Đăng bởi Để lại phản hồi

Hoa hậu Tiểu Vy với nghi thức hầu đồng tại Miss World

Trong phần thi đầu tiên tại Miss World 2018Hoa hậu Tiểu Vy đã lựa chọn thể hiện điệu múa chầu văn – một loại hình nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam.

 

 

  Miss World 2018 đã chính thức khởi động với phần thi đầu tiên “Top of the World” nhằm chọn ra những điệu múa đặc sắc từ các nước để biểu diễn chính tại đêm chung kết. Đến với phần thi này, Hoa hậu Tiểu Vy đã thể hiện điệu múa chầu văn – một loại hình nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam gắn liền với nghi thức hầu đồng – đến với Miss World.  Đây được xem là tiết mục đậm chất văn hoá và khá phức tạp. Tiểu Vy phải tập múa với đuốc nến trên 2 bàn tay, các động tác đòi hỏi sự mềm dẻo, tinh thần, ánh mắt phiêu lãng mang tính chất tâm linh của đạo Mẫu.  “Vy cảm thấy hơi tiếc vì phần đặc sắc nhất trong điệu múa chầu văn này là việc múa với lửa, nhưng để đảm bảo an toàn, ban tổ chức đã hạn chế phần này” – Hoa hậu Tiểu Vy chia sẻ.  Trang phục của Hoa hậu Tiểu Vy cho phần thi này cũng được đánh giá cao. Cô và êkíp trong chuyến công tác Hà Nội đã lặn lội đến các khu phố cổ, các nghệ nhân chuyên may thêu trang phục cho các nghi lễ hầu văn để nhờ tư vấn trang phục.  Sắc xanh của miền rừng núi được thể hiện trên nền gấm có hoa văn tinh xảo sang trọng. Các hoạ tiết cỏ cây, hoa lá và chim công đang múa được thêu bằng chỉ ngũ sắc, chỉ vàng kim tinh xảo để tạo nên sắc màu rực rỡ, bắt mắt cho bộ trang phục.  Năm nay Tiểu Vy được đích thân đạo diễn Hoàng Nhật Nam tư vấn cho tiết mục “Cô đôi thượng ngàn” trên nền ca của ca nương Kiều Anh và dàn nghệ sĩ hát văn cùng dàn nhạc cụ dân tộc độc đáo.  Tiết mục mang đến sự tươi vui, rộn ràng với giá Cô đôi dạo chơi miền rừng núi với muôn thú, cỏ hoa cây trái chốn tiên cảnh.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Cỗ chay và cỗ mặn cúng Rằm tháng 7 của người Việt.

Mâm cơm cúng Rằm tháng 7 thường được các gia đình làm theo 2 kiểu khác nhau: cỗ chay và cỗ mặn. Và tất nhiên, dù làm cỗ nào, bạn cũng không thể thiếu các đồ như hương hoa, vàng mã, đèn, nến, trầu cau, ngô, bỏng gạo… Cùng xem các món ăn có trong 2 mâm cỗ này là gì?

Mâm cơm cúng Rằm tháng 7 của người Việt thường là cỗ chay hoặc cỗ mặn. 

Mâm cơm cúng Rằm tháng 7 bằng đồ mặn bao gồm:

  • 1
    Xôi đỗ xanh
    Đây chắc hẳn là món ăn đầu tiên trong mâm cơm cúng Rằm tháng 7 không thể thiếu của người Việt. Theo truyền thống, trong tất các các ngày lễ Tết hay ngày Rằm thì xôi là món ăn không thể thiếu khi cúng ông bà tổ tiên. Bạn có thể dùng xôi đỗ xanh để làm mâm cỗ chay hay cỗ mặn đều được.
    Với món ăn này, bạn sẽ có đĩa xôi thơm nức mũi, hạt dẻo mềm kết hợp với những hạt đậu xanh bở tơi vô cùng hấp dẫn. Lưu ý, trước khi nấu xôi, bạn nên chọn loại nếp cái hoa vàng rồi ngâm gạo qua đêm để xôi được dẻo hơn nhé!
    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt1
    Xôi đỗ xanh chắc chắn là món ăn không thể thiếu trong mâm cơm cúng Rằm tháng 7 của người Việt.
  • 2
    Gà luộc
    Cũng như xôi đỗ xanh, gà luộc cũng là món ăn không thể thiếu trong bất cứ mâm cỗ nào của người Việt. Và mâm cơm cúng Rằm tháng 7 cũng không ngoại lệ.
    Trong ngày này, các gia đình thường cúng gà trống hay gà mái đều được. Dù cúng gà nào đi chăng nữa, các bà nội trợ đều phải chọn những con gà to, khỏe, chắc thịt mang về làm sạch rồi luộc chín. Để cho món gà luộc được đẹp mắt, họ thường quết lên gà lớp hỗn hợp mỡ gà và nghệ giã nát cho da gà căng bóng. Nếu nhà nào cẩn thận, họ còn luộc gà rồi bẻ cánh thành hình cánh tiên rồi cài thêm bông hoa hồng vào mỏ vô cùng bắt mắt.
    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt2
    Gà luộc cũng là một trong những món ăn phải có trong mâm cơm cúng Rằm tháng 7.
  • 3
    Giò lụa
    Giò, chả cũng là một trong những món ăn truyền thống trên mâm cỗ mặn của người Việt. Dù ngày nay, giò chả được bán rất nhiều trong các siêu thị nhưng nếu có thể, bạn hãy tự tay làm một đĩa giò lụa để dâng lên ông bà tổ tiên trong mâm cơm cúng Rằm tháng 7.
    Những miếng giò lụa được xếp khéo léo sẽ giúp mâm cỗ của gia đình bạn thêm bắt mắt. Hơn nữa, đây cũng là một trong những món ăn kèm với xôi đậu xanh hoặc xôi gấc rất tuyệt đấy. Những miếng giò lụa óng mượt, thơm mùi tiêu do chính tay bạn làm chắc chắn sẽ hấp dẫn các thành viên trong gia đình.
    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt3
    Những miếng giò lụa cắt tỉa khéo léo sẽ giúp mâm cơm cúng của bạn đẹp mắt hơn.
  • 4
    Nem rán
    Mỗi khi cần làm cơm cúng, thì nem rán cũng là một trong những món ăn đầu tiên được các bà nội trợ nghĩ tới. Đây không chỉ là món ăn truyền thống của người Việt, mà nem rán còn trở thành niềm tự hào của người dân miền Bắc. Những miếng nem rán vàng ươm, giòn tan khi ăn có vị ngọt bùi của các loại nhân vô cùng hấp dẫn.
    Để món ném rán cho mâm cơm cúng Rằm tháng 7 thêm trọn vị, bạn đừng quên pha một bát nước chấm nem chua ngọt để ăn kèm nhé. Nước chấm chua ngọt sẽ giúp hạn chế độ ngấy của món nem đấy.

    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt4
    Khi làm cỗ mặn cúng Rằm tháng 7, bạn đừng quên làm món nem rán nhé!
  • 5
    Nộm gà
    Dù là món ăn không bắt buộc phải có trong mâm cỗ cúng. Nhưng món nộm bao giờ cũng được nhiều người lựa chọn. Món nộm giúp cho bữa cơm ngày Rằm của gia đình bạn bớt ngấy ngán hơn bởi những món giò chả, nem rán.
    Bạn có thể làm rất nhiều món nộm khác nhau từ nộm đu đủ, nộm dưa chuột hay nộm hoa chuối…Tuy nhiên, nếu để đặt trên mâm cỗ cúng Rằm tháng 7 thì món nộm gà xe phay ngọt mát sẽ sang trọng và ngon miệng hơn nhiều.

    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt5
    Nộm gà sẽ giúp bạn chống ngán trong bữa ăn.
  • 6
    Miến nấu lòng gà
    Sau khi làm xong tất cả các món trên, bạn hãy tận dụng nước luộc gà để nấu miến nhé. Theo quan niệm, mâm cỗ cúng phải có bát canh, nhưng thay vì nấu canh, bạn có thể nấu bát miến để đặt lên mâm cơm cúng Rằm tháng 7 của gia đình.
    Miến nên nấu sau nhất bởi nấu sớm, miến sẽ bị nát ăn mất ngon. Sau khi nấu miến, bạn nên vớt riêng ra, khi nào ăn mới chan nước dùng vào. Những sợi miến dai dai, ăn kèm với nước dùng ngọt thanh cũng là món ăn giúp bạn đỡ ngấy ngán hơn trong ngày này đấy.

    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt6
    Món ăn cuối cùng trong mâm cỗ mặn là miến nấu lòng gà.

Mâm cơm cúng Rằm tháng 7 bằng cỗ chay gồm có:

  • 1
    Tôm chay
    Trong các mâm cỗ, nếu có điều kiện, nhiều gia đình cũng không quên làm thêm một đĩa tôm chiên, hoặc tôm hấp để cúng. Tuy nhiên, nếu là cỗ chay, bạn vẫn có thể có một đĩa tôm rất đẹp mắt trên mâm cỗ của gia đình bằng cách tự tay tạo ra món tôm chay cực ngon miệng.
    Tôm chay không chỉ là món ăn giúp cho mâm cơm cúng Rằm tháng 7 thêm bắt mắt mà còn rất ngon miệng nữa. Cách làm tôm chay khá đơn giản, bạn có thể tạo ra chúng bằng những miếng váng đậu phụ rất dễ kiếm.
    Mâm cơm cúng rằm tháng 7 của người Việt7
    Tôm chay là món ăn ngon miệng mà rất bắt mắt cho mâm cỗ Rằm tháng 7.
  • 2
    Nem nấm chay
    Để cho mâm cỗ cúng Rằm tháng 7 đầy đủ, bạn cũng đừng quên làm món nem chay nhé. Nếu chưa có ý tưởng nào cho món nem này thì làm nem nấm có thể là gợi ý hay ho cho bạn đấy.
    Nem nấm chay ăn giòn tan, vỏ ngoài vàng ươm, nhân bên trong gồm nhiều loại nấm ngọt thanh, cũng ngon chẳng kém gì các món nem mặn mà bạn vẫn thường làm đâu.

    Nem nấm chay ngon chẳng kém các loại nem mặn khác.
  • 3
    Đậu phụ non sốt chay
    Trong danh sách của những người ăn chay trường, không thể nào thiếu món đậu phụ. Tuy nhiên, trong mâm cỗ chay nếu bạn chỉ cúng vài bìa đậu phụ luộc thì mâm cỗ sẽ không bắt mắt và hấp dẫn. 
    Để thay đổi khẩu vị cũng như màu sắc món ăn, bạn có thể tham khảo món đậu phụ non sốt chay nhé. Đậu phụ non sốt chay với vị cay cay của nước sốt cùng với vị mềm mịn của đậu phụ non chắc chắn sẽ khiến bạn hài lòng.

    Đậu phụ non sốt chay cay cay cũng là món ăn vô cùng hấp dẫn cho mâm cỗ cúng Rằm.
  • 4
    Chả lá lốt chay
    Chả lá lốt chay có công thức làm khá đơn giản, nhưng lại là món rán khá ngon miệng và bắt mắt cho mâm cơm cúng Rằm tháng 7 cho gia đình bạn.
    Nếu bình thường, làm chả lá lốt, bạn thường gói bằng nhân thịt, cá thì với món chả lá lốt chay, bạn chỉ cần thay nhân bằng đậu phụ, mộc nhĩ, đậu Hà Lan và ngô ngọt là cũng có món chả rán thơm lừng cho cả nhà rồi. Chắc chắn, ai ăn cũng ngạc nhiên về sự khéo léo của bạn trong việc sáng tạo ra món ăn lạ vị như thế này.

    Chả lá lốt chay là gợi ý thú vị cho mâm cỗ chay của bạn vào Rằm tháng 7.
  • 5
    Canh rau củ chay
    Trong bất kỳ mâm cỗ nào dù là cỗ chay hay cỗ mặn thì không thể thiếu được bát canh. Nếu trong mâm cỗ mặn, bạn có thể thay canh bằng bát miến nấu lòng gà thì với cỗ chay, bạn có thể nấu một bát canh rau củ để cúng tổ tiên.
    Canh rau củ là sự kết hợp của các loại củ, quả như hạt sen, củ đậu, cà rốt, su hào…Không chỉ tạo nên món canh cực hấp dẫn với nhiều dưỡng chất mà món canh này còn rất bắt mắt nhờ sự kết hợp nhiều màu sắc của các loại rau củ. Chắc chắn, ai nhìn thấy món canh này cũng không thể rời mắt khỏi nó.

    Canh rau củ sẽ là món ăn giúp mâm cơm cúng Rằm tháng 7 của bạn thêm trọn vẹn.
Đăng bởi Để lại phản hồi

THẾ NÀO LÀ ĐỦ LỄ

Cúng lễ là cúng Trời Đất và Người. Người đây là người trần thắp hương và người âm mà ta thờ cúng (Đức Phật, các Tiên Thánh, Thần linh, Gia tiên…). Tức là khi cúng, ta đã kết hợp Thiên Địa Nhân thành hợp nhất. Thiên Địa Nhân hợp nhất luôn là yếu tố đảm bảo phát triển bền vững. Vì vậy khi cúng ta phải có đủ 3 thứ sau đây trên bàn thờ thì mới thành lễ: Lửa, Nước và Hương.





Vì sao phải đủ 3 thứ trên?


– Lửa: chỉ có ở trên Trời mới có lửa. Mặt trời tắt thì Trái đất đóng băng, không còn sự sống. Sấm sét cũng chỉ có trên Trời. Vậy Lửa là Thiên (T).


– Nước: Chỉ có Trái đất mới có nước. Các hành tinh khác trong hệ Mặt trời đều không có nước. Vậy Nước là Địa (Đ).


– Hương: là người châm hương, người làm ra hương. Vậy Hương là Nhân (N).


Có 3 thứ trên là có T+Đ+N. Cộng với tấm lòng thành là đủ lễ rồi. Đồ lễ nhiều ít, thậm chí không có cũng không quan trọng. Thần linh và gia tiên không đòi cái đó. Nhưng tấm lòng thành thì không thể thiếu được. Vì vậy nếu tâm ta chưa tịnh, lòng ta chưa thành thì chưa vội thắp hương. Vợ chồng vừa mới cãi nhau xong, hay vừa quát mắng con xong thì chưa nên thắp hương cúng lễ vội. Đi lễ chùa, đền miếu cũng vậy, cần chuấn bị cho ta một tâm hồn thanh tịnh, một tấm lòng thành rồi hãy đi.


Nói như trên không có nghĩa là ta không cần đồ lễ. Nhưng không nên quá vị vào đồ lễ nhiều hay ít. Nhiều ít đều được, nhưng phải đủ loại hình tùy theo lễ (thí dụ: lễ Phật chỉ có lễ chay, lễ Thánh Thần, Gia tiên có thể lễ chay hoặc lễ mặn v.v…). Đồ lễ phải tươi thơm vì người cõi âm chỉ hưởng cái hương của đồ lễ. Không được đưa lên bàn thờ đồ lễ đã ôi thiu, trái cây đã héo, hoa đã úa tàn.


Thiếu một trong 3 thứ T Đ N nêu trên thì không thành lễ. Thực tế cho thấy, hầu hết mọi người khi cúng đều có thắp hương. Tỷ lệ quên thắp hương chỉ khoảng 1/1000. Nhưng thiếu nước hoặc thiếu lửa thì nhiều. Tỷ lệ này có đến 50% các nhà. Rượu không phải là nước, nên không thay nước được. Nước phải là nước sạch tự nhiên (như nước máy, nước mưa, nước giếng, nước sông hồ…). Không nhất thiết phải là nước đun sôi, nhưng không được dùng nước ôi thiu có mùi hoặc nước bị ô nhiễm. Lửa phải châm được hương mới là lửa. Đèn điện đỏ không thay lửa được vì không châm được hương. Cũng không dùng lửa quá nhiều vì người âm sợ nóng. Có thể dùng một ngọn nến nhỏ hoặc một đèn dầu nhỏ lửa. Không thắp quá nhiều nến hoặc nhiều đèn dầu trên bàn thờ. Trên bàn thờ không nên thắp đèn đỏ, và không đặt đèn chiếu sáng ngay phía trên bàn thờ. Bàn thờ nên tối và mát.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Chữ viết Lưỡng Hà

      Chữ viết ở Lưỡng Hà đầu tiên do người Xume sáng lập vào cuối thế kỷ IV TCN. Trong thời kỳ đầu, chữ viết của Lưỡng Hà cũng là chữ tượng hình. Ví dụ, muốn viết các chữ “chim, cá, lúa, nước” thì vẽ hình con chim, con cá, bông lúa, làn sóng. Dần dần, các hình vẽ được đơn giản hóa, tức là không phải vẽ toàn bộ sự vật mà chỉ vẽ một bộ phận tiêu biểu mà thôi. Ví dụ: chữ “trời” chỉ vẽ một ngôi sao, chữ “bò mộng” chỉ vẽ một cái đầu bò với hai cái sừng dài.





