lên đồng ” :







Khen ai khéo vẽ sự lên đồng
Một lúc lên ngay sáu bảy ông
Sát quỉ, ông dùng thanh kiếm …gỗ,
Ra oai, bà giắt cái …khăn hồng.
Cô giương tay ấn, tan tành núi,
Cậu chỉ ngọn cờ cạn rốc sông.
Đồng giỏi sao đồng không giúp nước ?
Hay là đồng sợ súng thần công ?


Phản hồi bài thơ của Tú Xương :




Chẳng ai vẽ được sự lên đồng
Năm tòa Quan Lớn gọi Tôn Ông
Sát quỉ, Tôn Ông dùng thanh kiếm Thánh
Ra oai, Chầu Bà Chiếu Hào Quang.
Cô giương tay ấn, ban Gia lộc ,
Cậu chỉ ngọn cờ trăm nhà vui .
Đồng giỏi nhưng không thể giúp nước ?
Vì Đồng còn dở việc cứu dân!!


gửi cụ Tú Xương




Thiên sinh tạo hoá phép ảnh đồng
Hội đồng quan lớn hiệu tôn ông
sát quỷ hô thần thanh kiếm thánh
ra uy tạo gió phép hô phong
Cô ra tay cứu bao người sống
cậu ứng phép thần đục hoá trong
ai bảo là đồng khônggiúp nước
âm phù dương trợ chẳng kể công

Đăng bởi

KHÍ CÔNG : DỄ HIỂU, DỄ TẬP

Chút lý thuyết đơn giản về cách thở trong Khí Công
Cần xé bỏ bức màn bí mật, huyền hoặc, quanh Khí Công
Khí công là dùng tâm ý, hơi thở, tư thế và cử động để ảnh hưởng vào một số chức năng của cơ thể. Khí công không khó tập, cũng không khó hiểu, nhưng thường bị cho là khó, vì người ta  hay phủ lên nó  một bức màn bí mật, huyền hoặc, có khi thần thoại …

Một nguyên tắc chủ yếu của khí công là : Ý dẫn « Khí ». Khi bạn nghĩ « lên » thì « khí » lên, khi nghĩ « ra bàn tay » thì « khí » ra bàn tay, chú tâm hay « quán » ở chỗ nào thì « khí » tập trung ở đấy. Công dụng của sự vận hành của « khí », tức của cái « ý » dẫn dắt nó như sau :

         khi « ý » và « khí » được đưa lên thì sẽ tạo sự hưng phấn cho cơ thể
               ý và khí hướng xuống, sẽ gây trầm tĩnh
Về phần hơi thở, thì công dụng như sau
         hít vào : hưng phấn, tim đập nhanh hơn, áp huyết tăng (do kích thích thần kinh giao cảm)
         thở ra : trầm tĩnh, tim đập chậm lại, huyết áp giảm (do kích thích thần kinh phó giao cảm)
Phối hợp hơi thở và « ý dẫn khí », ta có các phương pháp sau :
1) Hít vào đưa « khí » xuống, bụng căng (khác với phình bụng), thở ra đưa lên (thót bụng). Trong phương pháp này, chúng ta có sự điều hòa giữa sự hưng phấn của hít vào với trầm tĩnh của việc « đưa xuống », cũng như sự trầm tĩnh của thở ra với hưng phấn của thót bụng đưa lên. Đây là một cách thở quân bình, ai tập cũng được.
2) Hít vào đưa khí xuống (vai và ngực trên không động, không nâng lên) thở ra cũng nén xuống. Một trong những áp dụng của cách thở này là lúc chiến đấu. Người ta đặt trọng tâm vào sự trầm tĩnh, thân tâm đều vững chắc, kiên cố. Vì người ta sợ bị tấn công khi hít vào, nên một chủ đích khác của phương pháp này là làm cho đối phương không biết mình đang hít vào hay thở ra. Nó cũng lợi cho việc nén « khí » chịu đòn.
3) Hít vào nâng lên, thở ra cũng nâng lên : cách thở này rất ít dùng. Nó có tính hưng phấn mạnh, thí dụ như khi buồn ngủ cần lái xe … Một vài môn phái tập « xuất hồn », hay muốn thông lưu với một đấng linh thiêng nào đó, thường « quán » vùng đỉnh đầu và có khi thở theo cách này. Nó có thể gây những ảo giác, do ảnh hưởng trên hoạt động của một số vùng não bộ.
4) Hít vào nâng lên, thở ra đưa xuống. Đây cũng là một cách thở điều hòa, vì chúng ta có hai yếu tố hưng phấn (hít vào + nâng lên), rồi liền sau đó, hai yếu tố trầm tĩnh (thở ra + đưa xuống). Thiền Sư Taisen Deshimaru thuộc phái Tào Động dạy lối thở này ở Pháp, nhưng với một biến thể quan trọng : hít vào tương đối nhanh, một cách tự nhiên, không cần để « ý » đến, chỉ chú tâm  vào hơi thở ra, càng dài càng tốt. Deshimaru muốn nhấn mạnh nơi khía cạnh trầm tĩnh (thở ra + nén xuống)  trong cái môi trường xã hội Tây Phương đầy giao động, ưu tư này.
Tiếp theo đây, chúng ta sẽ bàn xâu hơn vào những phương pháp nín hơi và quán tưởng đặc biệt.
Vài phương pháp Khí Công với gián đoạn hơi thở

