Đăng bởi

Nguồn gốc lịch sử sâu xa của chùa Đỏ

Nguồn gốc lịch sử sâu xa, chùa Đỏ là tên gọi dân dã của Linh Tự Độ, xưa thuộc xã Đông Khê huyện An Dương phủ Kinh Môn Đạo, Hải Dương. Thuở xa xưa, chùa tọa lạc trên khu bãi bồi thường có người chết trôi dạt vào. Quan nha khám nghiệm tử thi bắt dân sở tại phải phục dịch và hay hạch sách phiền nhiễu dân làng.

Do đó người ta nhường khu bãi bồi ấy cho Đông Khê, xã đầu tổng lại có nhiều người đậu đạt làm quan không sợ bị hạch sách, dân làng dựng một ngôi chùa nhỏ ở khu gò cao gần bờ sông thờ Phật, cầu Như Lai độ cho linh hồn những người xấu số.
Theo truyền ngôn, năm Mậu Tuất (1288) Hưng Đạo Vương khi đến vùng An Dương để nghiên cứu trận thuỷ chiến tiêu diệt đoàn thuyền Ô Mã Nhi rút chạy qua cửa Bạch Đằng, có đội hỏa đầu quân ở chùa Linh Độ Tự lo việc phục dịch ăn uống cho bộ chỉ huy chiến dịch. Chùa vốn là nơi am thanh cảnh vắng, khi đội hỏa đầu quân đến đóng, bếp luồn đỏ lửa. Do đó có thêm tên dân dã để nhớ đến kỷ niệm ngày Đức thánh Trần trú quân ở đây.
Sau khi Trần Hưng Đạo qua đời, dân làm hai ngôi miếu ở hai bên chùa để thờ ngài và các bộ tướng thân tín là các con trai và con rể, tức Điện soái Phạm Ngũ Lão.
Chùa Đỏ đã được sửa chữa nhiều lần với quy mô ngày một mở mang. Theo bia ký của chùa hiện còn ghi việc sửa chữa lớn vào năm Đinh Dậu – Quý Mão (1717 – 1723) đài Lê Dụ Tông (bia tạo năm Bảo Thái thứ 6 (1725) và trùng tu năm Tự Đức 32 ghi việc sửa chữa ghi tên nhiều quan chức của tỉnh Hải Phòng, của tỉnh Hải Dương cung tiến chữa chùa).
Cho đến trước cách mạng tháng tám 1945, Chùa Đỏ là một chùa đẹp, nhiều bản đồ thành phố ghi tên. Trong khoảng thời gian Pháp đô hộ (1946 – 1954) và cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1964 – 1973) chùa bị hư hại nhiều.

Kiến trúc

Chùa có kiến trúc độc đáo chưa từng có trong lịch sử kiến trúc chùa chiền Việt Nam Kiến trúc cổ diêm chồng đấu có 3 tầng 20 mái, mối liên hệ giữa Tiền đường – Trung đường và Hậu cung đã xử lí hai mái giao nhau, tạo ra sự hòa quyện giữa các khu, liên kết khéo léo các khu lại tạo ra hình khối liên kết nguy nga, hoành tráng.
Chùa được chia làm ba cung chính: Phía ngoài là mặt Tiền đường, ở giữa là Trung đường, phía sau là Hậu cung.
Chùa Đỏ cao tới 26m. Cách trang trí bên trong và trên mái Tiền đường được thiết kế một tháp 7 tầng cao 5m, chân tháp cao 1,2m, bên trên tháp có sen, trong tòa sen có cột cờ cao 5m,
để treo cờ trong mùa lễ hội.
Ở Trung đường có hàng “hoa chanh” được cách điệu là các lá đề kép bằng men màu xanh cổ chạy dọc nóc chùa. Trên mỗi lá đề kép đều có biểu tượng Linh Độ Tự.
Hậu cung có hai tầng mái đao, ở giữa trên nóc mái có đặt lá bồ đề (cao 1,20m) như ngọn lửa bập bùng, thể hiện sự tinh khiết, trong sáng của đạo Phật, của tăng ni, Phật tử hướng thiện cứu khổ, cứu nạn. Xung quanh các tầng mái đều lắp lá đề kép, làm bằng chất liệu đặc biệt, ở giữa trang trí nhiều bóng đèn xung quanh và được thắp sáng trong những ngày đại lễ. ;
Mặt chính chùa làm bằng đá xanh, cột được trang trí những cọn Rồng, mang đậm sắc thái nghệ thuật thời Lí Trần.
Bên ngoài Chính điện tầng một có bố trí 4 cây cột đá (đường kính 50 cm, cap 4,2m) chạm khắc Long – Phượng, đối xứng hai bên, giữa các cột là các lan can bằng đá chạm khắc “Tùng – Trúc – Cúc – Mai” được biểu hiện ở dạng hóa Rồng. Bệ dưới ốp đá chạm trổ mây và hoa sen nở nền chùa được tạo dựng trên một tòa sen khổng lồ với ý nghĩa Liên Hoa Tạng Giới.

Những ngày đầu xuân, người dân thành phố Hoa phượng đỏ nô nức đến vãn cảnh chùa, vừa thỏa mãn lòng chiêm bái và cầu cho một ăn mưa thuận, gió hòa ở một địa danh tâm linh.

Đăng bởi

Các lễ hội truyền thống tháng 5 âm lịch.