      Trên cơ sở chữ tượng hình, để biểu thị các khái niệm, động tác… người ta phải dùng phương pháp biểu ý. Ví dụ: muốn viết chữ “khóc” thì vẽ con mắt và nước, “đẻ” thì vẽ chim và trứng, “bò rừng” thì vẽ bò và núi. Lúc đầu, hình cái cày vừa có nghĩa là cái cày, lại có nghĩa là người cày. Để phân biệt, bên cạnh hình cái cầy có thêm hình gỗ thì có nghĩa là cái cày, bên cạnh hình cái cày có thêm hình người thì tức là người cày.
      Người ta còn dùng hình vẽ để mượn âm thanh. Ví dụ: muốn viết âm “xum” thì vẽ bó hành, vì bó hành có âm là “xum”. Các hình vẽ chỉ âm tiết còn kết hợp với một số hình khác để phân biệt các khái niệm. Ví dụ: hình bàn chân kết hợp với âm tiết NA là “đi”, hình bàn chân kết hợp BA là “đứng”. Chữ hài thanh còn dùng để biểu đạt nhiều loại từ khác như giới từ, phó từ… Nhờ có chữ hài thanh, số chữ tượng hình càng ngày càng ít đi. Lúc đầu có khoảng 2000 chữ, nhưng đến thời Lagat (thế kỷ XXIX TCN) chỉ còn lại khoảng 600 chữ.
      Chất liệu dùng để viết là các tấm đất sét còn ướt và những cái que vót nhọn. Viết trên đất sét chỉ thích hợp với những nét thẳng và ngắn; vì vậy, những nét dài được thay thế bằng những nét ngắn và nét cong thì thay bằng nét thẳng. Ví dụ: Cái đầu bò được thay bằng một hình tam giác đỉnh chúc xuống dưới, phía trên có hai đoạn thẳng biểu thị hai cái sừng. Đồng thời, do dùng que viết trên đất sét nên chỗ mới ấn vào thì nét to, chỗ rút bút ra thì nét nhỏ, do đó các nét đều giống hình cái nêm. Do sự bố trí khác nhau của các nét ấy mà tạo thành các chữ khác nhau. Loại chữ này được gọi là chữ tiết hình tức là chữ hình nêm.
      Tổng số chữ tiết hình không đến 600 chữ, trong đó dùng chỉ có 300 chữ, nhưng mỗi chữ thường có vài nghĩa.
     Chữ tiết hình cũng do người Xume phát minh, về sau, người Accat, người Babilon, người Atxiri và các tộc khác ở Tây Á cũng dùng chữ tiết hình để viết ngôn ngữ của mình. Đến khoảng năm 1500 TCN, chữ tiết hình thành văn tự ngoại giao quốc tế, ngay Ai Cập khi ký điều ước hoặc các văn kiện ngoại giao cũng dùng loại chữ này. Về sau người Phêxini và người Ba Tư đã cải tiến chữ tiết hình thành vần chữ cái. Tuy nhiên, ở Lưỡng Hà, các tăng lữ, quan tòa và nhà chiêm tinh vẫn dùng chữ tiết hình đến trước, sau công nguyên mới bị chữ phiên âm hoàn toàn thay thế.
      Lúc đầu, chữ tiết hình được viết từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Về sau, vì viết như thế có một điều bất tiện là khi viết đến dòng thứ hai thì tay xóa mất dòng thứ nhất vừa viết, vì vậy người ta đổi thành cách viết từ trái sang phải và theo hàng ngang, đồng thời mỗi chữ cũng quay 90 độ. Sau khi viết xong quay tấm đất sét lại thì vẫn thành viết từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Nếu sách gồm nhiều trang thì mỗi tấm phải có tên sách và số trang, đồng thời đầu trang sau phải nhắc lại dòng cuối cùng của trang trước. Sau khi viết xong, muốn bảo tồn lâu dài thì cho vào lửa nung. Loại “giấy” này có ưu điểm là không bị mục nát, mối mọt, không bị cháy, nhưng lại có khuyết điểm là dễ vỡ và quá nặng. Một quyển sách 50 trang thì phải nặng đến 50 kg. Ngày nay, ở Ninnivơ – kinh đô của Atxiri ngày xưa đã phát hiện được trên 20.000 tấm đất sét như vậy, kể cả ở các nơi khác đã phát hiện được mấy trăm ngàn tấm.
      Từ cuối thế kỷ XVIII, một học giả Đan Mạch tên là Cacxten Nibua bắt đầu nghiên cứu cách đọc chữ tiết hình trên một minh văn do thương nhân Ý đưa từ Ba Tư về châu Âu nhưng chưa thành công. Năm 1802, một giáo viên trung học người Đức tên là Grotefend đã đọc được hai đoạn minh văn. Grotefend đã đọc được 12 chữ trong bảng vần chữ cái của Ba Tư, về sau được chứng minh là 9 chữ cái trong số đó hoàn toàn chính xác. Như vậy, Grotefend đã đặt cơ sở cho việc đọc chữ tiết hình.
        Năm 1835, nhà du lịch người Anh Rawlinson phát hiện được một bản minh văn khắc trên vách đá, cao 4m, dài 20m, gồm 400 hàng. Ông đã bỏ ra mấy năm để chép bản minh văn ấy. Việc đọc chữ tiết hình được tiến triển thêm một bước.
       Năm 1857, bốn độc giả đã độc lập nghiên cứu nhưng đã cùng đọc được một đoạn minh văn chữ tiết hình Atxiri. Vì vậy, năm này được coi là năm khai sinh môn Atxiri học. Từ đó, cả kho tàng tư liệu của khu vực Lưỡng Hà thuộc các lĩnh vực văn học, lịch sử, pháp luật, kinh tế, khoa học… được dịch ra ngôn ngữ hiện đại.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Cây đèn kỳ lạ



Sau lễ tiễn đưa Phật và các thầy Tỳ kheo trở về tịnh xá Kỳ Hoàn, vua A Xà Thế cùng với đình thần trở lại nội cung để dự buổi yến thân mật và bàn một vài việc cần làm thêm trong ngày đại lễ hôm ấy:




Câu chuyện mở đầu trong bữa tiệc là những lời sau đây do vua A Xà Thế phát khởi.



– Các khanh! Quả nhân rất bằng lòng và thỏa mãn về việc các khanh đã lo liệu quá ư tươm tất trong buổi lễ cúng dường Phật và giáo hội vừa rồi.


Hướng đôi mắt về phía đại thần Kỳ Bà, VuaA Xà Thế nói tiếp:


Kỳ Bà! Khanh nghĩ hộ quả nhân xem còn cóviệc gì đáng làm nữa để quả nhân tận hiến tấc dạ chí thành lên đức Chí Tôn và giáo hội – những người tận tụy trong công việc giáo hóa chúng sanh nói chung, thần dân của quả nhân nói riêng, trở về với ánh sáng chân lý.


Ðứng dậy ngẫm nghĩ trong chốc lát, rồi đạithần Kỳ Bà thong thả tiếp:


– Tâu đại vương, ngoài sự cúng dường trai phạn và y phục mà Ðại vương đã dâng lên đức Chí Tôn và giáo hội, theo thiển ý của hạ thần thì không việc gì có ý nghĩa hơn việc cúng dường ánh sáng. Vì ánh sáng trượng trưng cho trí tuệ, cho sự giác ngộ; ở đâu có ánh sáng thì ở đó bóng tối tan mất. Cũng như ánh sáng Phật và giáo hội đến đâu thì ở đó si ám và tội lỗi đều tiêu sạch. Ngu ý của hạ thần chỉ có bấy nhiêu, kính mong bệ hạ thẩm xét.


– Hay lắm! Ý kiến của khanh rất chí lý!Tiện đây nhờ khanh thay quả nhân sắm sửa cho thật nhiều đèn đuốc để tối hôm nay dâng lên Phật và giáo hội tại tịnh xá Kỳ Hoàn.


Ðại thần Kỳ Bà vâng thuận. Buổi tiệc bắt đầu và tiếp diễn trong tình thân mật giữa nhà vua và các vị cận thần.


Chiều hôm ấy, trên đường trở về xóm nghèo,một bà lão hành khất gặp rất nhiều xe cộ, lính tráng, tấp nập khuân chở những thùng dầu, đèn và cả những  chiếc lồng đèn ngũ sắc rực rỡ.


Hỏi thăm, bà lão hành khất biết đó là lễvật của nhà vua đem cúng dường Phật và giáo hội.


Hình tướng trang nghiêm của Phật và các thầy Tỳ kheo lại hiện về trong óc bà. Bà vui hẳn lên và rất tán thành việc làm có ý nghĩa của nhà vua. Và xét lại tự thân, thấy mình chưa làm đượcmột công đức nào đối với Phật và giáo hội, bà tự nghĩ phải sắm phẩm vật để cúng dường mới được. Thò tay vào bị, bà lão moi ra vỏn vẹn chỉ có 2 tiền. Một sự quyết định nhanh chóng trong lòng khiến bà hoan hỷ đi ngay vào một cái quán gần đấy…


– Thưa cậu! Làm ơn bán cho tôi hai tiềndầu thắp.


– Bà mà mua dầu làm gì? Sao không mua đồ ăn lại mua dầu, nhà cửa đâu mà dầu với đèn!


– Thưa cậu! Tôi thường nghe các bậc hiền đức trong làng bảo: “Ngàn năm muôn thuở mới có một đức Phật ra đời; người nào có nhiều phước duyên lắm mới được gặp”. Hôm nay tôi may mắn được gặp nhưng chưa có lễ mọn nào để dâng hiến lên Ngài. Ðiều ấy làm tôi vô cùng ân hận. Nhân tiện vua A Xà Thế sửa soạn đèn đuốc để dâng lên Ngài và giáo hội, tuy nghèo khổ, tôi cũng xin nguyện đem hai tiền mới xin được đây muadầu dâng ánh sáng lên Ngài.


Nghe bà lão hành khuất tỏ tấm lòng chânthiệt đối với Ðấng Giác ngộ, người chủ quán nhìn bà một cách cảm mến và hạgiọng: Hai tiền chỉ được hai muỗng, nhưng tôi xin tặng bà ba muỗng nữa là năm, và cho bà mượn luôn vịt đèn này. Mong bà nhận cho.


Sau khi cám ơn người chủ quán, bà lão ra về với bao niềm hoan hỷ vì được người khác biểu đồng tình và giúp mình trong công việc phước thiện.


Trời chưa tối hẳn, những cây đèn xinh xắn, lộng lẫy của nhà vua đã được những đội thị vệ thắp sáng. Tịnh xá Kỳ Hoàn như vui nhộn hẳn lên. Ðó đây vang lừng những điệu nhạc dịu dàng, nhịp nhàng với lới ca ngợi của những cận thần thay nhà vua tán thán công đức của Phật và giáo hội. Từng đoàn người lũ lượt đi dự lễ, đông như trẩy hội. Bà lão hành khất cũng tiến mau về phía Tịnh xá và dừng bước trước những hoa đăng rực rỡ, bà vội vàng đến rót dầu vào cây đèn mà bà đã lau sạch và thay tim. Vừa mồi ánh sáng bà vừa phát nguyện: “Cúng dường ánh sáng này lên Ðức Thế Tôn và giáo hội, con chỉ cầu mong làm sao con cũng sẽ được trí tuệ sáng suốt như các Ðấng Giác ngộ trong mười phương”. Bà lại nghĩ: “Dầu ít như vầy có sáng cũng chỉ đến nữa đêm là cùng”. Nhưng mạnh dạn bà thầm nguyện: “Nếu quả thật sau này tôi sẽ được giác ngộ như lòng tôi mong muốn hôm nay, thì số dầu ít ỏi này cũng làm cho cây đèn này sáng mãi không tắt”.


Sau khi treo cây đèn trên một cành cây, bà lão hành khất đi thẳng vào tịnh xá, chí thành lễ Phật rồi ra về…


Số đèn của nhà vua, tuy được những đội lính thay nhau lo việc châm dầu, thay tim, nhưng ít cây được sáng suốt đêm, cây thì bị gió thổi tắt, cây thì bị phật cháy…


Duy cây đèn của bà lão hành khất thì ánh sáng nổi bậc hơn muôn vạn cây đèn khác và cháy mãi đến sáng mà dầu vẫn không hao.


“Này đệ tử! Trời đã sáng, hãy ra tắt hết những cây đèn còn đỏ”, Ðức Phật dạy với Ngài Mục Kiền Liên như thế.


Tôn giả Mục Kiền Liên làm theo lời Phật.Nhưng đến cây đèn của Bà lão hành khất, thì ba lần Tôn giả quạt mạnh,nhưng ánh sáng cũng không mất. Lần thứ tư, Tôn giả cầm ngay vạt áo cà sa và vận hết thần thông diệu lực của mình quạt hắt vào đèn nhưng đèn lại rực sáng hơn trước. Tôn giả Mục Kiền Liên và những người chung quanh đều ngạc nhiên và cho đó là một cây đèn kỳ lạ chưa từng thấy.


Ngay lúc ấy, Ðức Phật vừa đến, Ngài điềm đạm bảo:


“Thôi! Ðệ tử hãy thôi. Dù cho đệ tử có tận dụng tất cả thần lực của đệ tử cũng không thể nào làm tắt được cây đèn này; vì đó là ánh sáng công đức của vị Phật trong tương lai”.


Lời dạy ấy của Ðức Phật đã làm cho nhiều đệ tử của Ngài muốn tìm hiểu ai là người đã cúng dường đèn ấy. Sau một cuộc điều tra kỹ càng, họ biết rõ người cúng dường cây đèn kỳ lạ ấy chính là một bà lão hành khất!


Câu chuyện này đến tai vua A Xà Thế. Nhà vua cho vời đại thần Kỳ Bà đến để thuật lại câu chuyện và hỏi:


– Kỳ Bà! Như khanh đã biết quả nhân làm rất nhiều công đức và cúng dường rất nhiều đèn nhưng không thấy Ðức ThếTôn dạy gì về quả báo của quả nhân. Trái lại, bà lão hành khất chỉ cúngdường có một cây đèn lại được Ngài thọ ký là nghĩa làm sao?


Ðại thần Kỳ Bà đứng lên ngần ngại mãi không dám trả lời.


– Kỳ Bà! Ngươi đừng ngại gì cả, quả nhân muốn tìm hiểu những nguyên khuyết điểm chứ không bao giờ dám nghĩ khác về Ðức Thế Tôn.


Ðôi mắt của đại thần Kỳ Bà bỗng sáng lên và khiêm tốn trả lời câu hỏi của nhà vua:


– Tâu đại vương! Theo những điều mà hạ thần được phỏng văn từ cửa miệng của những người thân cận các thầy Tỳ kheo và cộng thêm sự suy luận của hạ thần thì tuy đại vương cúng dường rất nhiều phẩm vật, song tâm ý không được chí thành cho lắm và có lẽ đại vương không phát đại nguyện; cho nên tuy có công đức mà không làm sao bằng công đức của bà lão hành khất chỉ cúng dường một cây đèn nhưng đó là cả một tấm lòng chí thiết, một dạ chí thành đối với những Ðấng Giác ngộ và nhất là lời thệ nguyện cao rộng của bà ấy.


Nghe đại thần Kỳ Bà phân tích tỷ mỉ về động cơ của sự cúng dường của mình và bà lão hành khất, sau một hồi suy nghĩ và xét lại bản tâm, vua A Xà Thế liền cởi mở được tất cả những điều thắc mắc

Đăng bởi Để lại phản hồi

TÙY DUYÊN TRONG CUỘC SỐNG

Tùy duyên trong cuộc sống là sống mà không câu nệ và chấp trước bất cứ một sự việc nào dù đó là thuận hay nghịch trong cuộc sống. Những việc đã và đang diễn ra trong cuộc sống chúng ta đều là những bài học làm tăng thêm vốn kinh nghiệm cho bản thân dù đó là những việc tốt hay xấu, đem đến thành công hay thất bại.







CÂU CHUYỆN THIỀN MÔN


Mùa hè đã đến, mùa mà cái nóng oi bức nhất trong năm, cả vườn cỏ của thiền viện đã trở thành một thảm cỏ khô vàng.
“Phát dọn cho sạch sẽ đám cỏ này đi, thế này thì thật là khó coi quá!” Chú tiểu nói.
“Đợi trời mát đã.” Sư phụ vẫy vẫy tay, “Tùy thời”.
Trung thu, Sư phụ lại mua về một bao hạt cỏ giống, gọi chú tiểu đem bao hạt giống này đi gieo. Gió mùa thu trỗi lên và cuốn đi những hạt giống vừa gieo. “Không xong rồi! Các hạt giống bị gió thổi bay đi cả rồi”, chú tiểu kêu la.
“Thôi đi con, không sao đâu, hạt giống vẫn còn rất nhiều, gió cuốn đi cũng không mọc được.” Sư phụ nói, “Tùy tính”.
Sau khi cơn gió đã lấy đi những hạt giống, tiếp theo lại có mấy chú chim đáp xuống mổ ăn. “Chết rồi! Hạt cỏ giống lại bị chim ăn hết rồi!” chú tiểu vừa nhảy vừa la.
“Không sao! Hạt giống còn nhiều, ăn không hết đâu!” Sư phụ nói, “Tùy ngộ”.
Nữa đêm lại bị một trận mưa dữ dội. Vừa mờ sáng chú tiểu vội vã chạy vào phòng thầy: “Sư phụ, lần này thì xong thật rồi! Những hạt giống bị mưa cuốn trôi hết rồi”
“Trôi đến đâu, thì nó sẽ mọc ở đó.” Sư phụ nói, “Tùy duyên”.
Hơn nữa tháng sau, một vùng đất trơ trụi lúc trước giờ lại mọc lên những mầm cỏ non xanh biên biết, có một số ngốc ngách không hề gieo trồng nhưng vẫn mọc lên xanh rờn. Chú tiểu vỗ tay và vô cùng vui sướng.
Sư phụ gật gật đầu: “Tùy hỷ”.


TINH THẦN TÙY DUYÊN BÂT BIẾN :


Tùy duyên trong cuộc sống không có nghĩa là phó thác cuộc đời mình cho tự nhiên, cho xã hội quyết định. Không phải như những cành cây khô mặc tình cho dòng nước cuốn trôi, vùi dập để rồi một lúc nào đó dòng nước lại dạt chúng vào bờ, đây là sự biểu hiện vô ý thức, không định hướng. Mà tùy duyên là sự hòa mình vào tự nhiên để cải thiện tự nhiên, là sự điều chỉnh những hành vi chưa được tốt trở thành tốt.