Ngừng hít thở, khí tinh thâm, không phân trong ngoài, xé màn vô minh, tâm quy nhất … (Pantanjali)
Từ khoảng 250 năm trước Công Nguyên, đồng nghiệp Ấn Độ Pantanjali, trong Kinh Du Già (Yoga Sutra) đã đề cập đến tầm quan trọng của việc nín hơi trong cách luyện thở (Samadhi Pada, câu 34 và Sadhana Pada, câu 49). Truyền thống Khí Công Trung Hoa tuy đến từ Lão Giáo, nhưng chịu ảnh hưởng rất mạnh của  Ấn Độ qua Phật Giáo, cũng đề nghị nhiều phương pháp gián đoạn hơi thở.
Dễ nhất là hít vào hay thở ra từng bậc. Khi làm như thế, chúng ta để « ý » vào cái hơi thở ấy nhiều hơn là khi hít thở liền tù tì một nhịp. Mà « ý » thì dẫn « khí », như chúng ta đã từng bàn. Trong số trước, bạn đã biết hít vào gây hưng phấn, còn thở ra thì ngược lại, tạo trầm tĩnh. Vậy, nếu muốn hưng phấn (thí dụ buồn ngủ cần lái xe, đã nói trong số trước), chúng ta chỉ cần thở ra một hơi  tự nhiên, rồi hít vào từng bậc, mỗi bậc khoảng 1-2 giây, ngừng thở một tí tí, rồi lại hít tiếp một bậc khác, càng nhiều bậc càng tốt, nhưng không cần cố gắng. Trong cách tập này, để quân bình hưng phấn với trầm tĩnh, người ta thường vừa hít vào vừa đem hơi thở đặt xuống bụng dưới. Bạn còn nhớ : đưa xuống có tác dụng trầm tĩnh (1).
Thở ra từng bậc thì đương nhiên là có tác dụng trầm tĩnh, nhất là khi phối hợp với việc nén « khí » xuống vùng bụng dưới. Trong võ học, khi đánh liên tiếp nhiều đòn người ta cũng có thể thở theo cách này. Bây giờ, vừa hít vào từng bậc, vừa thở ra từng bậc, thì tác dụng đơn giản là điều hòa, với một ưu điểm quan trọng là bắt cái tâm hay giao động của mình phải chú « ý » nhiều hơn đến các nhịp thở. Bạn nên dùng phương pháp này khi có chuyện lo lắng, tâm trí khó tập trung. Thở từng bậc cũng rất thích hợp với lúc đi bộ. Khi ấy, mỗi bước đi là một nhịp thở.
Tiếp đến, chúng ta thử tiến sang các phương pháp nín hơi « thực sự », nên tập trong tư thế ngồi (2). Thông thường nhất là nín hơi sau khi hít vào. Hít vào tự nhiên, nén xuống bụng dưới (đơn điền), rồi giữ ở đó ít lâu, không được cố gắng, sau đó chậm rãi thở ra. Đương nhiên là bạn có thể phối hợp phương pháp nín hơi này với những gì bạn đã biết, như thở từng bậc, khi hít vào, hay khi thở ra, tùy tác dụng mà bạn muốn tạo ra. Việc vừa hít vào (hay thở ra) vừa « nâng khí lên » hay « nén khí xuống » cũng thế, tùy nhu cầu hưng phấn hay trầm tĩnh. Bạn còn có thể xen kẽ những nhịp thở có nín hơi với vài nhịp thở bình thường không nín hơi, để có thể nín hơi lâu hơn một chút mà không bị thiếu hơi thở. Riêng phụ nữ khi tập nén hơi xuống bụng dưới cần đồng thời nhíu hậu môn và co thắt vùng âm hộ để tránh rủi ro sa tử cung và bàng quang.
Người ta cũng có thể nín hơi sau khi thở ra. Phương pháp này ít được dùng một cách đơn độc. Nó thường được lồng trong một cách thở mà các nhà Yoga gọi là thở « toàn diện » : hít vào, nín hơi, thở ra, lại nín hơi, rồi hít vào tiếp. Nín hơi sau khi thở ra cũng là một phần của pháp môn « bế tinh » trong khi giao hợp, đồng thời tạo hưng phấn cực mạnh (dùng khi vừa buồn ngủ, vừa giao hợp, vừa … lái xe ?!?!)
Chúng ta sẽ bàn tiếp sang các phương pháp quán tưởng trong Khí Công.
(1)   Các phương pháp hít vào + nén xuống, và thở ra + đưa lên, thường được gọi là « Tứ Tượng Thổ Nạp » vì « trong dương có âm, trong âm có dương » như hình ảnh của « Tứ Tượng » (Thái Dương, Thiếu Âm, Thái Âm, Thiếu Dương). Các phương pháp hít vào + nâng lên (cùng có tác dụng hưng phấn), và thở ra + nén xuống (cùng có tác dụng trầm tĩnh) thì gọi là Lưỡng Nghi Thổ Nạp, vì chỉ có thuần Âm và thuần Dương, tức Lưỡng Nghi.