Tùy duyên trong cuộc sống là sống mà không câu nệ và chấp trước bất cứ một sự việc nào dù đó là thuận hay nghịch trong cuộc sống. Những việc đã và đang diễn ra trong cuộc sống chúng ta đều là những bài học làm tăng thêm vốn kinh nghiệm cho bản thân dù đó là những việc tốt hay xấu, đem đến thành công hay thất bại. Với những kinh nhiệm ấy chúng ta sẽ vận dụng trong cuộc sống hiện tại và tương lai, sử dụng chúng để tiếp nhận và ứng đối với những gì đang và sẽ diễn ra. Những hiện tượng của cuộc sống, của xã hội đều là vô định tính. Con người, xã hội và điều kiện cuộc sống luôn thay đổi và vận động, đây là sự tồn tại hoàn toàn hiện thực và khách quan. Bởi lẽ, mọi việc trong cuộc sống không phải lúc nào chúng ta cũng có thể sắp đặt được, có những sự việc do mình thiết lập, nhưng cũng có những việc do điều kiện tự nhiên và nhân duyên kết hợp tạo nên. Vì thế, chúng ta không thể trốn tránh những gì đang diễn ra trong cuộc sống, ngược lại chúng ta phải đối diện, phải có bản lĩnh tiếp nhận và giải quyết trên cơ sở những điều kiện vốn có và đang diễn ra đó. Cần hòa mình vào guồng quay cuộc sống để rồi từ đó phát huy và cống hiến cho cuộc sống những gì tốt đẹp mà mình đang có và xã hội đang cần. Cuộc sống là mãnh đất để chúng ta sống với chính mình và thực lý tưởng của chính mình. Đây chính là giá trị thực tiễn của sự “Tùy duyên”.


Sự biểu hiện của nước là hình ảnh, là tấm gương của lối sống tùy duyên. Nước dù ở điều kiện nào, môi trường nào chúng vẫn thích ứng “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, dù thay đổi hình thức, tướng dạng nhưng không hề thay đổi bản chất của nó. Đây là tinh thần “Tùy duyên bất biến”, tùy duyên là để thuận theo nguyên lý cuộc sống, bản chất cuộc sống, sống Đời mà không mất Đạo, với tinh thần này chúng ta có thể hiện hữu khắp nơi cùng chốn, hiện hữu trong từ ý niệm, hiện hữu trong từng cử chỉ hành vi. Nếu chúng ta có thể sống và vận dụng được tinh thần “Tùy duyên bất biến” thì chúng ta sẽ luôn luôn duy trì được ánh sáng của tự tâm, sẽ không bị những cám dỗ lôi kéo, không bị bất cứ hiện tượng sự vật nào làm cản trở hoặc đánh mất giá trị cuộc sống, con đường lý tưởng của chúng ta.

Đăng bởi Để lại phản hồi

Lý giải vấn đề tâm linh và ngoại cảm

Tâm linh và ngoại cảm luôn là vấn đề gây nên sự tranh cãi chưa bao giờ dứt. Tiến sĩ Vũ Thế Khanh, Tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng UIA, đưa ra quan điểm về vấn đề này.






TS. Vũ Thế Khanh: Tâm linh là từ Hán Việt, được ghép bởi 2 thành tố là Tâm và Linh. Tâm linh chính là “Tâm trong sáng, mầu nhiệm”. Nghịch nghĩa với “Linh” là “Ám muội”, trái ngược với Tâm Linh là Tâm ám muội. Người ta chỉ dùng từ “Linh” cho các bậc thần thánh (Thần Linh. Thánh Linh, Thiên Linh, Địa Linh), chứ không dùng từ “Linh” cho “Ma Quỷ”. Không ai gọi là “Ma linh”, “Quỷ linh”, mà chỉ gọi “Ma ám”, “Quỷ ám”. Hiện nay, khái niệm Tâm linh đa phần là dùng để chỉ cho thế giới vô hình của người đã chết, hoặc các sự việc huyền bí, thậm chí cả “ma quỷ” cũng gọi là “chuyện tâm linh”… Cần phân biệt rõ, “Ma Quỷ” và Tâm Linh là 2 phạm trù khác xa nhau về ý nghĩa, cũng như bác sỹ thì có thể nghiên cứu về sức khỏe, về vi trùng, nhưng bác sỹ không đồng nghĩa với vi trùng.


Tại trụ sở số 1, Đông Tác, Kim Liên, Hà Nội vừa là văn phòng của Liên hiệp khoa học UIA, đồng thời cũng là nơi thực hành các ca khảo nghiệm về khả năng đặc biệt do 3 cơ quan (Liên hiệp khoa học UIA, Viện Khoa học hình sự- Bộ Công an, trung tâm bảo trợ VH KTTT) đồng tổ chức. Và cũng là nơi tổ chức các pháp hội tâm linh “uống nước nhớ nguồn” để tri ân, cầu siêu cho các anh hùng liệt sỹ, những người có công với nước với dân và gia tiên các dòng họ. Để thực hiện những chức năng này thì tại đây đã bài trí ban thờ Phật, ban thờ Hội đồng Tâm linh các Liệt sỹ và gia tiên các dòng họ, ngoài ra còn có các phòng dùng cho việc đào tạo Tin học, ngoại ngữ, phòng khám và điều trị bệnh miễn phí… Với chức năng như vậy, và căn cứ vào khái niệm về Tâm Linh thì quý vị có thể gọi nơi đây là cái gì thì tùy theo sự lĩnh hội của mỗi người.




Tiến sĩ Vũ Thế Khanh Tổng Giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ UIA.


Ranh giới giữa khoa học và mê tín dị đoan là vô cùng nhỏ
2. Nguyên nhân sâu xa nào khiến TS có ý định thành lập UIA, đặc biệt là nghiên cứu lĩnh vực ngoại cảm – một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng cũng rất nhạy cảm ở nước ta?


TS. Vũ Thế Khanh: Tôi là người có tính phiêu lưu, thích nghiên cứu những gì mới lạ, nhất là những vấn đề mà khoa học hiện nay chưa lý giải thấu đáo. Để triển khai những ý tưởng nghiên cứu và ứng dụng khoa học Công nghệ mới, Liên hiệp UIA đã được thành lập theo tinh thần nghị định 35/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về quản lý khoa học và công nghệ.
Những năm 90 của thế kỷ trước, Tin học còn là lĩnh vực quá mới mẻ đối với nước ta, tiếp đến là các phương pháp dưỡng sinh không dùng thuốc mà vẫn có tác dụng đẩy lùi bệnh tật, rồi các hiện tượng về khả năng đặc biệt, về khả năng ngoại cảm, về thế giới Tâm linh, về khả năng đọc sách siêu tốc, về những bài thuốc dân tộc chữa ung thư máu, chữa HIV/AIDS…,Những nội dung này đều là mục tiêu hấp dẫn trong việc nghiên cứu và ứng dụng của Liên hiệp UIA.
Tôi đã có những ý tưởng nghiên cứu về thế giới siêu hình ngay từ khi tôi còn nhỏ và nhất là thời kỳ đang giảng dạy tại Trường Đại học Kiến trúc, bởi tôi có nhiều nhân duyên tiếp cận với các hiện tượng này. Khi còn tại thế, bàn tay của mẫu thân tôi có năng lực kỳ lạ: người trong làng hễ đau yếu là đến nhờ mẹ tôi “chữa”, chỉ có xoa xoa, vỗ vỗ…thế mà bệnh lại thuyên giảm. Không những thế, mẹ tôi còn dự báo nhiều điều rất khác thường, trong khi đó cụ lại chưa hề biêt đọc chữ. Thuở đó tôi cho rằng mẹ tôi mê tín dị đoan, nên không cho cụ “chữa bệnh”, thậm chí tôi còn ngăn cản, không ủng hộ việc mẹ đi lễ chùa, vì tôi cũng đã nghĩ rằng “đạo Phật là duy tâm, yếm thế, chủ quan…” Do vậy, tôi đến với những sự kiện Tâm linh, ngoại cảm bằng chủ nghĩa hoài nghi. Tôi chưa thể tin vào những sự kiện huyền bí nếu mình chưa có dịp kiểm chứng.
Tôi đã trực tiếp đến mời các chuyên gia của Viện Khoa học Hình sự – Bộ Công an để cộng tác nghiên cứu, nhằm tìm ra các bằng chứng vạch trần sự ngụy tạo của những đối tượng tự xưng là người “có khả năng đặc biệt.” Và trong chương trình này, chúng tôi đã thu hoạch được nhiều điều bổ ích. Đó là việc phát hiện ra trong số hàng trăm người tự xưng là “nhà ngoại cảm” thì có trên 90 % là rởm, là giả danh, cùng với việc tìm ra ra muôn vàn mánh khóe lừa đảo của chúng.
Tuy nhiên, chương trình nghiên cứu cũng đã kiểm chứng, tìm ra những người có khả năng ngoại cảm thực thụ, mặc dù số này chỉ chiếm chưa đầy 10% trong số những người đăng ký khảo nghiệm. Nghiên cứu Tâm linh, ngoại cảm là sự kiện nhạy cảm, và không hề dễ dàng bởi “ranh giới giữa khoa học và mê tín dị đoan là vô cùng nhỏ, thậm chí không biết cắm mũi kim vào đâu”. Do vậy nếu không có thái độ nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học thì dễ sa đà vào mê tín dị đoan, và nếu nghiên cứu qua loa đại khái, giáo điều, quan liêu thì mắc phải hội chứng “phủ định tất cả những điều mà mình chưa biết”. Trong quá trình khảo nghiệm khoa học, nếu không có sự kiên trì, dũng cảm, thiện tâm thì cũng không đủ cam đảm để khuyến khích, nâng niu, bảo vệ và khai thác những tài nguyên trí tuệ. Điều phát hiện lớn nhất của chúng tôi là đã khẳng định được: ngoại cảm là tài nguyên trí tuệ và hoàn toàn có thật.


3- Năm qua là một năm khá “sóng gió” với ngoại cảm khi liên tiếp các vụ việc chấn động dư luận. Nhiều người nghĩ rằng UIA là nơi “đỡ đầu” cho các nhà ngoại cảm. Chắc hẳn UIA cũng bị ảnh hưởng ít nhiều?
TS. Vũ Thế Khanh: UIA là cơ quan nghiên cứu khoa học với mục đích vì lợi ích cộng đồng, do vậy mọi sự biến động của xã hội cũng đều ảnh hưởng đến UIA. Tuy nhiên, “sóng gió” cũng là một thử thách cho bản lĩnh của những nhà hoạt động khoa học chân chính, thiện tâm. Nếu ta làm việc vì những mục tiêu lành mạnh, ích nước lợi dân thì “sóng gió” cũng là yếu tố tích cực để loại bỏ những đối tượng bất chính, giả danh ngoại cảm, hoặc “ăn theo” khoa học hướng thiện. Chân lý không phải chỉ tồn tại ngày một, ngày hai, và nó cũng không dễ bị xóa bỏ bởi một vài quan điểm chính trị nhất thời, mà nó có khả năng vượt qua không gian, vượt qua thời gian, vượt qua biến cố của mọi xu hướng chính trị.
Thông qua sự kiện này, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và dư luận xã hội càng hiểu rõ và ghi nhận về những đóng góp tích cực của Liên hiệp UIA cùng những bậc Thiện trí thức trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, và càng rõ thêm những đóng góp thầm lặng của những nhà ngoại cảm chân chính, đã giúp cho hàng chục vạn các gia đình tìm được mộ thất lạc, góp phần tích cực vào việc thực hiện nghĩa cử thiêng liêng “đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn”, tri ân những người có công với nước với dân. Những nhà ngoại cảm thực thụ cũng đã và đang nhận được sự quý trọng, cảm thông từ những người có thiện chí. Nhiều gia đình liệt sỹ đã động viên, bày tỏ sự ủng hộ, sẵn sàng chia sẻ những nỗi bức xúc cùng những nhà ngoại cảm chân chính. Những đối tượng giả danh ngoại cảm, hành nghề mê tín dị đoan, cũng như những kẻ đố kỵ với những thành tựu ngoại cảm, những người có hành vi tiêu cực, gian lận… thì rất sợ ngoại cảm chân chính phanh phui sự thật, nên chắc chắn sẽ chống đối quyết liệt và ra sức xuyên tạc, bôi nhọ danh dự của các nhà ngoại cảm chân chính.
Tâm linh vận hành hoàn toàn đúng theo luật Nhân – Duyên – Quả
4. UIA đang có những biện pháp gì để bảo vệ những nhà ngoại cảm đã được UIA công nhận khả năng?
TS. Vũ Thế Khanh: Muốn bảo vệ những nhà ngoại cảm chân chính thì trước hết phải phân biệt rõ thật và giả, phải đề nghị các cơ quan pháp luật trừng trị những kẻ giả danh ngoại cảm, giả danh tâm linh hành nghề mê tín dị đoan. Đồng thời cũng phải có những biện pháp thỏa đáng nhằm tẩy rửa những kẻ tham nhũng, lạm dụng quyền hành tráo đổi thông tin, tung dư luận thất thiệt về Tâm linh, ngoại cảm chân chính, xúc phạm đến hương linh Liệt sỹ và những người đã khuất.
Những hành vi bất thiện, mưu mô xảo trá chắc chắn sẽ bị luật Nhân Quả “hỏi thăm”. Ban khảo nghiệm sẽ công bố những kể giả danh ngoại cảm để mọi người cảnh giác, đồng thời cũng sẽ giới thiệu những thành tích suất sắc của những nhà ngoại cảm thực thụ trong việc tìm kiếm thông tin về các ngôi mộ bị thất lạc, góp phần tích cực trong việc thực hiện nghĩa cử đến ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn. Ban khảo nghiệm cũng sẽ giới thiệu THUẬT TOÁN trong quy trình khảo nghiệm và khuyến cáo những giải pháp hữu hiệu nhằm tăng độ tin cậy trong xác suất thông tin của các khả năng ngoại cảm, nhằm phát huy tính tích cực, khắc phục các mặt còn hạn chế trong việc triển khai ứng dụng các thành tựu của môn khoa học này, đối với những nhà ngoại cảm chân chính, cần đề nghị với cơ quan chức năng Nhà nước có hình thức khen thưởng thỏa đáng, và có những phương án phù hợp để quản lý, và khai thác năng lực trí tuệ của họ vào phục vụ cho những chương trình ích nước lợi dân.


5- Được biết sau khi thành lập UIA, những người đang làm việc và đang sinh hoạt tại ngôi nhà số 1 Đông Tác có khi nào bị ám ảnh bởi những hoạt động tâm linh ở đây không?
TS. Vũ Thế Khanh: Như trên đã nói, Tâm linh là “cái tâm trong sáng, vi diệu”, do vậy những ai hoạt động Tâm linh chân chính đều đem đến cho gia đình mình nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung những ảnh hưởng tốt lành. Không nên nói rằng “bị ám ảnh bởi hoạt động Tâm linh”, mà cần nói rằng “được hạnh hưởng những điều tốt lành bởi hoạt động Tâm linh”. Tâm linh chính là cái tâm trong sáng thì không thể bị ám ảnh bởi những kết quả tiêu cực được. Tất cả các thành viên đang làm việc và sinh hoạt tại số 1, Đông Tác đều quý kính Tam Bảo và đều quy y đạo Phật, đều đã được các bậc minh sư hướng dẫn để tập tu theo giáo lý Thiền Tông, do vậy họ đều tìm thấy sự an nhiên tự tại trong đời sống hàng ngày, cho dù xa hội luôn chuyển vần với những biến cố khi nắng khi mưa, khi thì thuận duyên, khi thì nghịch duyên.


6- Tiếp xúc với nhiều người có khả năng đặc biệt, TS có bí quyết nào riêng để ngay từ lần đầu tiên đã biết được người đó có khả năng đặc biệt thật hay không?
TS. Vũ Thế Khanh: Khi làm bất cứ nghề gì, muốn thành công đều cần 2 yếu tố: năng khiếu và kinh nghiệm thực hành. Nếu bạn có được cả 2 điều kiện này thì khắc tìm được bí quyết để dẫn đến những giải pháp thành công. Khi làm khảo nghiệm, như có một sự sắp xếp vi diệu nào đó, chỉ cần tiếp xúc khoảng mươi phút là chúng tôi đã có thể sáng tạo ra các bài “test” cho phù hợp với từng đối tượng đến xin tham gia khảo nghiệm. Mỗi đối tượng đều có bài thi riêng, và các “thí sinh” đều phải tâm phục khẩu phục bởi các cách thẩm định khách quan của ban khảo nghiệm. Đương nhiên, với các đối tượng thuộc dạng “dị nhân hoang tưởng” hoặc lừa đảo tinh vi, khi mánh khóe của họ bị phơi bày thì thường có những hành vi tiêu cực, hoặc thay tên, đổi họ, đổi địa chỉ để tiếp tục hành nghề mê tín dị đoan.


7- Từ khi làm công tác nghiên cứu tâm linh, TS thấy cuộc sống của mình có những thay đổi gì?Hiện tại, TS có bị ảnh hưởng nhiều bởi chủ nghĩa duy tâm?
TS. Vũ Thế Khanh: Đương nhiên, khi nghiên cứu về thế giới Tâm linh, bạn muốn có được “lăng kính chiếu yêu” để phân biệt được rõ ràng thật giả thì trước tiên phải nghiên cứu Phật Pháp, bởi Phật pháp là SIÊU KHOA HỌC. Nếu bạn hiểu rằng trí tuệ là tài nguyên, mà đã là tài nguyên thì trí tuệ có phải là lực lượng vật chất hay không?. Khi nghiên cứu Tâm linh, bạn không nên vướng vào thuật ngữ Duy tâm hay Duy vật. Sở dĩ người ta tách 2 phạm trù này ra là vì họ coi trí tuệ cũng như năng lượng tinh thần không phải là một tài nguyên. Theo lăng kính của thế giới Tâm linh, hằng hà sa số vũ trụ không chỉ là không gian 3 chiều mà còn nhiều hơn thế nữa, và sự tồn tại cũng như vận hành của thế giới Tâm linh là hoàn toàn theo quy luật khách quan, bất kể bạn có tin hay không tin vào nó. Với lăng kính Tâm linh, ta sẽ nhìn thế giới với cái Tâm rộng mở và nhân ái hơn. Nếu bạn tin và ứng dụng hợp lý thì sẽ được lợi lạc, nếu không tin hoặc hiểu sai, ứng dụng sai thì sẽ bị thiệt thòi – bởi Tâm linh vận hành hoàn toàn đúng theo luật Nhân – Duyên – Quả.
Xin cám ơn TS!