(2)   Koichi Tohei, thuộc Hiệp Khí Đạo dạy một cách tập thở có nín hơi trong tư thế đứng, với vài động tác của cánh tay, bàn tay (nắm, mở), và nhón gót chân.
Quán Tưởng trong Khí Công
 Đề nghị một phương pháp dễ áp dụng
Một trong những khó khăn của khí công là : tập trung tinh thần. Và một trong nhiều hiệu năng của quán tưởng là giúp « giải trừ tạp niệm », loại bỏ những suy nghĩ lung tung, để tập trung tinh thần. Theo kinh nghiệm cá nhân, xin đề nghị một trình tự rất gọn gàng và hữu hiệu, được truyền dạy bởi nhà sư Trí Khải, đời nhà Tùy, bao gồm sáu giai đoạn, như sau :
Đơn giản nhất là « đếm hơi thở » : gọi là sổ tức quán. Hít vào rồi thở ra : đếm một. Lại hít vào, thở ra, đếm hai, v.v… cho đến 10 thì quay lại một. Nếu lầm lẫn, không biết mình đã đếm đến đâu thì phải quay về một. Hơi thở phải tương đối dài, nhưng không được để thiếu hơi, sau đó phải thở dốc. Cùng lúc có thể áp dụng những cách thở mà bạn đã biết (đọc các số trước), tùy theo tác dụng muốn đạt được. Tuy nhiên, chủ trương của giai đoạn này là đơn giản, vì thế quý bạn nên chọn cách thở nào đơn giản nhất.
Thứ đến, khi cảm thấy không còn cần phải đếm hơi thở để loại trừ những suy nghĩ tạp nhạp nữa, thì bạn có thể bước sang phương pháp « bám theo hơi thở » : gọi là « tùy tức ». Hơi thở vào, để tâm vào, hơi thở ra, chú ý theo ra, hơi thở sâu, biết nó sâu, hơi thở cạn, biết nó cạn, v.v… Tâm luôn bám theo hơi thở, như « chủ nợ bám theo con nợ » (lời Trí Khải), nhất định không rời. Pháp môn Vipasana (Minh Sát) của Phật Giáo Nguyên Thủy, khi dạy chú tâm đến tính lạnh của hơi thở vào và nóng của hơi thở ra, cũng không xa cách tập này.
Khi không còn cảm thấy cần bám theo hơi thở nữa, người ta bước sang phép « chỉ », tức là đình chỉ cái tâm của mình lại, bắt nó ngừng ở một chỗ. Người ta tập trung nghĩ đến một điểm trong thân thể, thông thường nhất là vùng hạ đơn điền ở dưới rốn vài phân. Nhưng cũng có thể tập trung vào những nơi khác, như ngón chân cái, huyệt dũng tuyền ở gan bàn chân (tác dụng làm ngủ), huyệt trung uyển ở vùng vị, với tác dụng giúp tiêu hóa và hỗ trợ tuần hoàn (tỳ vị chủ vận hóa), vùng giữa trán, nơi huyết ấn đường (để khai tuệ ?), vùng đỉnh đầu nơi huyệt bách hội (xuất hồn ?), vùng gan, vùng thận … Điểm tập trung cũng có thể nằm ngoài thân thể : như một ngọn đèn xanh nhỏ, đặt trước mặt vài thước được tin là giúp tăng cường thị giác (?), hay một điểm tưởng tượng trước mặt khoảng một thước, v.v…
Sau đó, người ta chuyển sang pháp môn « Quán »đúng nghĩa, tức là hình dung, tưởng tượng một cái gì đó, như thực sự nhìn thấy hay cảm thấy nó. Thí dụ quán các đường kinh mạch vận chuyển : thường là vòng đại chu thiên, tiểu chu thiên, hay vòng tuần hoàn của 12 chính kinh, 6 kỳ kinh mạch …
Vòng tiểu chu thiên khởi đi từ bụng dưới xuống xương cùng ra phía sau, theo xương sống lên đến đỉnh đầu rồi theo phía trước thân thể trở xuống trán, ngực, vùng vị, rồi lại bụng dưới. Người ta có thể tập tiểu chu thiên ngược : xuống phía sau, lên phía trước. Vòng TCT thuận đưa « khí » từ trong ra ngoài, vòng TCT nghịch đưa « khí » từ ngoài vào trong. Tùy tác dụng muốn có mà ta chọn vòng nghịch hay thuận. Thí dụ : ăn uống khó tiêu, cứ ợ lên … thì tập vòng thuận vì vòng này đưa xuống phía trước, qua vùng vị. Cảm thấy lạnh bên trong thì tập vòng nghịch vì có tác dụng đưa « khí » vào trong. Dương hư tập vòng nghịch, Âm hư tập vòng thuận. Có thể phối hợp TCT với cách thở có nín hơi (xem số trước).
Người ta cũng có thể quán tưởng một câu thơ, câu kinh, thần chú, một bài quyền, một đạo bùa, một phong cảnh có thật hay tưởng tượng, hoặc hình ảnh Chúa, Phật, hình một vị Anh Hùng v.v…