Đăng bởi Để lại phản hồi

Thờ Thần tài có cần thờ ai cụ thể không?

Có, phải cụ thể là thờ ai làm thần tài của nhà mình, không thờ chung chung được. Cũng như thờ Đức Phật thì phải là Đức Phật nào, thờ Thần linh thì phải Thần linh của nhà nào, căn hộ nào, thờ Gia tiên thì phải gia tiên dòng họ nào hoặc tên Ông Bà cụ kỵ nào. Trong bát hương thờ Thần tài phải có Dị hiệu ghi rõ như vậy.





Hiện nay có tình trạng nhiều nhà lập ban thờ Thần tài, nhưng không rõ thờ ai, thậm trí không biết có Thần về hay không. Qua kiểm tra nhiều ban thờ Thần tài ở các nhà và các cửa hàng tác giả thấy rất ít ban có Thần về. Thậm trí không ít ban thấy có các “Thần” mặc quần đùi áo may ô!? Có lẽ đấy là những vong hồn phiêu bạt ngoài đường phố, thấy có lộc thì vào xơi? Thế thì hy vọng gì ở họ được? Cho nên thờ ai thì phải có tên hiệu cụ thể.


1) Nên thờ ai làm Thần tài?


Theo tác giả thì có thể thờ một trong các vị sau đây làm Thần tài cho gia chủ:


– Triệu Công Minh, hay Triệu huyền Đàn. Đây là vị Thần mà người xưa vốn tôn thờ là Thần tài. Ngài có dung mạo oai phong, có khả năng trừ ôn diệt ác, nhờ thờ Ngài mà có được tài. Thường các nhà quan võ hay thờ Ngài làm Thần tài.


– Quan Vân Trường. Ngài là một danh nhân nổi tiếng thời Tam Quốc, nhân vật mà nhiều người biết trong truyện Tam Quốc diến nghĩa. Nhiều nhà thờ Ngài như một thần Tài. Những nhà có truyền thống võ bị thờ Ngài rất tốt. Người ta thờ Ngài còn vì những mục đích khác ngoài cầu tài.


– Tài Bạch Tinh Quân, còn gọi là Thái Bạch Tinh Quân. Tương truyền ông là Kim Thần trên Trời, được nhà Trời giao chuyên quản kim ngân, tiền bạc của nhà Trời. Ông có diện mạo trông phúc hậu. Những nhà làm nghề buôn bán thường thờ ngài.


– Ông Lộc. Là một trong 3 vị Tam đa Phúc Lộc Thọ. Tương truyền ông có tên là Đông Phương Sóc, ngũ đại đồng đường, lộc đủ nuôi 5 đời ở cùng một nhà ăn cùng một mâm. Các nhà làm nghề kinh doanh thường thờ Ngài. (Nếu có thờ cả 3 vị Tam đa thì cũng chỉ có ông Lộc là giúp mang tài về mà thôi).


– Bà Chúa Kho. Bà là người có công tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, cai quản kho lương vào thời kỳ chiến trận sông Như Nguyệt. Bà mất năm 1077 trong cuộc kháng chiến chống quân Tống ở phương Bắc. Nhà vua phong Bà là Phúc Thần. Dân dựng đền thờ Bà ở núi Kho và vẫn quen gọi Bà là Bà Chúa Kho. Đền thờ Bà còn có ở một số địa phương khác nữa. Người buôn bán kinh doanh chân chính thờ Bà làm Thần tài rất tốt.


– Thổ Thần tại gia. Nhà có đất rộng thì có thể lập một cây hương thờ Thổ Thần trong vườn đất nhà mình. Ngài là Thần được giao quản khu đất nhà ta, nên thờ Ngài để được trợ giúp về Tài vận và sự an lành cũng rất hiệu quả.


– Thần linh+ Gia tiên. Thành tâm thờ Thần linh Gia tiên trên bàn thờ tại gia sẽ được trợ giúp về Tài vận và nhiều lĩnh vực khác của cuộc sống. Cho nên bàn thờ Thần linh Gia tiên cần phải đặt tại góc trụ tài trong phòng. Và việc thờ cúng phải luôn thành tâm.


2) Khi lập ban thờ Thần Tài thì cần tránh mấy quan niệm sai sau đây:


– Thờ không rõ Thần nào;


– Thờ Thần Tài và Thổ địa chung trong một ban;


– Đặt ban thờ Thần tài dưới đất mà không đặt trên cao;


– Đặt ban thờ Thần tài ngay trước cửa ra vào mà không đặt vào góc tụ tài.


– Trong ban thờ Thần tài đặt quá nhiều thứ cầu tài khác gây lộn xộn.


– Thắp đèn đỏ hoặc đèn sáng trong ban thờ.


3) Ban thờ Thần tài cần đạt các yêu cầu sau đây:


– Có bát hương với Dị hiệu ghi rõ thờ ai làm Thần tài cho ta;


– Không thờ chung với Thổ địa;


– Ban thờ Thần tài, cũng giống như ban thờ Thần linh Gia tiên, cần đặt vào góc tụ tài và phải có tọa hướng hợp với mệnh chủ nhà. Góc tụ tài xác định theo từng phòng theo sơ đồ


– Bày biện đơn giản, có thể đặt mấy thứ sau đây: Tượng Thần tài hoặc Bài vị, bát hương, lọ hoa, lọ cắm hương, chén nước, đĩa bày đồ lễ chay. Cạnh ban thờ có thể đặt một Tỳ hưu cầu tài, hoặc 1 cóc ba chân, hoặc 1 quả cầu thu tài. Tỳ hưu hoặc cóc 3 chân đặt trông về đâu cũng được, tốt nhất là trông ra cửa đi hoặc cửa sổ. Chỉ nên đặt 1 thứ thôi, đặt nhiều là tham vọng đấy!. Bên thành ban thờ có thể dán Phù cầu tài để trợ giúp thêm. Dán trong hay ngoài ban thờ, hoặc dán trên tường bên cạnh ban thờ đều được.


– Không thắp đèn trong ban thờ, tối kỵ là đèn đỏ. Khi cúng có thể thắp 1 đèn dầu hoặc một ngọn nến nhỏ lửa.


– Ban thờ tối kỵ để nắng và gió thổi vào, tránh đặt gần cửa ra vào hoặc trên lối đi lại làm cho ban thờ sẽ luôn bị xáo động.

Đăng bởi Để lại phản hồi

GIỚI ĐỊNH TUỆ của BÁT CHÁNH ÐẠO _ Piyadassi Thera

Trước khi nhập diệt (Niết bàn) Ðức Phật cho gọi các hàng đệ tử lại và căn dặn: “Pháp và Luật (Dhamma vinaya) Như Lai đã giảng giải và ban hành cho các con, sau khi Như Lai diệt độ, chính Pháp và Luật này sẽ là Ðạo Sư của các con[1]“.
Từ lời di huấn này, chúng ta thấy rõ rằng đường lối tu tập của Ðức Phật, hệ thống Tôn giáo của Ngài, bao gồm Pháp và Luật. Luật hàm ý sự toàn hảo về phương diện đạo đức, chế ngự những hành động của thân và khẩu, phép tắc cư xử trong đạo Phật. Tất cả những điều này thường được gọi là Sìla (giới) hay học giới, pháp đề cập đến việc tu tập tâm, chế ngự tâm, đó là thiền hay sự phát triển Ðịnh Tâm (Samàdhi) và Trí Tuệ (Pannà). Ba phần Giới, Ðịnh và Tuệ này là những lời dạy căn bản nếu được tu tập một cách thận trọng và trọn vẹn sẽ nâng con người từ thấp lên cao; đưa họ từ bóng tối ra ánh sáng, từ tham dục đến xả ly, và từ loạn động đến tịnh lặng.



Tam học này không phải là những phần biệt lập mà là những phần không thể thiếu của Ðạo Lộ (giải thoát). Ý niệm này được kết tinh từ lời khuyến giáo thật sáng suốt của bậc Chánh Ðẳng Giác xưa cũng như nay: ‘Không làm các điều ác, tu tập các hạnh lành; giữ tâm ý trong sạch’ [2].
Ðây là những lời dạy cổ kính thường được trích dẫn nhưng lúc nào cũng thật mới mẻ, vì nó truyền đạt một cách cô đọng bức thông điệp của bậc Ðạo Sư như khi ngài chỉ ra con đường thanh tịnh và giải thoát. Tuy nhiên, Ðạo Lộ thường được nói đến như là Bát Thánh Ðạo hay Bát Chánh Ðạo (Ariyo atthamgiko maggo), mặc dù một số người thích gọi Ðạo Lộ này là Bát Thánh Ðạo, nhưng cũng nên chú ý rằng từ “Ariyan” ở đây không đại diện cho một chủng tộc, đẳng cấp, giai cấp hay dòng họ nào cả. Nó chỉ đơn thuần có nghĩa cao quý hay cao thượng, thế thôi.
Bát Chánh Ðạo được sắp thành ba nhóm: Giới, Ðịnh, Tuệ, Ðạo Lộ này là nét đặc thù của đạo Phật và phân biệt nó với mọi Tôn giáo và mọi triết lý khác.
Tám chi phần của đạo lộ là:
Nhóm tuệ  (Pannà):
Chánh Kiến (Sammà-ditthi)
Chánh Tư Duy
(Sammà-samkappa)
Nhóm Giới (Sìla):
Chánh Ngữ  (Sammà-vàca) Chánh Nghiệp (Sammà – kammanta)
Chánh Mạng
(Sammà àjiva)   
Nhóm Ðịnh  (Samàdhi):
Chánh Tinh Tấn (Sammà-vayama)
Chánh Niệm
(Sammà-sati)
Chánh Ðịnh
(Sammà-samàdhi)
Nói đến đạo lộ này, trong bài Pháp Ðầu Tiên[3], Ðức Phật đã gọi đó là Trung Ðạo (Majjhimà patipadà), bởi vì nó tránh xa hai cực đoan: Lợi dưỡng là đắm mình trong dục lạc được xem là thấp hèn, dung tục và dẫn đến nguy hại, là một cực đoan. Tự hành hạ mình bằng các hình thức khổ hạnh nghiêm khắc dẫn đến đau khổ, thấp hèn và nguy hại là một cực đoan khác.
Sống trong cung điện xa hoa giữa những đàn ca múa hát thâu đêm, đức Bồ tát biết bằng chính kinh nghiệm của mình, rằng dục lạc ngũ trần không đưa đến chân hạnh phúc và giải thoát. Sáu năm trường khổ hạnh, mà Ngài như một đạo sĩ khổ hạnh, đã thực hành rất nhiệt tình mong tìm sự thanh tịnh và giải thoát cuối cùng, nhưng cũng không đem lại kết quả gì. Ðó chỉ là một nỗ lực hão huyền, vô ích. Tránh xa hai cực đoan này, Ngài đi theo con đường tu tập giới và tâm, bằng vào kinh nghiệm tự thân đã khám phá ra Trung Ðạo bao gồm ba nhóm như đã kể trên.
Ðiều cần phải ghi nhớ ở đây là thuật ngữ “đạo” chỉ là cách diễn đạt có tính biểu trưng, mặc dù theo ước lệ chúng ta nói đến việc bước theo đạo lộ, thế nhưng trong ý  nghĩa  cùng  tột thì tám bước biểu thị cho tám Tâm Sở.
 Chúng tương quan và tương duyên lẫn nhau, ở cấp độ cao nhất thì chúng vận hành đồng thời chứ không phải bước theo từng bước hoặc thực hành hết chi này đến chi khác theo số thứ tự. Ngay cả ở mức độ thấp nhất cũng vậy, mỗi chi cũng như các chi cần phải được tác động với một mức độ nào đó của chánh kiến, vì đó là trọng tâm của đạo Phật.
Trước hết chúng ta hãy nghe những lời dạy này từ Ðức Phật:
‘Này các Tỳ kheo! chính vì không thông đạt, không thể nhập bốn pháp (Dhammà) mà Ta và các ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Bốn pháp ấy là gì? Này các Tỳ kheo! chính vì không thông đạt, không thể nhập Giới, Ðịnh, Tuệ và Giải Thoát mà Ta và các ngươi lâu đời trôi lăn trong biển sanh tử vậy. Nhưng khi bốn pháp này đã được thông đạt và thể nhập, này các Tỳ kheo, thời tham ái đối với đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch và nay không còn một đời sống nào nữa’[4].
Bậc Ðạo Sư nói thêm:
‘Ðịnh, này các Tỳ kheo, được hỗ trợ bởi giới sẽ đem lại quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm (định) được tuệ hỗ trợ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu) và vô minh lậu[5]‘.
Những  lời  dạy  này của Ðức Phật đã giải thích rõ
nhiệm vụ và mục đích của tu tập Giới, Ðịnh, Tuệ. Sự giải thoát có nghĩa là thấu thị cuộc sống khi đã tận diệt ba nhân căn để của bất thiện Tham, Sân, Si hay Vô Minh (Lobha, Dosa, Moha) từng tấn công tâm con người. Ba căn bản bất thiện này được loại trừ qua việc tu tập Giới, Ðịnh, Tuệ.
Như vậy chúng ta thấy giáo pháp của Ðức Phật nhắm vào sự thanh tịnh tuyệt đối, kiện toàn tâm lực, giải thoát khỏi những tham muốn thấp hèn.
Thế thì sự giải thoát khỏi những cấu uế của tâm này, sự giải thoát khỏi khổ này là trách nhiệm của tự thân mỗi con người, không phải là trách nhiệm của ai khác, dù là người hay chư thiên, ngay cả một vị Tối Tôn như Ðức Phật cũng không thể giải thoát cho ai khỏi những trói buộc của cuộc đời, ngoại trừ chỉ đường cho họ.
Ðạo lộ giải thoát gồm: Giới, Ðịnh, Tuệ thường được đề cập trong Kinh Ðiển như là Tam Học (tividhàsikkhà) và không có học nào trong tam học này tự thân nó là cứu cánh cả; mỗi học là một phương tiện để đi đến cứu cánh. Nghĩa là mỗi học không thể tu tập độc lập với các học khác. Như trường hợp một cái giá ba chân, nếu một chân gãy thì cả cái giá ấy sẽ sập, vì vậy ở đây, học này không thể làm nhiệm vụ nếu không có sự hỗ trợ của hai học khác. Tam học thường nương tựa và hỗ trợ lẫn nhau. Giới củng cố Ðịnh và Ðịnh trở lại thúc đẩy trí tuệ. Trí tuệ giúp hành giả loại trừ tà kiến đối với các pháp, thấy các pháp như chúng thực sự là, đó là thấy cuộc sống và tất cả pháp liên quan đến cuộc sống đều phải chịu sanh, diệt, vô thường.
Tới đây chúng ta đã thấy rõ tác động hỗ tương giữa Pháp và Luật (Dhamma-vinaya) hay giữa minh và hạnh (Vijjà-carana) hai yếu tố thạo thành một tiến trình phát triển duy nhất, ‘Như lấy tay rửa tay, hay lấy chân để rửa chân. Cũng vậy, giới hạnh làm cho trí tuệ thanh tịnh và trí tuệ làm cho giới hạnh thanh tịnh[6]. Sự kiện này có lẽ cũng là điều đáng ghi nhớ đối với các nhà nghiên cứu Phật học, vì có một khuynh hướng, đặc biệt trong giới kinh viện, xem lời dạy của Ðức Phật như thuần lý luận, hoặc chỉ như một Giáo lý siêu hình không có giá trị thực tiễn hoặc một tầm mức quan trọng nào cả.
Tuy nhiên, pháp hành của đạo Phật là một tiến trình nghiêm nhặt nhằm tịnh hóa lời nói, hành động và tư duy của con người. Ðó là một tiến trình tự phát triển, tự thanh tịnh. Sự nhấn mạnh ở đây là vào những kết quả thực tiễn chứ không phải là sự suy luận mang tính triết lý, những ý niệm trừu tượng, hay thậm chí chỉ là sự suy diễn đơn thuần.
Bằng ngôn ngữ mạnh mẽ Ðức Phật đã cảnh tỉnh hàng đệ tử tránh xa lối tu chỉ chú trọng đến tri thức sách vở như vầy:
Nếu người nói nhiều Kinh
Không hành trì, phóng dật,
Như kẻ chăn bò người
Không phần Sa-Môn hạnh.
Dầu nói ít Kinh điển
Nhưng hành pháp, tùy pháp
Từ bỏ Tham, Sân, Si
Tỉnh giác, tâm giải thoát
Không chấp thủ hai đời
Dự phần Sa-Môn hạnh
[7].
Những lời cảnh tỉnh này đã nói lên được đường lối tu tập của đạo Phật, phương pháp nắm bắt chân lý cùng tột của đạo Phật, sự thức tỉnh từ vô minh đến trí tuệ, hoàn toàn không lệ thuộc vào sự phát triển tri thức có tính kinh viện, mà nơi pháp hành thực tiễn đưa hành giả đến sự giác ngộ và giải thoát cuối cùng.
Ðức Phật quan tâm đến các hữu tình chúng sanh hơn đến những tính chất vô tình. Mục đích duy nhất của Ngài là làm sáng tỏ những bí ẩn của kiếp nhân sinh, để giải quyết vấn đề sanh hữu. Ðiều này đã được Ngài thực hiện nhờ liễu tri trọn vẹn Tứ Thánh Ðế, các sự thực vĩnh hằng của cuộc đời.
Trí hiểu biết về các sự thực (Tứ Ðế) này được Ngài cố gắng chia sẻ cho những ai đang tìm kiếm nó, chứ không hề áp đặt chân lý lên người khác. Ngài không bao giờ bắt buộc hay thuyết phục người nào theo Ngài cả, vì sự cưỡng bách hay ép buộc là hoàn toàn xa lạ với phong cách giáo huấn của Ngài. Ngài cũng không khuyến khích hàng đệ tử phải tin nơi Ngài một cách mù quáng, mà mong họ suy xét kỹ lời dạy của Ngài. Giáo pháp mời người có mắt ‘đến để thấy’ (Ehipassika) chứ không phải đến để tin. Chính việc đến để thấy và hiểu, không phải để tin một cách mù quáng, là điều được bậc Ðạo Sư tán thành.
Muốn hiểu được thế gian bên trong, ta phải phát triển nội căn, tức tâm của con người. Ðức Phật dạy: ‘Hãy theo dõi tâm của các người’[8] hay ‘Bậc trí tự điều phục[9]‘.
Ngày nay con người đang làm việc không ngừng trên mọi phương diện nhằm cải thiện thế gian. Các nhà khoa học đang theo đuổi những công trình nghiên cứu và thí nghiệm của họ với sự quyết tâm và lòng nhiệt thành không mệt mỏi. Những khám phá hiện đại và các phương tiện truyền thông liên lạc đã tạo những kết quả đáng kinh ngạc. Tất cả những sự cải thiện này, dù có những lợi ích của nó và đáng trân trọng, nhưng vẫn hoàn toàn thuộc về lãnh vực vật chất và nằm ở bên ngoài.
Tuy nhiên, trong cái hợp thể thân và tâm của con người này còn có những điều kỳ diệu chưa từng thăm dò mà các nhà khoa học phải bỏ ra rất nhiều năm chưa hẳn đã thấy.
Thực sự mà nói, cái thế gian mà các nhà khoa học đang cố gắng để hoàn thiện này, theo quan niệm của đạo Phật phải chịu rất nhiều biến đổi (vô thường) trên mọi lãnh vực của nó, và rằng không ai có khả năng làm cho nó hết khổ.
Cuộc sống của chúng ta vô cùng bi quan với tuổi già, bao phủ với sự chết, gắn bó với vô thường. Ðó là những tính chất cố hữu của cuộc sống, cũng như màu xanh là tính chất cố hữu của cây cỏ, và vị đắng là tính chất cố hữu của ký ninh vậy. Những phép màu và sức mạnh của khoa học dù toàn hảo đến đâu cũng không thể thay đổi được tính chất cố hữu này. Sự huy hoàng bất tử của tia nắng vĩnh hằng đang chờ, chỉ những ai có thể dùng ánh sáng của trí tuệ và giới hạnh để chiếu sáng và giữ gìn đạo lộ của họ vượt qua con đường hầm tăm tối, bất hạnh của cuộc đời.
Con người của thế gian ngày nay hẳn đã nhận ra bản chất biến đổi vô thường của cuộc sống. Mặc dù thấy được như vậy, họ vẫn không ghi nhớ trong tâm và ứng xử với sự sáng suốt, vô tư. Sự đổi thay, vô thường lúc nào cũng nhắc nhở con người và làm cho họ khổ đau, nhưng họ vẫn theo đuổi cái sự nghiệp điên rồ của mình và tiếp tục xoay lăn trong vòng sanh tử luân hồi, để bị giằng xé giữa những tính năng của thống khổ.
Xét cho cùng, cho dù một nhà khoa học hay một người bình thường, nếu người ấy không hiểu được tầm quan trọng của giới hạnh, tính cấp bách cho nỗ lực hành thiện, sự cần thiết phải áp dụng chánh kiến vào cuộc sống, người như vậy, theo đạo Phật là người vẫn chưa chín chắn, chưa trưởng thành. Họ còn phải vượt qua rất nhiều khó khăn nữa, trước khi thắng được cuộc đua sanh tử của cuộc đời và đạt được phần thưởng bất tử của Niết bàn.
Ðể có được sự hiểu biết về thế gian bên trong, kiến thức khoa học, có lẽ không giúp ích gì được cho chúng ta. Sự thực cùng tột này không thể nào tìm thấy trong lãnh vực khoa học. Ðối với các nhà khoa học tri thức là điều gì đó đã ngày càng trói chặt họ vào kiếp sinh tồn này. Do vậy tri thức đó không phải là tri kiến giải thoát. Ngược lại đối với người nhìn cuộc đời và tất cả những gì liên quan đến cuộc đời này đúng theo thực chất của chúng, mối quan tâm chính của họ về cuộc sống này không phải là suy diễn mông lung hay chu du vào những vùng hoang ảo của trí tưởng tượng vô ích, mà làm sao để đạt đến chân hạnh phúc và giải thoát khỏi những khổ đau hay bất toại nguyện (Dukkha). Ðối với họ chân tri kiến tùy thuộc vào câu hỏi cơ bản: sự học này có hợp với thực tế không? Nó có hữu ích cho chúng ta trong cuộc chinh phục chân an lạc và tĩnh lặng nội tâm hay không? Nó có đạt đến chân hạnh phúc hay không?
Ðể hiểu được thế gian bên trong này chúng ta cần có sự hướng dẫn, sự chỉ dẫn của một bậc toàn tri có đầy đủ khả năng và chân thật, một bậc mà trí và minh của họ đã thể nhập được vào những phần sâu kín nhất của cuộc đời và nhận ra bản chất thực sự nằm trong mọi hiện tượng. Vị ấy phải đích thực là một triết gia, một khoa học gia chơn chánh có thể nắm bắt trọn vẹn ý nghĩa của những đổi thay vô thường và đã biến sự hiểu biết này thành sự chứng đắc những sự thật thâm sâu nhất mà con người không thể dò nổi, những sự thật của tam tướng (Tilakkhana): Vô Thường, Khổ, Vô ngã (anicca, dukkha, anatta). Những khốn khổ của cuộc sống không còn làm cho vị ấy bối rối hoặc những điều phù du không còn làm cho vị ấy xúc động. Ðối với họ một quan niệm mơ hồ về mọi hiện tượng là điều không thể có; vì vị ấy đã vượt qua mọi khả năng có thể gây ra lầm lỗi nhờ vào sự vô nhiễm hoàn toàn, sự vô nhiễm mà chỉ có thể phát sanh từ trí tuệ nội quán (vipassanànàna).
Ðức Phật là một bậc toàn tri như vậy, và đạo lộ giải thoát của Ngài đã mở ra cho tất cả những ai có mắt muốn thấy và có tâm muốn hiểu biết. Ðạo lộ này không giống như những con đường ‘cứu chuộc’ khác, vì Ðức Phật dạy rằng mỗi cá nhân, dù tại gia hay xuất gia, phải tự mình có trách nhiệm đối với sự giải thoát của chính mình.
Nhân loại bị vướng vào mớ bòng bong, cả bên trong lẫn bên ngoài (nội triền và ngoại triền), phương thuốc trị liệu hữu hiệu mà Ðức Phật đưa ra được tóm tắt như sau:
Người trú giới có trí
Tu tập tâm và tuệ
Nhiệt tâm và thận trọng
Bậc giới hạnh thoát triền
[10].
Lời khuyến hóa đầu tiên của Ðức Phật cho 60 vị Thánh A-La-Hán vào những buổi đầu hoằng hóa là: Pháp (Dhamma) cần phải được công bố vì lợi ích và an lạc của số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian [11]. Có thể nói toàn bộ giáo pháp của bậc Ðạo Sư đã đượm nhuần lòng từ ái, và bao dung lớn rộng ấy.
Giới (Sìla), chặng đầu của Ðạo Lộ, dựa trên lòng bi mẫn này. Tại sao người Phật tử phải tránh sát hại và trộm cắp của kẻ khác? Không phải đó là vì tình thương đối với chính mình và mọi người đó hay sao? Tại sao người Phật tử phải có bổn phận giúp đỡ người nghèo khó, túng thiếu và những người trong cơn hoạn nạn? Ðiều đó không phải được phát xuất từ lòng bi mẫn đó hay sao?
Tránh ác và làm thiện là nhiệm vụ của giới, quy tắc ứng xử được dạy trong đạo Phật. Nhiệm vụ này không bao giờ thiếu lòng bi mẫn. Giới bao gồm trong đó mọi phẩm chất tốt đẹp của tâm hồn là từ ái, khiêm tốn, khoan dung, lòng trắc ẩn, tâm quảng đại và hoan hỉ với sự thành công của kẻ khác. . .v.v. . Ðịnh và Tuệ luôn luôn phải có giới trong sạch đi kèm.
Như đã nói ở trên, ba chi số ba, bốn và năm của Bát Chánh Ðạo tạo thành giới của đạo Phật. Ðó là: Chánh Ngữ, Chánh NghiệpChánh Mạng.
Chánh Ngữ là tránh:
Không nói dối, đồng thời phải luôn luôn nói sự thật.
Không nói lời ly gián gây sự bất hòa và chia rẽ, đồng thời phải nói những lời nào đưa đến sự hòa hợp và đoàn kết.
Không nói những lời thô ác, cộc cằn, thay vào đó phải nói những lời từ ái, tế nhị.
Không nói những lời vô ích, ngồi lê đôi mách, thay vào đó phải nói những lời có ý nghĩa và không bị bậc trí khiển trách.
Chánh Nghiệp là tránh:
Không sát sanh
Không trộm cắp
Không tà dâm.
Ðồng thời phải trau giồi lòng bi mẫn, chỉ lấy những gì được cho, và sống trong sạch trinh khiết.
Chánh Mạng là từ bỏ những lối làm ăn sinh sống tà vạy, đem lại sự tai hại, khổ đau mình và cho người khác, đó là buôn bán:
Vũ khí
Súc vật để giết thịt.
Người (ở đây muốn nói đến tình trạng mua bán nô lệ rất thịnh hành vào thời Ðức Phật).
Các loại thức uống có men gây say.
Các loại độc dược.
Ngược lại phải sinh sống bằng những nghề được xem là không bị khiển trách, không làm hại đến bản thân mình và người khác (các chi này sẽ được thảo luận kỹ trong những chương sau).
Từ những nét đại cương về luân lý Phật giáo này, rõ ràng rằng, giới luật do Ðức Phật ban hành không chỉ là sự cấm đoán có tính tiêu cực, mà là một sự xác quyết phải hành thiện – một sự nghiệp được lát bằng những thiện ý vì an lạc và hạnh phúc của cả hành tinh này. Những nguyên tắc đạo đức được nhắm vào việc làm cho xã hội an ổn bằng cách thúc đẩy sự đoàn kết, hòa hợp và những quan hệ chánh đáng giữa con người với nhau.
Giới là phương tiện mở đầu cho lối sống Phật giáo. Nó là nền tảng cho sự phát triển tinh thần, người có ý định hành thiền hay định tâm trước tiên phải phát triển lòng yêu mến giới, vì chính giới nuôi dưỡng đời sống tâm linh và làm cho tâm vững vàng, an tịnh.
Giai đoạn kế tiếp trên lộ trình giải thoát là tu tập tâm, định (samàdhi), giai đoạn này gồm ba chi khác của Bát Chánh Ðạo là: Chánh Tinh Tấn, Chánh NiệmChánh Ðịnh (số 6,7 và 8).
Chánh Tinh Tấn là sự cố gắng kiên trì:
Ðể ngăn ngừa những tư duy ác, bất thiện chưa sanh, không cho khởi sanh trong tâm hành giả.
Ðoạn trừ những tư duy ác đã sanh.
Làm cho sanh khởi và phát triển những tư duy thiện chưa sanh.
Thúc đẩy và duy trì những tư duy thiện đã sanh càng thêm tăng trưởng
Do vậy nhiệm vụ của Chánh Tinh Tấn là để cảnh giác và chặn đứng những tư duy không lành mạnh, đồng thời tu tập, thúc đẩy, duy trì những tư duy thiện và trong sáng đang sanh trong tâm hành giả.
Người có trí là người làm chủ lời nói và hành động của mình nhờ giới (Sìla) giờ đây thực hiện mọi nỗ lực để khảo sát những tư duy của mình, những tâm sở của mình, và tránh những ý nghĩ điên đảo.
Chánh Niệm là phát khởi niệm hay gán sự chú tâm vào:
Các hoạt động của thân (Thân hành niệm: Kàyanupassanà).
Các cảm thọ (Vedanànupassanà: Niệm Thọ).
Những hoạt động của tâm (Cittanupassanà: Tâm hành niệm).
Các pháp (Dhammànupassanà: niệm Pháp).
Vì các chi phần của đạo lộ này tương quan và tương tác lẫn nhau, Chánh Niệm trợ giúp Chánh Tinh Tấn, và cả hai cùng hợp tác với nhau có thể chặn đứng sự khởi sanh của những tư duy bất thiện, đồng thời phát triển những tư duy thiện đã có mặt. Người thận trọng đối với những hành động thân, khẩu, ý của mình, sẽ tránh tất cả những gì gây tổn hại cho sự tiến bộ tâm linh. Một người như vậy không phải là người tâm trí lười biếng, thiếu nghị lực. Bài kinh Tứ Niệm Xứ nổi tiếng (Satipatthàna) đề cập rất đầy đủ chi tiết bốn lãnh vực Chánh Niệm này[12].
Chánh Ðịnh là sự an định vững chắc của tâm có thể so sánh với ngọn đèn cháy sáng không dao động ở nơi kín gió. Chính sự tập trung đã làm cho tâm an trú và khiến cho nó không bị dao động, xáo trộn. Việc thực hành định tâm (Samàdhi) đúng đắn sẽ duy trì tâm và các tâm sở ở trạng thái quân bình. Một thiền sinh hay hành giả có thể phải đương đầu với rất nhiều chướng ngại của tinh thần, nhưng với sự hỗ trợ của Chánh Tinh TấnChánh Niệm tâm định vững vàng có khả năng đẩy lùi những chướng ngại, những tham dục đang khuấy động tâm hành giả ấy. Tâm định vững chắc không bị các pháp trần làm cho xao lãng, vì nó đã chế ngự được năm pháp cái.
Khi đã làm chủ tâm và không để cho tâm làm chủ mình được như vậy, lúc ấy hành giả (yogi) tu tập chánh trí (pannà) bao gồm hai chi đầu và cũng là chặng cuối của Ðạo Lộ. Ðó là Chánh Kiến Chánh Tư Duy.
 Tư duy chân chánh là những tư duy có liên quan đến sự xuất ly (Nekkhamma-samkappa), tư duy vô sân hay từ ái (Avyàpàda samkappa) và tư duy vô hại hay bi mẫn (Avihimsà-samkappa). Những tư duy này cần được tu tập và mở rộng đến muôn loài chúng sanh bất kể chủng tộc, giai cấp, dòng dõi hay tín ngưỡng nào, vì chúng bao chùm mọi loài có hơi thở, không có những giới hạn quy định. Dĩ nhiên việc ban rãi những tư duy cao quý như vậy là điều khó có thể đối với người tự coi mình là trung tâm và ích kỷ.
Một người có thể là thông minh, uyên bác và đa văn, nhưng nếu họ thiếu những tư duy chơn chánh. Người ấy, theo lời dạy của Ðức Phật, chỉ là một người ngu (Bàla) chứ không phải là người có trí. Nếu chúng ta nhìn mọi vật với sự sáng suốt, vô tư, chúng ta sẽ hiểu rằng tham muốn vị kỷ, thù hận và bạo hành không thể đi chung cùng trí tuệ. Chánh Kiến hay trí tuệ luôn luôn thấm nhuần với Chánh Tư Duy và không bao giờ mất chúng.
Chánh Kiến trong ý nghĩ rốt ráo, là sự tuệ tri như thật bản chất của thế gian. Muốn được vậy, ta cần phải có một sự thấu thị rõ ràng về Tứ Thánh Ðế. Ðó là: Khổ Ðế, Tập Ðế, Diệt Ðế và Ðạo Ðế.
Chánh Kiến hay trí tuệ thấu thị là kết quả của việc hành thiền đều đặn và liên tục, hoặc sự tu tập thật cẩn trọng của nội tâm. Ðối với người đã thành tựu Chánh Kiến, khó có thể có cái nhìn mê mờ về mọi hiện tượng (các pháp), vì người ấy đã vô nhiễm với mọi bất tịnh và đã đạt đến bất động tâm giải thoát (Akuppà ceto vimutti).
Ðộc giả giờ đây có thể đã hiểu tại sao ba nhóm Giới, Ðịnh, Tuệ lại làm phận sự chung với nhau, vì một mục đích cuối cùng là bất động tâm giải thoát, và qua sự tu tập thận trọng bản tâm, qua việc chế ngự các hành động của thân và khẩu, sự thanh tịnh đã được đạt đến như thế nào. Chính nhờ sự tự nỗ lực và tự phát triển mà mỗi hành giả tự mình đạt đến giải thoát, chứ không phải do cầu nguyện hay van xin một tha lực nào. Ðây đích thực là pháp (Dhamma) đã được Ðức Phật khám phá, đã được Ngài khéo tu tập và đạt đến chánh giác rồi khai thị cho thế gian.
 ‘Giới, Thiền Ðịnh, trí tuệ
Và giải thoát vô thượng
Gotama danh xưng
Chứng ngộ những pháp này,
Ðức Phật thắng tri chúng
Thuyết pháp cho Tỳ kheo
Ðạo sư đoạn tận khổ
Bậc tuệ nhãn thanh tịnh’
[13].
Mặc dù kiến thức khoa học vẫn phát triển đều đặn, song con người trên thế gian này vẫn cảm thấy bất an, bị giằng xé với bao nỗi sợ hãi và bất mãn. Họ mê muội với khát vọng đạt đến tiếng tăm, giàu sang cùng quyền lực và để thỏa mãn các giác quan. Thế gian phiền muộn này vẫn đang sôi sục với hận thù, với ngờ vực, với tham vọng, với ích kỷ và với bạo hành, chỉ có bức thông điệp của Ðức Phật về tình thương và sự hiểu biết, về Bát Chánh Ðạo là phù hợp với mọi thời đại, liên quan đến điều này Ðức Phật dạy:
 ‘Hướng tri kiến thanh tịnh
Duy chỉ có đường này,
Nếu người theo đường này,
Ma Vương ắt rối loạn
Ði trên đường bát chánh
Là tránh mọi đau thương
Ta dạy ngươi con đường
Nhổ sạch mọi gai gốc
[14]
Hãy nỗ lực Tinh Tấn
Như Lai bậc dẫn đường
Ai tu tập thiền tịnh
[15],
Ắt thoát vong Ma Vương
[16]‘.
–ooOoo–