Sau « Quán » là « Hoàn » : quay lại quán tưởng chính mình, như một người khác đang bình thản nhìn mình phì phò hít thở, quán này quán nọ, vất vả loay hoay cố thoát khỏi vọng tưởng, tham dục, đau khổ … Tác dụng của « hoàn » là ý thức được rằng cái tâm của mình là một tập hợp của nhiều thành phần, cái này đắp lên cái kia. Và cái phần thâm sâu có khả năng nhìn lại những phần khác một cách tĩnh lặng, có thể là Chân Tâm, Phật Tính. Pháp môn « Hoàn » là một cách để cảm thấy Phật Tính nơi mình.
Giai đoạn cuối là « Tịnh ». Tâm hoàn toàn trống rỗng. Nó tự nhiên đến. Không thể tham cầu.
Trí Khải cho là có thể áp dụng nhiều giai đoạn của cái « Lục Diệu Pháp Môn » này cùng một lúc, như vừa sổ tức, vừa tùy tức, vừa chỉ, vừa quán v.v… Quý bạn thử xem ?
Khí Công và Thiền Đạo : đừng quên hé một nụ cười !
Đọc phần “Quán Tưởng trong Khí Công”, quý bạn chắc đã hiểu ngay rằng Khí Công có thể là một cánh cửa để bước vào Thiền Đạo ? Khí Công thuận lợi cho việc an Tâm, đồng thời giữ cho thân thể được vững chắc, khỏe mạnh, tạo điều kiện tốt cho việc hành Thiền. Tuy nhiên, Khí Công cũng có thể chỉ ngừng lại ở sự thỏa mãn một số tham cầu của cái Tôi, một cách ích kỷ. Trong trường hợp ấy, người ta quay lưng lại với Thiền Đạo. Vì thế, đạt đến một cảm giác thư thái, khỏe mạnh, tâm hồn an tĩnh, phải là một cơ hội để phân phát những thứ ấy đến tha nhân, không những trong đời sống thường ngày, mà cả trong sự quán tưởng lúc đang tập luyện. Thật vậy, ngoài việc quán tưởng các đường kinh mạch, quán vòng tiểu chu thiên (thuận nghịch tùy nhu cầu), quán một hình ảnh, một đạo bùa, một ý tưởng (*) v.v… thì có một sự quán tưởng sẽ giúp bạn bước sang Thiền Đạo. Đó là Quán Đại Từ Bi (Maha Karuna). Một truyền thuyết cho là Đức Phật đắc đạo nhờ Sổ Tức Quán (đếm hơi thở) và Quán Đại Từ Bi. Một cách nói để không cần đi tìm những “pháp môn” phức tạp, rắc rối.
Quán Đại Từ Bi là : khi bạn cảm thấy tâm hồn thư thái, an tĩnh, trong lúc tập luyện, hay bất cứ lúc nào khác, thì liền dụng tâm phân phát cảm giác ấy, làm cho nó lan ra đến mọi người, mọi sự sống “hữu tình”. Thật ra, không dễ gì làm được như thế ngay lập tức. Cần trải qua vài giai đoạn trung gian. Đầu tiên là chia sẻ sự an lạc với những người thân thương trong gia đình mình : vợ chồng con cái, anh chị em … Ước vọng họ cũng được an lạc như mình. Rồi đến bạn bè, người quen, xóm giềng, đồng nghiệp … Dần dần mới đến người mình chỉ biết mặt qua loa, không bao giờ trò chuyện, rồi tới người mình chỉ nghe nói đến. Sau chót là người mình thù ghét, oán hận, người đã từng cư xử tệ bạc với mình, bóc lột lường gạt, thậm chí hành hạ đánh đập mình. Vẫn với ước vọng chân thành là họ cũng chia sẻ sự an lạc của mình. Sau cùng là quán đến toàn thể chúng sinh …
Có một mánh lới đơn giản khi thực hành Quán Đại Từ Bi : bạn chỉ cần nỉm một nụ cười khi bất cứ một hình ảnh nào hiện đến trong tâm. Nó sẽ giúp cho năng lực và sự hiệu quả của bạn tăng lên gấp bội phần ! Điều ấy phải trở thành một phản xạ, trong mọi sự tập luyện. Dù cho bạn tập theo phương pháp nào đi chăng nữa, cũng đừng quên nó, đừng quên nỉm một nụ cười !
(*) Cụ Trần Văn Ân có lúc quán chiếu ý tưởng « vạn pháp quy nhất điểm, nhất điểm hoàn vạn pháp ». Khi hít vào, cụ tập trung nghĩ tất cả vũ trụ sự vật đều quy về một điểm ở bụng dưới (hạ đơn điền), khi thở ra thì hơi thở từ điểm ấy toả ra toàn vũ trụ, như một loại « big bang » và « big crunch » tiếp diễn nhau. Cũng có thể nghĩ vũ trụ thở cùng nhịp với mình : mình hít cũng như nó thở, mình thở, nó hít … Và nhớ nỉm cười với nó một phát !
Thiền Đạo và Võ Đạo

Người ta thường gán cho Bồ Đề Đạt Ma vai trò Tổ Sư của Võ Đạo, dù không có văn kiện Phật Giáo chính thống nào cho biết chính xác điều này (?). Bồ Đề Đạt Ma là Nguyên Tổ của Thiền Tông Trung Hoa. Truyền thuyết trong giới Võ Nghệ nói Ngài diện bích chín năm rồi truyền dạy những phương pháp luyện tập thân thể, sau này trở thành Võ Học. Từ đó, người ta nghi ngờ có một liên hệ mật thiết giữa Thiền và Võ.
Vấn đề đầu tiên phải đặt ra là Phật Giáo vốn chủ trương hạnh Nhẫn Nhục, tính Từ Bi, tinh thần Lục Hoà, nên khó mà đứng chung được với Võ Đạo, vốn là một nghệ thuật chiến đấu, với nhiều khả năng gây thương tích, tàn tật, chết chóc. Theo tôi, thì trong bối cảnh một nước Trung Hoa đầy bạo lực vào lúc ấy, không có môi trường nào cần được truyền Đạo Từ Bi bằng môi trường Võ Nghệ. Tổ Đạt Ma, hay một truyền nhân của Ngài, đã chứng minh được rằng : với một kỹ thuật cao, người ta có thể giải quyết một cuộc tranh chấp võ lực mà không cần phải giết hay làm cho đối thủ bị thương. Một cao thủ thâm nhập tinh thần Thiền Đạo có thể khắc phục đối phương mà vẫn giữ vững tâm Từ Bi. Người ấy có thể chuyển hoá Tâm của người muốn hại mình mà không làm hại người ấy. Đó là khía cạnh thứ nhất của vấn nạn « Thiền trong Võ ».
Khía cạnh thứ hai là Võ Đạo rất có thể là một phương pháp hành thiền hiệu quả. Không phải chỉ trong lúc chiến đấu, mà chủ yếu là trong lúc tập luyện. Nguyên do như thế này :
Nếu quan niệm Thiền như một phương pháp an tâm, thì ta sẽ thấy ngay rằng Tâm tương đối dễ « an » trong điều kiện tĩnh lặng, như khi ngồi bất động. Nhiều trường phái Võ Học bắt môn sinh ngồi tĩnh lặng mỗi đầu buổi tập. Nhưng đến khi đứng lên, bắt đầu cử động, là Tâm bắt đầu dao động. Khi tập các động tác chậm rãi khoan hoà, như Thái Cực Quyền chẳng hạn, thì Tâm tuy có khó « an » hơn lúc ngồi lặng lẽ một chút, nhưng cũng còn chưa đến nỗi nào. Nếu bây giờ tập đấm đá vũ bão, vừa nhanh vừa mạnh, thì việc « an » Tâm trở thành rất khó. Việc ấy lại càng khó hơn bội phần khi tập « đối luyện » (có quy ước) với một người khác. Rồi đến khi giao đấu tự do, với tất cả những phức tạp và lo sợ của nó, thì « an » Tâm chỉ đạt được ở một trình độ cực cao. Người tập võ có thể nhắm đến trình độ ấy. Khi ngồi tĩnh tâm lúc đầu buổi tập, anh ta ổn định tâm của mình trong sự an tĩnh, và tiếp tục « trụ » trong ấy khi anh ta đứng dậy tập nóng người, tập các động tác nhẹ nhàng, hay các động tác mạnh bạo, hay khi tập đối luyện, và rốt ráo là khi giao đấu tự do. Đến cuối buổi tập, khi trở về tư thế ngồi tĩnh tâm, anh ta nhận thấy Tâm mình từ đầu vẫn không thay đổi … Rồi khi bước vào các sinh hoạt của đời sống, Tâm vẫn luôn an tĩnh. Ở trình độ ấy, anh ta trở thành một cao thủ, dù cho trình độ kỹ thuật hay thể chất của anh ta thế nào đi chăng nữa. Vì trong Võ Học cũng như trong nhiều lãnh vực khác, « Tâm » chính là yếu tố quyết định !