Source: Con Ðường Cổ Xưa (The Buddha’s Ancient Path) – Piyadassi Thera

Dịch giả: Tỳ Khưu Pháp Thông


[1] D. 16.
[2] “Sabba pàpassa akaranam – Kusalassa upasampadà sacittapariyodanam – etam buddhànasàsanam”. Dhp. 183.
[3] Bài pháp đầu tiên thường gọi là Chuyển Pháp Luân (Dhamma-cakkappavattana).
[4] D. 16.
[5] D. 16.
[6] D. 4
[7] Dhp. 19-20.
[8] D.16
[9] Dhp. 80.
[10] S.I. 13
[11] Vinaya, 1. 21.
[12] Xem chương XII nói về Chánh Niệm.
[13] A.II..
[14] Gai gốc: nguyên văn là những mũi tên Tham Dục.
[15] Thiền định: chỉ chung cho định (Samatha) và tuệ (Vipassanà).
[16] Dhp. 274, 275, 276.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Chùa Đỏ ( Linh Độ Tự ) , quận Ngô Quyền, Hải Phòng

Nguồn gốc lịch sử sâu xa, chùa Đỏ là tên gọi dân dã của Linh Tự Độ, xưa thuộc xã Đông Khê huyện An Dương phủ Kinh Môn Đạo, Hải Dương. Thuở xa xưa, chùa tọa lạc trên khu bãi bồi thường có người chết trôi dạt vào. Quan nha khám nghiệm tử thi bắt dân sở tại phải phục dịch và hay hạch sách phiền nhiễu dân làng.


Do đó người ta nhường khu bãi bồi ấy cho Đông Khê, xã đầu tổng lại có nhiều người đậu đạt làm quan không sợ bị hạch sách, dân làng dựng một ngôi chùa nhỏ ở khu gò cao gần bờ sông thờ Phật, cầu Như Lai độ cho linh hồn những người xấu số.
Theo truyền ngôn, năm Mậu Tuất (1288) Hưng Đạo Vương khi đến vùng An Dương để nghiên cứu trận thuỷ chiến tiêu diệt đoàn thuyền Ô Mã Nhi rút chạy qua cửa Bạch Đằng, có đội hỏa đầu quân ở chùa Linh Độ Tự lo việc phục dịch ăn uống cho bộ chỉ huy chiến dịch. Chùa vốn là nơi am thanh cảnh vắng, khi đội hỏa đầu quân đến đóng, bếp luồn đỏ lửa. Do đó có thêm tên dân dã để nhớ đến kỷ niệm ngày Đức thánh Trần trú quân ở đây.
Sau khi Trần Hưng Đạo qua đời, dân làm hai ngôi miếu ở hai bên chùa để thờ ngài và các bộ tướng thân tín là các con trai và con rể, tức Điện soái Phạm Ngũ Lão.
Chùa Đỏ đã được sửa chữa nhiều lần với quy mô ngày một mở mang. Theo bia ký của chùa hiện còn ghi việc sửa chữa lớn vào năm Đinh Dậu – Quý Mão (1717 – 1723) đài Lê Dụ Tông (bia tạo năm Bảo Thái thứ 6 (1725) và trùng tu năm Tự Đức 32 ghi việc sửa chữa ghi tên nhiều quan chức của tỉnh Hải Phòng, của tỉnh Hải Dương cung tiến chữa chùa).
Cho đến trước cách mạng tháng tám 1945, Chùa Đỏ là một chùa đẹp, nhiều bản đồ thành phố ghi tên. Trong khoảng thời gian Pháp đô hộ (1946 – 1954) và cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1964 – 1973) chùa bị hư hại nhiều.

Kiến trúc

Chùa có kiến trúc độc đáo chưa từng có trong lịch sử kiến trúc chùa chiền Việt Nam Kiến trúc cổ diêm chồng đấu có 3 tầng 20 mái, mối liên hệ giữa Tiền đường – Trung đường và Hậu cung đã xử lí hai mái giao nhau, tạo ra sự hòa quyện giữa các khu, liên kết khéo léo các khu lại tạo ra hình khối liên kết nguy nga, hoành tráng.
Chùa được chia làm ba cung chính: Phía ngoài là mặt Tiền đường, ở giữa là Trung đường, phía sau là Hậu cung.
Chùa Đỏ cao tới 26m. Cách trang trí bên trong và trên mái Tiền đường được thiết kế một tháp 7 tầng cao 5m, chân tháp cao 1,2m, bên trên tháp có sen, trong tòa sen có cột cờ cao 5m,
để treo cờ trong mùa lễ hội.
Ở Trung đường có hàng “hoa chanh” được cách điệu là các lá đề kép bằng men màu xanh cổ chạy dọc nóc chùa. Trên mỗi lá đề kép đều có biểu tượng Linh Độ Tự.
Hậu cung có hai tầng mái đao, ở giữa trên nóc mái có đặt lá bồ đề (cao 1,20m) như ngọn lửa bập bùng, thể hiện sự tinh khiết, trong sáng của đạo Phật, của tăng ni, Phật tử hướng thiện cứu khổ, cứu nạn. Xung quanh các tầng mái đều lắp lá đề kép, làm bằng chất liệu đặc biệt, ở giữa trang trí nhiều bóng đèn xung quanh và được thắp sáng trong những ngày đại lễ. ;
Mặt chính chùa làm bằng đá xanh, cột được trang trí những cọn Rồng, mang đậm sắc thái nghệ thuật thời Lí Trần.
Bên ngoài Chính điện tầng một có bố trí 4 cây cột đá (đường kính 50 cm, cap 4,2m) chạm khắc Long – Phượng, đối xứng hai bên, giữa các cột là các lan can bằng đá chạm khắc “Tùng – Trúc – Cúc – Mai” được biểu hiện ở dạng hóa Rồng. Bệ dưới ốp đá chạm trổ mây và hoa sen nở nền chùa được tạo dựng trên một tòa sen khổng lồ với ý nghĩa Liên Hoa Tạng Giới.
Những ngày đầu xuân, người dân thành phố Hoa phượng đỏ nô nức đến vãn cảnh chùa, vừa thỏa mãn lòng chiêm bái và cầu cho một ăn mưa thuận, gió hòa ở một địa danh tâm linh.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Tôn giáo Ai Cập cổ đại


      Giống như cư dân các quốc gia cổ đại khác, người Ai Cập trong thời kỳ này thờ rất nhiều thứ: các thần tự nhiên, các thần động vật, linh hồn người chết, thần đá, thần lửa, thần cây. Các thần tự nhiên chủ yếu gồm có Thiên thần, Địa thần và Thủy thần. 



Thiên thần gọi là thần Nut, là một nữ thần thường được thể hiện thành hình tượng một người đàn bà hoặc một con bò cái. Địa thần là một nam thần gọi là thần Ghép. Thủy thần, tức là thần sông Nil, gọi là thần Odirix. Chính nhờ có vị thần này mà ruộng đồng tươi tốt, bốn mùa thay đổi, cây chết rồi sống lại. Vì vậy, trong các bài thánh ca ngợi thần Odirix có những câu: “Ngài ban ngũ cốc và thực phẩm trên toàn trái đất cho loài người. Ngài làm cho con người no đủ, Ngài hiện hình thành nước”. Ngoài chức năng nói trên, thần Odirix còn được quan niệm  là thần Âm phủ, Diêm Vương.


       Cũng như loài người, các thần cũng thường kết hợp với nhau và tạo thành những thần mới.Thần không khí Su chính là kết quả của sự kết hợp giữa Thiên thần Nut và Địa thần Ghép. Về sau, cùng với sự hình thành nhà nước tập quyền trung ương, thần Mặt Trời trở thành vị thần quan trọng nhất.Nơi thờ thần Mặt Trời đầu tiên là thành Iunu, người Hy Lạp gọi là Heliopolix. Thần Mặt Trời ở đây gọi là thần Ra.
Tượng Thần Mặt Trời Helios
      “Theo truyền thuyết, thần Ra hiện hình thành một vầng mặt trời xuất hiện từ một đóa hoa sen, từ đó mặt đất mới có ánh sáng. Thần Ra sinh ra thần Nut và thần Ghép. Thần Ghép bị cây cối che phủ, trên mình thần Nut thì đầy tinh tú, những ngôi sao ấy đi thuyền trên thân thể thần Nut. Một hôm thần Ra khóc, từ trong nước mắt của thần Ra đã sinh ra loài người. Đến khi thần Ra già, xương của thần biến thành bạc, thịt của thần biến thành vàng, tóc biến thành đồng. Vì thần Ra đã già nên một số thần và loài người không phục tùng thần Ra nữa. Vì vậy thần Ra sai nữ thần Hato hủy diệt loài người. Khi Hato bắt đầu giết loài người, thần Ra đổi ý, muốn ngăn thần Hato lại. Thần Ra bèn đổ mấy thùng rượu ngon trước mặt Hato, Hato uống say rồi ngủ thiếp đi, do đó loài người được cứu khỏi bị hủy diệt. Sau đó thần Ra cưỡi trên lưng thần Bò bay lên trời”.

      Đến thời trung vương quốc, Thebes trở thành kinh đô của cả nước.Vì vậy thần Mặt Trời Amon của Thebes trở thành vị thần cao nhất của Ai Cập. Thời kỳ này, thần Amon cũng được gọi là thần Amon-Ra. Người Ai Cập tin rằng, hằng ngày thần Amon-Ra ngự thuyền vàng đi trên bầu trời, ban đêm thì xuống thế giới dưới đất, sáng sớm lại lên vương quốc ban ngày và chiếu những tia sáng của mình lên mặt đất. Bài thánh ca ca ngợi thần Amon-Ra viết:

“Thần Amon-Ra nhân từ, xin ngài hãy tỉnh lại!

      Kẻ thống trị cả hai thế giới, vị thần nhân từ và huy hoàng chói lọi. Khi ngài ngự trên vòm cao, các thần và mọi người đều phải lạy vầng thái dương, kẻ thù của ngày cũng phải quỳ gối trước mặt ngài. Trời đang vui mừng, đất đang hân hoan. Ngài đem lại cho các thần và mọi người niềm vui của ngày lễ hội”.

     Đến thời Ichnaton (1424-1388 TCN) thuộc vương triều XVIII thời Tân Vương Quốc, do thế lực của tầng lớp tăng lực thờ thần Amon ở Thebes quá mạnh nên ông đã tiến hành một cuộc cải cách tôn giáo. Ông chủ trương thờ một vị thần Mặt Trời mới gọi là thần Atôn. Thần Atôn được coi là vị thần duy nhất, nên việc thờ cấm các vị thần khác đều bị cấm. Ngoài thần Mặt Trời, người Ai Cập còn thờ thần Mặt Trăng Thoth. Thần Thoth còn được quan niệm là thần văn tự, kế toán và trí tuệ. Thần Mặt Trăng được thể hiện dưới hình tượng một con người đầu chim hồng hạc hoặc đầu khỉ.

      Người Ai Cập cổ đại cũng coi trọng việc thờ người chết. Họ quan niệm rằng trong mỗi con người đều có một hình bóng gọi là “can” (linh hồn) hoàn toàn giống người đó như cái bóng ở trong gương. Khi con người mới ra đời thì linh hồn chui vào trong thân thể, khi con người chết thì linh hồn rời khỏi thể xác. Từ đó, linh hồn tồn tại độc lập nhưng con người không thể nhìn thấy, chỉ có thể thấy được trong giấc mộng. Linh hồn tồn tại đến khi thi thể người chết hủy nát thì mới chết hẳn. Nhưng nếu thi thể được bảo tồn thì linh hồn một lúc nào đó sẽ nhập vào thể xác và con người sẽ sống lại. Chính vì quan niệm đó mà người Ai Cập mới có tục ướp xác. “Người Ai Cập cổ đại tin rằng thế giới âm phủ cũng giống như thế giới trần gian, ở đó cũng có sông Nil, thần Ra ngự thuyền đi trên dó. Chúa tể của Âm phủ là thần Odirix. Người mới chết phải chịu sự xét xử của vị thần này. Khi xét xử, thần Odirix ngồi trên ngai vàng, người chết được giải đến trước mặt thần. Thần Tốt và thần Arubix (thần dẫn linh hồn âm phủ) cân quả tim của người chết, đĩa cân bên kia là nữ thần chân lý và chính nghĩa. Nếu người chết có nhiều tội thì trái tim sẽ nặng, lập tức người chết bị một con yêu quái đến ăn thịt”.

     Người Ai Cập cổ đại còn thờ nhiều loại động vật từ dã thú, gia súc, chim đến côn trùng như chó sói, cá sấu, rắn, sơn dương, cừu, mèo, hồng hạc, đặc biệt là bò mộng Apix. Ngoài các con vật có thực, người Ai Cập còn thờ các con vật tưởng tượng như phượng hoàng, nhân sư.

      “Theo truyền thuyết, phượng hoàng sinh ra từ trong lửa đậu trên một ngọn cây ở Heliopolix (gần Memphix). Tiếng hót của nó hay đến nỗi mặt trời cũng phải lắng nghe. Sáng sớm chính là hiện thân của phượng hoàng được đem dâng cho thần Ra. Đến chiều, khi mặt trời lặn, phượng hoàng chết, sáng hôm sau lại sống lại, lại hót véo von để chào đón bình minh.

      Còn nhân sư (Sphynx) là con vật đầu người mình thú. Người Ai Cập tin rằng loài vật này sống trong sa mạc gần đó. Con nhân sư được quan niệm là kẻ bảo vệ đắc lực chống lại mọi thế lực thù địch và hung hãn. Vì vậy, tượng nhân sư thường được đặt trước đền miếu”.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Các lễ hội truyền thống được nhân dân tổ chức hằng năm vào tháng 5 âm lịch.

1. Lễ hội Bánh chưng – Bánh giầy  được  nhân dân Sầm Sơn tổ chức hằng năm :







Lễ hội bánh Chưng – bánh Giầy được tổ chức tại Đền Độc Cước hàng năm. Được tổ chức vào ngày 12 tháng 5 (âm lịch) hằng năm tại đền Độc Cước. Nội dung chính của lễ hội là tế lễ, cầu mưa và thi làm bánh Chưng, bánh Giầy




2. Lễ hội Cầu Ngư Bơi Chải





Nghi thức tế lễ trang nghiêm trước khi bước vào lễ hội Cầu Ngư Bơi Chải


Được tổ chức vào ngày rằm tháng 5 (âm lịch) hàng năm tại cửa biển Lạch Hới. Người dân tổ chức đu thuyền để tỏ lòng tôn kính vị thần biển, thần Mặt Trăng, thần Độc Cước đã che chở, phù hộ cho nhân dân trong vùng.




3. Lễ hội Trà Cổ ( từ ngày 29 tháng 5 đến 6 tháng 6 âm lịch): Lễ hội dân gian Trà Cổ diễn ra tại làng Trà Cổ, thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Hội làng Trà Cổ diễn ra trong 7 ngày với các nghi thức rước từ Trà Cổ về quê tổ Ðồ Sơn, rồi từ Ðồ Sơn quay về Trà Cổ, mồng 1 tháng 6 âm lịch là ngày vào hội rước Vua ra bể (còn gọi là rước vua ra Miếu) với nghi thức gồm một đội quân cầm vũ khí, cờ thần, phường bát âm. Sau lễ rước là cuộc thi các sản phẩm chăn nuôi trồng trọt. Nét độc đáo của hội Trà Cổ là hội thi làm cỗ, thi nấu ăn, ai nấu ăn giỏi đều được cả làng biết đến. Ngày mồng 6 tháng 6 âm lịch là ngày kết thúc hội có múa bông. Trong ngày múa bông, người ta cầu mong trời đất thần linh phù trợ cho đánh bắt được nhiều cá tôm, buôn bán phát đạt, chăn nuôi, trồng cây tươi tốt, cuộc sống ấm no.



4. Hội Yên Lập(tháng 5 âm lịch)


Hội Làng Yên lập được tổ chức từ ngày 24 đên 26 tháng 5 âm lịch tại Xã Yên Lập,Huyện Vĩnh Tường,Tỉnh Vĩnh Phúc Việt Nam.






Hội Làng Yên lập được tổ chức từ ngày 24 đên 26 tháng 5 âm lịch tại Xã Yên Lập,Huyện Vĩnh Tường,Tỉnh Vĩnh Phúc Việt Nam nhằm suy tôn Đăng Đạo Song Nga, âm phù Hai Bà Trưng.


Thông tin chi tiếtThời gian: 25 – 27/5 âm lịch.