Đăng bởi

Trẻ sẽ hạnh phúc và tự tin nếu bố mẹ nói những câu này mỗi ngày


Nhà tâm lý học trẻ em Yekaterina Kes đã đưa ra một danh sách các cụm từ quan trọng mà các bậc cha mẹ nên sử dụng để nói với con hàng ngày. Tất cả các cụm từ này sẽ giúp con trẻ hiểu được tình yêu thương của bố mẹ dành cho mình, giúp con tự tin hơn và vươn lên trong cuộc sống.
Bày tỏ niềm tin vào con
“Bố/mẹ tin tưởng con!”.
“Bố/mẹ tin vào con!”.
“Bố/mẹ tôn trọng quyết định của con”.
“Điều đó sẽ không dễ dàng, nhưng mẹ chắc chắn con sẽ thực hiện”.
“Con đang làm tất cả mọi thứ”.
“Con hiểu điều này rất chính xác!”.
“Làm thế nào mà con làm việc này đạt kết quả tốt như vậy?”.
“Con đã thành công rồi, nói bí quyết cho bố/mẹ nghe nào?”.
“Con có thể làm điều đó tốt hơn bố/mẹ”.
“Con đã làm tốt hơn bố/mẹ rồi đấy!”.
Khi con gặp khó khăn
“Bố/mẹ chứng kiến rất nhiều việc con đã làm, chỉ là thiếu may mắn một chút thôi”.
“Mọi thứ sẽ tốt thôi con yêu ạ!”.
“Mẹ có thể nhìn thấy những cố gắng của con”.
“Con đã làm việc rất chăm chỉ và con xứng đáng được hưởng thành quả như ý!”.
“Con đã có tiến bộ vượt bậc!”.
“Bố/mẹ thấy con đã rất chú tâm vào công việc này”.
“Mẹ có thể hình dung con đã bỏ rất nhiều công sức để đạt được điều này”.
“Con đã phải làm việc rất chăm chỉ để có được kết quả như vậy!”.
“Nỗ lực của con sẽ được đền đáp!”.
Trân trọng thời gian cả gia đình bên nhau
“Bố/mẹ cảm ơn con đã dành thời gian cho bố mẹ!”.
“Bố/mẹ không thể chờ đợi để cùng chơi với bé yêu vào ngày mai!”.
“Thật thú vị để làm điều này với con!”.
“Bố/mẹ thật sự rất thích chơi cùng con yêu!”.
“Mẹ rất vui vì con đang ở nhà với mẹ!”.
“Con đã mang lại cho bố/mẹ rất nhiều niềm vui”.
Giúp con đánh giá khả năng của mình
“Con nghĩ gì về điều này?”.
“Con phải rất tự hào về chúng”.
“Điều con tự hào nhất là gì?”.
“Ý kiến của con về điều này?”.
“Con đánh giá về việc này như thế nào?”.
“Con nghĩ gì về kết quả trên?”.
“Làm thế nào con thực hiện được điều ấy?”.
Thể hiện sự cảm ơn khi con giúp bố mẹ
“Cảm ơn con rất nhiều vì đã làm điều này!”.
“Bố/mẹ rất biết ơn vì con đã giúp bố/mẹ làm việc này!”.
“Con thực sự đã giúp mẹ rồi đấy!”.
Khích lệ những hiểu biết của con
“Mẹ không biết mẹ có thể làm được những gì nữa nếu không có con!”.
“Nếu không có sự giúp đỡ của “bạn” mẹ đã không thành công như thế”.
“Con đã giúp mẹ để mẹ hoàn thành việc này nhanh hơn”.
“Cảm ơn bé yêu của mẹ, nhà mình đã rất gọn gàng rồi!”.
Thể hiện những gì bố/mẹ thấy cho con biết
“Phòng ngủ của con thật sạch sẽ!”.
“Ồ, bé con của mẹ đã tự lên giường để ngủ rồi! Con giỏi quá!”.
“Có rất nhiều màu sắc đẹp trong bức tranh con đã vẽ này!”.
“Bố/mẹ có thể thấy rằng con thực sự đã cố gắng hết sức”.
“Con đã sắp xếp bàn học ngăn nắp. Con làm tốt lắm!”.
Thể hiện những tình cảm của bố mẹ dành cho con
“Bố/mẹ chỉ muốn có nhiều thời gian để chơi với bé yêu của bố/mẹ”.
“Bố/mẹ rất vui khi con đang ở nhà!”.
“Bố/mẹ thích được tham gia vào nhóm của con”.
“Bố/mẹ thích được nghe ý kiến của con”.
“Mẹ vô cùng biết ơn vì con đã đến và ở bên mẹ!”.
“Mẹ rất hạnh phúc khi con ở bên và giúp mẹ!”.
Đăng bởi

Lễ hội Quán Thế Âm diễn ra trong tháng 2 âm lịch

Lễ hội Quán Thế Âm là một lời cầu nguyện cho quốc thái dân an, cho mưa thuận gió hòa; là dịp để mọi người, mọi giới chan hòa trong không khí hội hè, soi mình vào bản sắc văn hóa dân tộc để ngày một sống đẹp hơn. Lễ hội Quán Thế Âm góp phần phục hồi và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.