Địa điểm: Xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.


Đối tượng suy tôn: Đăng Đạo Song Nga, âm phù Hai Bà Trưng.


Đặc điểm: Lễ trình Thánh, đón Ngài về dự hội trên ba thuyền ghép lại, thi bơi trải.


Sáng 24 :buổi sáng hạ chải, buổi chiều cọ chải.
Ngày 25: Bơi lấy giải. Địa điểm xuất phát từ đình 3 làng (Hạc Đình – Bố thôn và Đa thôn) về miếu làng Trống (Me Trống thuộc xã Việt Xuân) vào buổi sáng.
Chiều 25: Bơi trình thuyền (lễ rước sông nước) sang gò cội Nụ giữa cánh đồng trước cửa đình 3 làng.
Sáng 26: Cọ chảiCả 3 làng, mỗi làng có một chải là một thuyền hình rồng bằng gỗ chò dài 20 mét, rộng 2,2 mét, đầu và đuôi sơn đỏ, thân giữa sơn màu đen. Mũi chải có 40 người, một đứng đầu chải cầm cờ đỏ làm hiệu, 1 người bẻ lái và 38 tay bơi.


Chải làng Đình bao giờ cũng thắng cuộc. Câu ca của dân địa phương là:


“Chải làng Đình rập rình đi trước.


Chải làng Vó chịu khó đi sau


Chải làng Da bơi la bơi liệt”


Đó cũng là thứ tự của cuộc thi tài mùa bơi chải.
Đăng bởi Để lại phản hồi

Cổ vật Đông Sơn

Tinh hoa cổ vật Việt

Vừa qua, Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam phối hợp với Hội cổ vật Thăng Long; Hà Nội tổ chức trưng bày chuyên đề “Cổ vật Việt Nam” gồm hơn 50 cổ vật tiêu biểu, đặc sắc, được chọn lựa kỹ lưỡng từ bộ sưu tập của các cá nhân và Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam. “Cổ vật Việt Nam” gồm nhiều hiện vật làm từ các chất liệu vàng, bạc, đồng, gốm… có niên đại từ văn hoá Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2.500 năm tới thời các chúa Nguyễn (1533 – 1777). Cổ vật phong phú, làm bằng đồng như trống đồng, ấm, chuông, thạp, chân đèn, bình, bát, muôi, chóe… Gốm có gốm men nâu, men trắng, hoa, màu, hoa lam, men lục… Trưng bày chuyên đề mở đầu bằng các cổ vật, trống đồng Đông Sơn, công cụ đồng, tượng người và thú, dao gắn đồng, muôi đồng, đèn đồng… minh chứng cho thời kỳ rực rỡ của văn hoá Đông Sơn. 




Kendy gốm thế kỷ V-VII.

Kendy gốm thế kỷ VI – VIII.

Chân đèn hình người chất liệu đồng thế kỷ IV – VI.

 Nắp đồ đựng, chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bình chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nắp đồ đựng, chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nồi chất liệu bằng gốm, niên đại trước Công nguyên.

Lọ chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bát bồng chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nắp đồ đựng chất liệu gốm, thế kỷ I – II.

Năm 1924, nhiều cổ vật bằng đồng được phát hiện ở làng Đông Sơn bên bờ sông Mã, tỉnh Thanh Hóa. Sự phong phú về các loại đồ đồng ở đây cho thấy kỹ thuật luyện đồng hàng nghìn năm trước, từ nghệ thuật trang trí trên trống đồng Đông Sơn đến công cụ bằng đồng gắn với tôn giáo, tín ngưỡng cổ truyền như thần mặt trời, thần núi, thần sông, thổ sinh, thực khí, ma thuật…; thiên nhiên chan hòa với con người, cỏ cây, hoa lá, muông thú.., Đồ gốm Đông Sơn sử dụng bàn xoay, hình dáng phong phú, bố cục đối xứng ngang dọc xen kẽ. Những chiếc đèn lồng có hình người, hình thú, tượng thú, phản ánh sự tồn tại của thần linh, quan niệm tín ngưỡng thời kỳ Đông Sơn và bản sắc văn hóa, nghệ thuật Lạc Việt không bị đồng hoá bởi ách đô hộ của các triều đình phương Bắc. Mỹ thuật ứng dụng Đông Sơn được các nhà nghiên cứu văn hoá đánh giá là huy hoàng nhất giai đoạn mỹ thuật thời tiền sơ sử Việt Nam và Đông Nam Á.

Tượng thần Brahama, niên đại thế kỷ XII – XIII.

Đồ gốm niên đại thế kỷ IV – VI.

Bát bồng chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bia đá thế kỷ XI.

Tượng Phật bằng gỗ, niên đại thế kỷ VI – VII.

Tượng Phật bằng gỗ, niên đại thế kỷ IV – VI.

Ngoài cổ vật văn hoá Đông Sơn, khách tham quan còn được khám phá nghệ thuật gốm cổ Việt qua nhiều thế kỷ, từ thời Lý (1010 – 1225), Trần (1225 – 1400), Lê Sơ (1428 – 1527), Mạc (1527 – 1592) tới Lê Trung Hưng (1533 – 1789). Vào thời Lý (1010 – 1225) thịnh hành các loại gốm men ngọc, gốm hoa nâu, gốm trắng, gốm men đen, sứ màu nâu sậm. Thời Trần (1225 – 1400) bên cạnh loại gốm men ngọc, hoa nâu còn xuất hiện gốm hoa lam. Gốm men ngọc thuộc hàng cổ vật tiêu biểu của gốm thời Lý, Trần với màu men xanh lá cây từ sẫm đến vàng nhạt, xương gốm trắng mịn, hoa văn trang trí chạm chìm hoặc đắp nổi. “ Thạp gốm hoa nâu” thời Lý, Trần kế tục nhau trở thành loại gốm nổi tiếng. Đặc biệt, có sự kết hợp giữa các thủ pháp nghệ thuật điêu khắc với nghệ thuật phối hợp kỹ thuật men và màu tạo nên vẻ đẹp gốm hoa nâu. Các cổ vật gốm hoa lam thế kỷ XV – XVII làm từ đất sét trắng mịn, nung gần chảy nên xương cứng. Nét vẽ tay bằng bút lông trên sản phẩm đồ thờ cúng tạo sự khoáng đạt, thông thoáng, không lệ thuộc vào các hình mẫu tả thực. Sự phát triển rực rỡ của gốm sứ giai đoạn này đưa sản phẩm gốm sứ Việt theo con đường tơ lụa xuất đi nhiều quốc gia trên thế giới. Đến thời nhà Nguyễn (1802 – 1945), pháp lam Huế, một loại hình trang trí, đã được dùng để gọi tên cho kỹ nghệ chế tác pháp lam ở Việt Nam, khẳng định dấu ấn sáng tạo của người Việt, của văn hoá Việt Nam, minh chứng cho nền kinh tế – chính trị những năm độc lập, tự chủ thời Nguyễn. Hiện vật cặp bình choé có nắp đồng pháp lam, hiệu “Minh Mạng niên chế” (1820 – 1840) trang trí đa dạng với các đồ án từ hoa lá, tứ linh, bát bửu, sơn thuỷ, màu sắc phong phú, phối màu hợp lý, tinh tế. 

 Nhẫn chất liệu vàng, niên đại thế lỷ III – VII.

Hạt chuỗi chất liệu vàng, niên đại trước Công nguyên.

Lá dập nổi hình mặt người, chất liệu vàng, niên đại trước Công nguyên.

Một góc trưng bày chuyên đề ‘Cổ vật Việt Nam’.

Nghề kim hoàn truyền thống Việt Namnổi tiếng với các kỹ thuật chạm, đậu, trơn, đạt đến độ tinh xảo. Kĩ thuật chạm thể hiện sự khéo léo, đạt đến tầm nghệ thuật qua phương pháp chạm trổ những hình vẽ hoa văn trên mặt đồ vàng, bạc. Kĩ thuật đậu là kéo vàng, bạc, rồi uốn ghép thành hình hoa lá, chim muông gắn lên đồ trang sức. Kĩ thuật trơn chuyên đánh vàng, bạc thành những đồ trang sức không cần chạm trổ. Bộ sưu tập đồ trang sức vàng, bạc thời các chúa Nguyễn trưng bày gồm: vòng tay, trâm cài, vòng cổ, nhẫn.., được sưu tập 5 năm trước và đây là lần đầu tiên trưng bày, giới thiệu tới công chúng Thủ đô. Các hiện vật quý giá được trưng bày trong chuyên đề ‘Cổ vật Việt Nam’ góp phần giới thiệu tới công chúng trong nước, bạn bè quốc tế những nét tinh hoa, giá trị lịch sử cũng như văn hóa đặc sắc của Việt Nam./.




Đăng bởi Để lại phản hồi

Huyền thoại kho báu Hoàng cung Vua Hàm Nghi

Đó là kho báu mà theo truyền miệng là do vua Hàm Nghi chôn giấu ở một địa điểm bí mật sau ngày kinh đô Huế thất thủ vào 5.7.1885.




Tô men rạn “lưỡng long tranh châu” thời Gia Long ảnh tài liệu của nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn – Giao Hưởng chụp. Người ta trưng ra bằng chứng về một nhà truyền giáo người Pháp là Henri de Pirey, đã viết trên tạp chí B.A.V.H (Bulletin des amis du vieux Hué – 1914) rằng khi rút khỏi kinh thành Huế, vua Hàm Nghi đã chuyển kho báu của hoàng cung đến phía bắc. Kho báu này ước chừng 950 thùng, trong đó có 400 thùng đựng đầy vàng và 150 thùng đựng đầy bạc, số còn lại là các đồ quý giá nhất trong nước, nhưng vì chiến cuộc nên nhà vua chỉ mang theo được 100 thùng mà thôi. Không lâu sau, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt, đày sang đảo Réunion, số vàng của vua chôn giấu nơi đâu?

Điếu hút thuốc lào thời Gia Long, vẽ chim hạc và cành mai. Nhiều người đặt câu hỏi như thế và lên đường tìm kiếm. Nhưng họ quên rằng hoặc không biết, trong suốt 3 tuần lễ sau ngày vua Hàm Nghi ra đi, phần lớn kho báu trong hoàng thành đã lọt vào tay người Pháp. Điều đó được ghi nhận qua tài liệu lưu trữ ở Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp tại Paris, với lời kể của linh mục Pène-Siefert, cho biết người Pháp đã lấy trong trại Cấm Vệ quân 113 lạng vàng, 742 lạng bạc, 2.627 quan tiền. Lấy tại cung bà thái hậu Từ Dũ 228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương và hạt trai, hạt ngọc; 271 vật dụng bằng vàng, 1.258 nén bạc, 3.416 lạng vàng. Họ cũng lấy hết vật phẩm của các tiên đế nhà Nguyễn dùng lúc sinh thời từ mũ miện, đai áo, triều phục, long sàng, đến các đỉnh trầm, khay chén… Tính ra “kho tàng trong hoàng cung đã mất đi ước chừng 24 triệu quan vàng và bạc”. 

Tô có nắp (tiềm quy giáp) vẽ mai rùa và rồng thời Minh Mạng. Cuộc thất thoát kho báu của các vua triều Nguyễn kéo dài 2 tháng sau ngày kinh đô Huế bị thất thủ bởi người Pháp vào tháng 7.1885 đã gây tai tiếng hơn cả cuộc cướp phá lâu đài của hoàng đế nhà Thanh ở Bắc Kinh. Sau này vua Đồng Khánh nhiều lần đòi lại kho báu đã bị người Pháp lấy đi như biên bản ngày 21.3.1888 của Pháp đã ghi: “Trở lại chuyện đã bàn trước đây, hoàng thượng (vua Đồng Khánh) nhắc rằng các vật phẩm quý giá của hoàng gia bị thất thoát sau biến cố ngày 5.7 và chắc chắn hiện giờ đang nằm trên đất Pháp, giá trị nhất là chuỗi kim cương kết lại từ đời vua Gia Long cho tới đời vua Tự Đức, cùng một bảo kiếm nạm ngọc quý truyền lại từ đời vua Gia Long”.

Bình hoa lớn vẽ mai rùa và rồng giỡn ngọc (long hí châu) thời Minh Mạng. Một trong những vật ấn tượng trong kho báu hoàng cung là con voi bằng vàng đúc rất tinh xảo, đã bị hai người Pháp có trọng trách tranh giành về riêng mình. Để rồi cuối cùng con voi vàng (kim tượng) là báu vật truyền đời kia bị chặt ra làm hai để chia cho hai đại diện thực dân Pháp mỗi người một nửa! Đó không phải là lời đồn của binh lính người Pháp hoặc quan chức người Việt, mà được ghi trong một báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ Paul Rheinart gửi Toàn quyền Đông Dương Richaud ngày 28.2.1889 kèm theo lời phàn nàn: ‘Điều buồn lòng song vẫn phải nhắc lại là thiếu tướng Prudhomme đã chiếm đoạt những vật phẩm quý báu một cách không do dự (…), và điều đáng tiếc nữa là không có ai đem trả lại phần nào trong những của cải vô giá mà họ đã tước đoạt trắng trợn”.  Các chi tiết trên phần lớn nằm trong tài liệu lưu trữ ở Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp – Paris (chưa xuất bản) được sưu tầm, trích dẫn, dịch thuật bởi Nguyễn Xuân Thọ, Nguyễn Ngọc Cư và do nhà nghiên cứu Phan Thuận An giới thiệu qua tài liệu về các bảo vật ở hoàng cung, đăng trong Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn do Sở Khoa học – Công nghệ – Môi trường Thừa Thiên-Huế kết hợp với Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế ấn hành (tháng 7.2002).  Theo tài liệu trên, sau ngày vua Hàm Nghi đi đày, hoàng cung còn giữ lại nhiều bảo vật vô giá như những bửu tỷ bằng vàng khối có cái nặng đến 18 kg, ngọc điệp nhà Nguyễn, những chiếc độc bình lớn bằng men lam Huế (bluers de Hue), các tủ chạm cẩn xà cừ, các ché lớn thời Minh và các ché màu lục nhạt (céladon), các đĩa lớn đường kính 55 cm màu hồ thủy đẹp tuyệt vời./.

Bình vôi thế kỷ 19 

Ngay cả những nhà sưu tập và nghiên cứu ngôn ngữ học nước ngoài như Paul Boudet – là chứng nhân thời ấy – đã cho biết rằng, lúc bấy giờ ở điện Càn Thành (điện Trung Hòa) “vẫn còn 26 quyển kim sách đúc bằng vàng chứa đựng các chi tiết được ghi lại về lễ đăng quang của các vua Gia Long, Thiệu Trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, Đồng Khánh, Khải Định, những điều liên quan đến lễ tuyên phong cho các hoàng hậu và các hoàng thái tử” và 46 cái ấn bằng ngọc hoặc bằng vàng. Nay những bảo vật trên hầu như đã không còn và lưu lạc khỏi kinh thành Huế, thất tán khắp bốn phương trời…

Đĩa vẽ chim công và hoa mẫu đơn, ký kiểu tại Anh thế kỷ 19
Bức tranh của vị hoàng đế đi đày

Đồ sứ do Bảo Đại đặt làm tại Pháp có thơ và minh họa theo truyện Kiều: 

“Khi gió gác khi trăng sân
 Bầu tiên chuốc rượu
Càng thần nỗi thơ…”

Tháng 11.2010, một tác phẩm hội họa của vua Hàm Nghi, lần đầu tiên được đem ra bán đấu giá tại Paris (Pháp). Bức sơn dầu Déclin du jour (Chiều tà) này có kích thước 35 x 46 cm, ghi là vẽ năm 1915. Lúc đó cựu hoàng ở Alger (Algérie), sống và sáng tác tranh tượng tại biệt thự Gia Long, khu El Biar. Theo quy định pháp luật, bảo vật quốc gia phải thể hiện là vật chứng của một sự kiện lớn, hoặc gắn bó với các anh hùng danh nhân, từ đó có thể nói bức tranh Déclin du jour của vua Hàm Nghi là một bảo vật. Cuộc bán đấu giá bảo vật ấy được Mathilde Tuyết Trân – một người Việt sinh sống ở nước ngoài – kể lại giá khởi đầu ấn định từ 800 – 1.200 euro. Chỉ trong vài phút giá tăng liên tục đến 4.500. Đến khi những người Việt Namcó mặt trong phòng đấu giá trả tới 5.000 euro, thì “bắt đầu có người cho giá qua điện thoại, họ thêm ngay 1.000 euro, đẩy giá tấm tranh lên 6.000 euro. Từ đó cuộc đấu giá “tay đôi” giữa hai người phụ nữ trong phòng và người đẩy giá qua điện thoại diễn ra”. Theo Mathilde Tuyết Trân, con số đã đẩy đến mức 8.800 euro cộng thêm 26% phụ phí đấu giá, thành mức tiền phải trả cuối cùng là 11.088 euro – gấp 8 lần giá ban đầu. Điều đó đã “thể hiện tình cảm đối với một kỷ vật của vua Hàm Nghi (…) tình cảm những người có lòng với quê hương và quá khứ lịch sử”.

GIAO HƯỞNG



Theo n.news.yahoo.com

Đăng bởi Để lại phản hồi

Nghệ thuật Rối nước: “Linh hồn của đồng ruộng Việt Nam”

Múa rối là loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống có từ lâu đời của các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam, nó ra đời và tồn tại cùng với nền văn minh lúa nước từ thời các vua Hùng dựng nước.Song dấu ấn của nghệ thuật múa rối nước còn lại đến ngày nay mà chúng ta nhận biết được là vào đời vua Lý Nhân Tông năm 1121, trên bia Sùng Thiện Diên Linh đặt tại chùa Long Ðọi, xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Văn bia chùa Đọi có ghi nhân dân biểu diễn các trò diễn Rối nước để mừng thọ Vua. Do điều kiện tự nhiên và công việc nông nghiệp của người dân Việt Nam gần gũi và gắn bó với nước, chính những người nông dân chân lấm tay bùn này đã sáng tạo ra nghệ thuật Rối nước. Họ thường tổ chức diễn vào những ngày việc đồng áng tạm xong, ngày xuân, những ngày mở hội. Người Pháp gọi môn nghệ thuật này với những con rối duyên dáng là “Linh hồn của đồng ruộng Việt Nam” và đánh giá: “Với sáng tạo và khám phá. 






Rối nước đáng được xếp vào những hình thức quan trọng nhất của Sân Khấu Múa Rối”. Phương thức nhờ nước để con rối hoạt động, nhờ nước giấu đi bộ máy và cách điều khiển là sáng tạo tuyệt vời. Nước làm cho con rối sinh động, làm cho chúng tươi tắn. Nước đã tham gia cùng diễn với con rối như một nhận xét: “Nước cũng là một nhân vật của múa rối”. Mặt nước như êm ả với đàn vịt bơi, trở nên thơ mộng trong làn khói huyền ảo khi bầy tiên nữ giáng trần múa hát. Nhưng mặt nước cũng sôi động trong những trận chiến lửa, những con rồng vây vàng xuất hiện. Báo Pháp viết: “Con rối được điều khiển bằng sự khéo léo khó mà tưởng tượng. Con rối như có phép thuật điều khiển”. Đấy chính là sự tài tình, là điều hấp dẫn và sáng tạo của nghệ thuật Múa rối nước. Trước kia, rối nước chỉ diễn vào ban ngày, ở ngoài trời. Không thấy sân khấu gắn bó hòa quyện với phong cảnh thiên nhiên như rối nước. Giữa thiên nhiên thơ mộng, khán giả có cơ hội chiêm ngưỡng một loại hình nghệ thuật trong đó có đất, nước, cây xanh, mây, gió, có lửa, có khói mờ vương tỏa, có cả mái đình với những hàng ngói đỏ… Thật sự là một sự hòa hợp độc đáo của nghệ thuật, thiên nhiên và con người. Lịch sử Múa rối Việt Nam ghi nhận hai loại hình chính là Múa rối cạn và Múa rối nước. Rối cạn gồm nhiều hình thức như: Rối tay, Rối que ở Đồng Minh (Hải Phòng), Tế Tiêu (Hà Tây), Rối dây, Mộc Thầu Hý ở Cao Bằng, Bắc Thái. Riêng Rối nước là loại hình dân gian độc đáo, chỉ có duy nhất ở Việt Nam. 








Nguồn: Nhà hát Múa rối Việt Nam

Đăng bởi Để lại phản hồi

Truyền Thuyết Về Bồ Đề Đạt Ma Sư Tổ



Bồ Đề Đạt Ma – Truyền nhân thứ 28 của nhà Phật – Sư tổ Thiền tông Trung Quốc



Bồ Đề Đạt Ma là đệ tử và truyền nhân Bát Nhã Đa La, Tổ thứ 27 của nhà Phật đồng thời Đạt Ma còn là thầy của Huệ Khả, Nhị tổ Thiền Trung Quốc. Sau nhiều năm tu hành, với trí thông minh và ngộ tính tuyệt vời của mình, Bồ Đề Đạt Ma được Bát Nhã Đa La lựa chọn là người kế thừa của mình, trở thành vị tổ thứ 28 của Phật giáo trên đất Thiên Trúc.



1. CHUYẾN DU HÀNH HUYỀN THOẠI TRÊN ĐẤT ĐÔNG THỔ


Truyền thuyết kể rằng, Bồ Đề Đạt Ma vốn có tên tục là Bồ Đề Đa La, là con trai thứ ba của quốc vương nước Hương Chí, nam Thiên Trúc. Mặc dù được xem là ông tổ sáng lập ra trường phái Thiền tông Trung Quốc, nhưng Bồ Đề Đạt Ma lại có gốc gác xuất thân từ tận bên Thiên Trúc.


Bát Nhã Đa La, vị tổ thứ 27 của nhà Phật trong một lần đến nước Hương Chí và gặp Bồ Đề Đạt Ma, thoạt nhìn vị vương tử này có rất nhiều nét đặc biệt, Bát Nhã Đa La mới bảo Đạt Ma cùng hai anh của mình bàn luận về chữ Tâm. Bát Nhã Đa La thấy Bồ Đề Đa La là người có ngộ tính cao, nhỏ tuổi nhưng đã nói được những điểm quan trọng của chữ Tâm, Bát Nhã Đa La khuyên Đạt Ma rằng: “Hoàng tử đối với chư pháp đã được thông đạt, vậy Hoàng tử nên lấy tên là Ðạt Ma, có nghĩa là rộng lớn, thông đạt”. Cũng kể từ đó, vị hoàng tử thứ 3 của Hướng Chí quốc lấy tên thành Đạt Ma, xuất gia làm sư và bái Bát Nhã Đa La làm thầy.


Sau nhiều năm tu hành, với trí thông minh và ngộ tính tuyệt vời của mình, Bồ Đề Đạt Ma được Bát Nhã Đa La lựa chọn là người kế thừa của mình, trở thành vị tổ thứ 28 của Phật giáo trên đất Thiên Trúc. Chuyện kể rằng, trước khi truyền pháp cho Đạt Ma, tổ thứ 27 Bát Nhã Đa La cho gọi Đạt Ma đến và hỏi: “Trong mọi thứ, thứ gì vô sắc?” Bồ Đề Đạt Ma đáp: “Vô sinh vô sắc”. Bát Nhã Đa La lại hỏi tiếp: “Trong mọi thứ, cái gì vĩ đại nhất?” Bồ Đề Đạt Ma lại đáp: “Phật pháp vĩ đại nhất”, nghe xong, Bát Nhã Đa La quyết định chọn Đạt Ma làm truyền nhân thứ 28 của nhà Phật.


Sau khi Bát Nhã Đa La qua đời, Đạt Ma nhớ lời thầy dặn, phải xuất dương truyền pháp thì mới nên sự nghiệp vĩ đại nên khi tuổi đã cao mới xuống thuyền ra khơi đến đất Đông Thổ. Đó là vào khoảng những năm 520 sau Công nguyên, tức đời Vũ Đế nhà Lương. Vũ Đế vốn nổi tiếng là một người sùng Phật, xây biết bao nhiêu là chùa chiền cho nhà Phật, ngay khi nghe tin có vị đại sư từ Thiên Trúc tới Đông thổ truyền giáo, Vũ Đế liền mời đến kinh đô nước Lương là Kiến Nghiệp để gặp mặt và bàn chuyện Phật Pháp. Đạt Ma nhận lời mời và đến gặp Vũ Đế.


2. CUỘC GẶP VỚI LƯƠNG VŨ ĐẾ


Cuộc gặp gỡ giữa Bồ-đề-đạt-ma và Vũ Đế được các ngữ lục ghi lại như sau:


Là một người phụng sự đạo Phật, Lương Vũ Đế đã cho xây trong nước mình nhiều chùa chiền, bảo tháp.


Vũ Đế hỏi nhà sư Ấn Độ: “Trẫm từ lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?”


Đạt Ma đáp: “Không có công đức.”


– “Tại sao không công đức.”


– “Bởi vì những việc vua làm là nhân “hữu lậu”, chỉ có những quả nhỏ trong vòng nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật.”


– “Vậy công đức chân thật là gì?”


Sư đáp: “Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn. Thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép kinh, độ tăng) mà cầu được.”


Vua lại hỏi: “Nghĩa tối cao của thánh đế là gì?”


– “Một khi tỉnh rõ, thông suốt rồi thì không có gì là thánh.”


– “Ai đang đối diện với trẫm đây?”


– “Tôi không biết.”


Đó là những lời khai thị về yếu tính Phật pháp rất rõ ràng, nhưng Vũ Đế không lĩnh hội.


Lương Vũ Ðế sai người tiễn khách. Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma băng qua sông Giang Bắc, thẳng đường qua nước Ngụy, lên núi Tung Sơn.


Tương truyền, sau khi ngài Bồ Ðề Ðạt Ma ra đi, Lương Vũ Ðế gặp hòa thượng Chí Công, bèn kể lại câu chuyện. Hòa thượng Chí Công hỏi:


– Bây giờ bệ hạ đã biết người ấy là ai chưa?


Vũ Ðế đáp:
– Không biết.


Hòa thượng nói:
– Ðó là đại sĩ Quan Âm tới truyền tâm ấn Phật.


Vũ Ðế hối tiếc, sai sứ đi thỉnh, nhưng ngài Bồ Ðề Ðạt Ma không quay trở lại. Sau này hồi tưởng chuyện cũ, Lương Võ Ðế tự soạn văn bia như sau:


Hỡi ôi!
Thấy như chẳng thấy
Gặp như chẳng gặp
Ðối mặt như chẳng đối mặt
Xưa đâu nay đâu
Oán bấy hận bấy . .


Tại sao mà đến nỗi vua Lương Võ Ðế mang hận như vậy?


Ðó là vì nhà vua không phân biệt được giữa phước đức hữu lậu do làm việc thiện sẽ được hưởng phước báo trong vòng nhân quả tương đối và công đức vô lậu do tu hành có công năng vượt qua được dòng sông sinh tử.Vì sự hiểu lầm này mà nhà vua coi trọng vấn đề bố thí làm phước, tưởng như thế là đã đủ trên con đường tu hành, mà không quan tâm đến vấn đề tu chứng.


Về phần ngài Bồ Đề Đạt Ma, ngài là một thiền sư đắc đạo, ngài dạy cái cốt tủy, thuộc về Phật thừa. Ngài dạy người tu để giác ngộ thành Phật. Cho nên Lương Vũ Đế không hiểu được ngài.


Qua lần nói chuyện đó, Đạt Ma biết rằng, lý tưởng Phật giáo của Vũ Đế không giống với mình, khó có thể phát huy được những tư tưởng của mình, nên quyết định cáo từ. Chuyện kể rằng, sau khi từ biệt Vũ Đế, Đạt Ma lấy một cọng cỏ ném xuống sông rồi đứng trên cọng cỏ mà qua sông Dương Tử, đi về phía bắc, đến thành Lạc Dương, kinh đô Bắc Ngụy. Năm Hiếu Xương thứ 3 đời vua Hiếu Minh Đế nhà Bắc Ngụy (tức năm 527), Đạt Ma lên Tung Sơn đến Thiếu Lâm Tự truyền bá Thiền tông. Đó là thời điểm diễn ra sự tích 9 năm thiền định nổi tiếng của Bồ Đề Đạt Ma.


Quán tích Bà La Môn – Đạt Ma


Chuyện kể rằng, khi đến chùa Thiếu Lâm, Bồ Đề Đạt Ma ngồi quay mặt vào vách đá thực hành thiền định, suốt 9 năm liền không nói gì. Những người thời bấy giờ không hiểu gì, chỉ thấy lạ nên gọi ông là “Quán bích Bà la môn”, nghĩa là ông sư Bà la môn nhìn tường. Trong thời gian ấy, có nhà sư ở Tung Sơn tên là Thần Quang, học rộng biết nhiều, nghe chuyện của Đạt Ma nên đến xin bái kiến. Đạt Ma vẫn quay mặt vào bức tường, không nói năng gì. Thần Quang không nản, nhủ rằng: “Người xưa cầu đạo, đều phải trải qua gian nan thử thách, chịu những điều người thường không chịu được”. Giữa đêm tháng chạp, tuyết bay mù mịt, Thần Quang đứng chờ bất động bên ngoài chùa, sáng ra tuyết ngập đến đầu gối.


Đạt Ma lúc ấy mới hỏi: “Ngươi đứng mãi trong tuyết để chờ gì vậy?” Thần Quang khóc mà nói: “Chỉ mong được đại sư truyền đạo”. Biết Đạt Ma còn e mình chỉ nhất thời kích động, sợ không thể kiên nhẫn học đạo, Thần Quang liền rút đao tự chặt đứt cánh tay trái, đặt trước mặt Đạt Ma, bày tỏ quyết tâm của minh. Lúc bấy giờ, Đạt Ma mới nhận Thần Quang làm đệ tử, đổi pháp danh là Huệ Khả. Huệ Khả sau này chính là vị tổ thứ hai của dòng Thiền tông ở Trung Quốc.


Sau 9 năm lưu lại Trung Quốc truyền giáo, Đạt Ma có ý muốn quay về Ấn Độ nên cho gọi các đệ tử của mình đến nói: “Giờ ta ra đi sắp tới, vậy mỗi đệ tử hãy nói cho ta nghe sở đắc của mình”. Các đệ tử mỗi người lần lượt đều tiến lên phía trước nói những điều mà mình học được, chỉ riêng Huệ Khả là đứng yên không nói gì. Đạt Ma mỉm cười nói với Huệ Khả: “Ngươi đã có được phần tủy của ta rồi”.


Nói xong Đạt Ma quyết định truyền tâm ấn cùng cuốn kinh Lăng già cho Huệ Khả rồi nói: “Ta từ Nam Ấn sang đến phương Đông này, thấy Thần Châu có đại thừa khí tượng, cho nên vượt qua nhiều nơi, vì pháp tìm người. Nay được ngươi để truyền thọ y pháp, ý ta đã toại!”. Đến năm Thiên Bình thứ ba nhà Đông Ngụy, tức năm 536, Đạt Ma viên tịch ở Lạc Tân. Các đệ tử chôn cất ông ở chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ, nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.


3. CÁI CHẾT BÍ HIỂM CỦA VỊ ĐẠI SƯ THIÊN TRÚC


Sau khi truyền giáo ở Trung Quốc, Đạt Ma quay trở lại Thiên Trúc và qua đời ở đây. Về cái chết của Bồ Đề Đạt Ma đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Có người lại nói, Đạt Ma viên tịch tại Trung Quốc vào năm 536 và được chôn cất tại đây. Tuy nhiên, khiến nhiều người tranh cãi hơn cả chính là câu chuyện Đạt Ma bị đầu độc mà chết.
Chuyện kể rằng, thời điểm Đạt Ma đến Trung Quốc truyền pháp, có một vị quốc sư nhà Bắc Ngụy là Bồ Đề Lưu Chi rất ghen ghét vì danh tiếng của Đạt Ma nên tìm mọi cách hãm hại. Lưu Chi sai người bỏ chất độc vào cơm của Đạt Ma, định hại chết ông. Đạt Ma biết trong cơm có độc nhưng vẫn ăn. Tuy nhiên, sau khi ăn, từ miệng Đạt Ma nôn ra một con rắn, nhờ thế mọi chất độc đều tiêu tan hết, Đạt Ma bình an vô sự. Lưu Chi nhiều lần tìm cách hạ độc Đạt Ma, Đạt Ma vẫn biết, nhưng lần nào cũng không hề hấn gì. Lưu Chi có ý sợ, nhưng càng nuôi dã tâm hại Đạt Ma bằng được.


Khi chọn được Huệ Khả làm người kế thừa tâm ấn, nghĩ rằng, công việc của mình tại Đông Thổ đã toại nguyện nên Đạt Ma quyết định không tự cứu mình nữa. Đó là lần thứ 7, Lưu Chi sai người bỏ độc vào cơm của Đạt Ma. Đạt Ma vẫn ăn cơm như bình thường, nhưng lần này không có con rắn nào được nôn ra, Đạt Ma cứ ngồi như vậy an nhiên tịch diệt. Sau khi Đạt Ma viên tịch, các đệ tử mới cho thi thể sư vào trong một quan tài bằng gỗ, an táng tại chùa Định Lâm.


Câu chuyện viên tịch của Đạt Ma chưa dừng lại ở đó. Sử sách còn chép lại rằng, ba năm sau ngày Đạt Ma viên tịch, một vị quan nhà Ngụy tên là Tống Vân đi sứ Tây Vực khi qua ngọn Thông Lĩnh thì gặp một vị sư tay cầm chiếc giày đang đi như bay về hướng Tây. Tống Vân biết đó là sư Đạt Ma, từ Thiên Trúc đến Đông Thổ truyền pháp, mới chặn lại hỏi: “Đại sư, pháp của ngài đã truyền cho ai rồi?”.


Đạt Ma đáp: “Sau này ngươi sẽ biết, giờ ta phải đi Thiên Trúc rồi!”. Nói xong, Đạt Ma bỏ chiếc giày đang cầm trên tay đưa cho Tống Vân, nói: “Ngươi hãy dùng chiếc giày này mau trở về đi, chủ nhà ngươi khó mà qua được ngày hôm nay”. Ngẩn ngơ, Tống Vân từ giã Đạt Ma rồi hấp tấp trở về kinh thành thì quả thực vua Minh Ðế đã băng hà.


Tống Vân thấy việc Đạt Ma nói rất đúng, nên đem Đạt Ma dự báo trước cái chết của Minh Đế tâu lên với vua Hiếu Trang mới vừa tức vị. Nhà vua không tin, cho lệnh tống giam Tống Vân vào ngục tối. Một thời gian sau, khi đã bớt giận, vua Hiếu Trang mới cho gọi Tống Vấn đến và hỏi rõ ngọn ngành. Tống Vân lúc này mới đem chuyện gặp Đạt Ma nói lại với vua. Vua nghe xong ra lệnh quật mộ Đạt Ma lên để kiểm chứng. Khi quan tài được mở ra, trong quan tài không có gì cả, ngoài một chiếc dày cũ. Các vị quan được lệnh khám xét quan tài thấy vậy vô cùng kinh ngạc, đem mọi chuyện về tâu lại với vua. Vua nghe thấy vậy, mới tin những gì Tống Vân nói là thực bèn ra lệnh cho đưa chiếc giày còn lại của Đạt Ma về chùa Thiếu Lâm để thờ ở đó.