Thời gian tổ chứcLễ hội Quán Thế Âm được tổ chức hàng năm, cứ đến ngày 19.2 Âm lịch, lễ hội lại được tổ chức với một tầm vóc, quy mô ngày càng lớn hơn về cả nội dung và hình thức. Lễ hội Quán Thế Âm diễn ra trong 3 ngày, bao gồm hai phần: lễ và hội. 


Lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức hàng năm tại khu du lịch Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng. Lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1960, nhân ngày khánh thành tượng Bồ Tát Quán Thế Âm ở động Hoa Nghiêm thuộc ngọn Thuỷ Sơn, phía Tây Ngũ Hành Sơn. Hai năm sau, lễ hội được tổ chức nhân dịp khánh thành chùa Quan Âm ở động Quan Âm, là nơi phát hiện một khối thạch nhũ có hình tượng Phật bà Quán Thế Âm. Sau đó, vì nhiều lý do, lễ hội không được tổ chức trong một thời gian khá dài. Mãi đến ngày vía đức Phật bà Quan Thế Âm vào năm 1991 (19/2 năm Tân Mùi), Lễ hội Quán Thế Âm mới được khôi phục trở lại. 


le hoi quan the am



Phần lễ: Mang màu sắc lễ nghi Phật Giáo với các nội dung: 


– Lễ rước ánh sáng: Nghi lễ rước ánh sáng thường tổ chức vào tối ngày 18, gồm rước đuốc, rước kiệu, múa lân, múa rồng để cầu mong ánh sáng soi đường cho chúng sinh, mà trong phật giáo ánh sáng đồng nghĩa với trí tuệ, trí tuệ sáng thì tấm lòng, đạo đức trong sáng, sẽ làm nhiều việc thiện. 


– Lễ khai kinh: Lễ được tổ chức vào sáng sớm ngày 19, đây là lễ cầu nguyện cho quốc thái dân an, chúng sinh an lạc. 

le nguyen cau quoc thai dan an
Lễ nguyện cầu quốc thái dân an

– Lễ trai đàn chẩn tế: lễ này cũng được tổ chức vào sáng ngày 19 để cầu siêu, cúng thập loại chúng sinh, thường trước đó đồng bào phật tử gửi danh sách những người thân của mình đã mất đến chùa để làm lễ cầu siêu, trong lễ này phải mời người có giới phẩm đứng ra làm lễ. 


– Lễ thuyết giảng về Bồ tát Quán Thế Âm và dân tộc: lễ cúng được tổ chức vào sáng ngày 19, ngợi ca lòng từ bi bác ái của đức Phật Bồ Tát Quán Thế Âm và cầu nguyện cho dân tộc an bình, thịnh vượng. 


– Lễ rước tượng Quán Thế Âm: Lễ này tổ chức vào khoảng 10 giờ sáng ngày 19, sau các nghi lễ trên, bốn người khiêng kiệu trên có tượng Phật bà đi trước, và đồng bào Phật tử đi sau, kiệu được khiêng từ trên chùa và đi xuống chiếc thuyền đậu trên Sông Cầu Biện (nhánh của sông Cổ Cò), sau đó cho thuyền chạy vòng quanh sông Cổ Cò. Lễ này nhằm cầu nguyện cho đồng bào, chúng sinh đi biển, đi làm ăn trên sông nước được thuận lợi bình an. Ngoài các nghi lễ trên, còn có lễ tế xuân (cúng sơn thủy, thổ thần) để cầu quốc thái dân an. Lễ thường được tổ chức vào đêm ngày 18. Trong ngày lễ này các bô lão của các phường Hòa Hải, Hòa Quý khăn áo chỉnh tề, tay cầm cờ lọng, đuốc, lồng đèn, có đội nhạc cổ và chiêng trống đi theo. Sau khi làm lễ và đọc văn tế, đoàn bô lão sẽ dẫn đầu đoàn rước cộ xuống bờ sông Cầu Biện để mở hội hoa đăng, rồi từ chùa Quán Thế Âm đi quanh các khu phố qua các làng đá mỹ nghệ Non Nước, xuống khu du lịch Non Nước và trở về lại lễ đài với lộ trình dài hơn 2km. 

nghi thuc ruoc via quan the am

Nghi thức rước vía Đức Bồ Tát Quán Thế Âm 



Phần hội: Diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hoá – thể thao mang đậm bản sắc dân tộc xen lẫn với hiện đại như hội hoá trang, hát dân ca, thi cờ, nhạc, hoạ, điêu khắc, múa tứ linh, thả đèn trên sông, hát tuồng… các hoạt động văn hóa như triển lãm thư pháp và tranh thủy mặc, hội thi thuyết minh về danh thắng Ngũ Hành Sơn, hội thi nấu ăn chay…/

thi viet thu phap
Thi viết thư pháp


phat tu va du khach du le





Đăng bởi

Tự chế quần họa tiết


1. Tự vẽ quần short họa tiết
Có vô vàn cách để làm mới chiếc quần short bằng vải jeans của bạn, nhưng để có một chiếc quần đúng chuẩn phong cách mùa xuân như thể vừa mang thẳng từ các sàn diễn Xuân Hè 2015 về tủ đồ của bạn thì việc thể hiện chút khiếu hội họa lên đó là hoản hảo nhất. 
Nguyên liệu:
– Một chiếc quần short cũ của bạn, có thể là quần mua từ chợ hàng thùng
– Sơn chuyên dùng để vẽ trên vải (không nên dùng sơn acrylic)
– Cọ vẽ cỡ nhỏ và cỡ vừa
– Một miếng vải cotton hoặc áo phông cũ
– Băng dính
Thực hiện:
– Dùng bút chì phác thảo họa tiết lên quần. Bạn có thể in hình từ trên mạng ra giấy để vẽ theo, hoặc chỉ cần vẽ những họa tiết đơn giản như chấm bi, gạch chéo, các hình tam giác, chữ nhật lồng vào nhau v.v… tùy vào sự ứng biến sáng tạo của bạn.  
– Bắt đầu tô màu với những phần có màu sáng nhất rồi mới chuyển sang những phần có màu đậm (để tránh bị lem màu). Nếu không có sẵn nhiều màu thì bạn có thể tự pha các tông đậm nhạt bằng cách pha thêm màu trắng để làm màu sáng hơn, và pha thêm màu đen/xanh đậm để màu tối hơn. Bạn nên dùng băng dính dán vào những phần không định vẽ để màu không bị lem sang.
– Với những khoảng họa tiết nhỏ thì bạn nhớ dùng cọ đầu nhỏ để tô màu. Sau đó phơi khô trong khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ.
– Để giữ lớp màu được bền hơn, hãy đặt một miếng vải cotton mỏng lên mặt quần short rồi dùng bàn là là qua trong khoảng 3 phút. Với công đoạn này, lớp sơn màu sẽ không bị thấm nước và bạn có thể giặt quần thoải mái trong máy giặt!
Giờ thì có lẽ bạn sẽ mong trời sẽ ấm mãi thôi để được tha hồ diện chiếc quần short này, còn nếu không thì kết hợp với quần tất màu đen cũng sẽ rất nổi bật nhé!
2. May quần ngố từ khăn
Đôi khi bạn muốn tự may một chiếc quần họa tiết nhưng lại mãi chẳng kiếm được mảnh vải nào có họa tiết ưng ý. Trong khí, chiếc khăn quàng cũ của mẹ lại có những hình vẽ rất đáng “đồng tiền bát gạo”. Nếu như bạn không còn muốn dùng chiếc khăn này nữa thì có thể tái chế nó thành một chiếc quần ngố ống rộng nhìn rất sang và độc đấy.
Nguyên liệu:
– Một chiếc quần ngố của bạn làm mẫu (có thể dùng quần ngủ pijama) 
– Kim, chỉ hoặc máy khâu
– Khăn lụa bản rộng
– Kéo, ghim
– Dây chun, thước dây
Thực hiện:
– Cắt bỏ nhãn mác trên khăn và ướm chiếc quần vào làm mẫu. Vì chỉ may quần ngố nên bạn áng chừng sao cho chiều dài của quần không dài quà ¾ chiếc khăn.
– Dùng quần làm mẫu để cắt miếng vải ra, chừa khoảng 1cm để làm mép may.
– Từ chiếc khăn, bạn có thể cắt được 4 miếng vải theo mẫu.
– Xếp từng cặp vải để khâu từng bên ống quần. 
– Ghim các mép vải dọc hai bên ống quần: mép ngoài thì ghim từ lưng đến cách gấu 3cm (để làm phần xẻ tà), mép trong chỉ ghim từ gấu lên đũng.
– Khâu các mép vải lại và ráp hai bên ống quần với nhau bằng mũi zig zag rồi tháo ghim ra. 
– Gấp mép trên lưng quần và khâu lại để làm cạp luôn chun.
– Luồn dây chun vào cạp là bạn có chiếc quần hoàn chỉnh.
Chiếc quần lụa siêu thời thượng này sẽ rất hợp để mặc cùng với áo vest và sandal trong những ngày đầu xuân, những bữa tiệc thân mật với bạn bè, vừa thoải mái mà cũng rất sang trọng, lịch sự. 
Tự chế quần họa tiết đón xuân sang