1. Lễ hội Bánh chưng – Bánh giầy  được  nhân dân Sầm Sơn tổ chức hằng năm :




Lễ hội bánh Chưng – bánh Giầy được tổ chức tại Đền Độc Cước hàng năm. Được tổ chức vào ngày 12 tháng 5 (âm lịch) hằng năm tại đền Độc Cước. Nội dung chính của lễ hội là tế lễ, cầu mưa và thi làm bánh Chưng, bánh Giầy

 


2. Lễ hội Cầu Ngư Bơi Chải





Nghi thức tế lễ trang nghiêm trước khi bước vào lễ hội Cầu Ngư Bơi Chải


Được tổ chức vào ngày rằm tháng 5 (âm lịch) hàng năm tại cửa biển Lạch Hới. Người dân tổ chức đu thuyền để tỏ lòng tôn kính vị thần biển, thần Mặt Trăng, thần Độc Cước đã che chở, phù hộ cho nhân dân trong vùng.




3. Lễ hội Trà Cổ ( từ ngày 29 tháng 5 đến 6 tháng 6 âm lịch): Lễ hội dân gian Trà Cổ diễn ra tại làng Trà Cổ, thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Hội làng Trà Cổ diễn ra trong 7 ngày với các nghi thức rước từ Trà Cổ về quê tổ Ðồ Sơn, rồi từ Ðồ Sơn quay về Trà Cổ, mồng 1 tháng 6 âm lịch là ngày vào hội rước Vua ra bể (còn gọi là rước vua ra Miếu) với nghi thức gồm một đội quân cầm vũ khí, cờ thần, phường bát âm. Sau lễ rước là cuộc thi các sản phẩm chăn nuôi trồng trọt. Nét độc đáo của hội Trà Cổ là hội thi làm cỗ, thi nấu ăn, ai nấu ăn giỏi đều được cả làng biết đến. Ngày mồng 6 tháng 6 âm lịch là ngày kết thúc hội có múa bông. Trong ngày múa bông, người ta cầu mong trời đất thần linh phù trợ cho đánh bắt được nhiều cá tôm, buôn bán phát đạt, chăn nuôi, trồng cây tươi tốt, cuộc sống ấm no.



4. Hội Yên Lập(tháng 5 âm lịch)


Hội Làng Yên lập được tổ chức từ ngày 24 đên 26 tháng 5 âm lịch tại Xã Yên Lập,Huyện Vĩnh Tường,Tỉnh Vĩnh Phúc Việt Nam.






Hội Làng Yên lập được tổ chức từ ngày 24 đên 26 tháng 5 âm lịch tại Xã Yên Lập,Huyện Vĩnh Tường,Tỉnh Vĩnh Phúc Việt Nam nhằm suy tôn Đăng Đạo Song Nga, âm phù Hai Bà Trưng.


Thông tin chi tiếtThời gian: 25 – 27/5 âm lịch.


Địa điểm: Xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.


Đối tượng suy tôn: Đăng Đạo Song Nga, âm phù Hai Bà Trưng.


Đặc điểm: Lễ trình Thánh, đón Ngài về dự hội trên ba thuyền ghép lại, thi bơi trải.


Sáng 24 :buổi sáng hạ chải, buổi chiều cọ chải.
Ngày 25: Bơi lấy giải. Địa điểm xuất phát từ đình 3 làng (Hạc Đình – Bố thôn và Đa thôn) về miếu làng Trống (Me Trống thuộc xã Việt Xuân) vào buổi sáng.
Chiều 25: Bơi trình thuyền (lễ rước sông nước) sang gò cội Nụ giữa cánh đồng trước cửa đình 3 làng.
Sáng 26: Cọ chảiCả 3 làng, mỗi làng có một chải là một thuyền hình rồng bằng gỗ chò dài 20 mét, rộng 2,2 mét, đầu và đuôi sơn đỏ, thân giữa sơn màu đen. Mũi chải có 40 người, một đứng đầu chải cầm cờ đỏ làm hiệu, 1 người bẻ lái và 38 tay bơi.


Chải làng Đình bao giờ cũng thắng cuộc. Câu ca của dân địa phương là:


“Chải làng Đình rập rình đi trước.


Chải làng Vó chịu khó đi sau


Chải làng Da bơi la bơi liệt”


Đó cũng là thứ tự của cuộc thi tài mùa bơi chải.
Đăng bởi

Minh chứng cho thời kỳ rực rỡ của văn hoá Đông Sơn. 

Vừa qua, Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam phối hợp với Hội cổ vật Thăng Long; Hà Nội tổ chức trưng bày chuyên đề “Cổ vật Việt Nam” gồm hơn 50 cổ vật tiêu biểu, đặc sắc, được chọn lựa kỹ lưỡng từ bộ sưu tập của các cá nhân và Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam. “Cổ vật Việt Nam” gồm nhiều hiện vật làm từ các chất liệu vàng, bạc, đồng, gốm… có niên đại từ văn hoá Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2.500 năm tới thời các chúa Nguyễn (1533 – 1777). Cổ vật phong phú, làm bằng đồng như trống đồng, ấm, chuông, thạp, chân đèn, bình, bát, muôi, chóe… Gốm có gốm men nâu, men trắng, hoa, màu, hoa lam, men lục… Trưng bày chuyên đề mở đầu bằng các cổ vật, trống đồng Đông Sơn, công cụ đồng, tượng người và thú, dao gắn đồng, muôi đồng, đèn đồng… minh chứng cho thời kỳ rực rỡ của văn hoá Đông Sơn.

Kendy gốm thế kỷ V-VII.

Kendy gốm thế kỷ VI – VIII.

Chân đèn hình người chất liệu đồng thế kỷ IV – VI.

Nắp đồ đựng, chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bình chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nắp đồ đựng, chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nồi chất liệu bằng gốm, niên đại trước Công nguyên.

Lọ chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bát bồng chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Nắp đồ đựng chất liệu gốm, thế kỷ I – II.

Năm 1924, nhiều cổ vật bằng đồng được phát hiện ở làng Đông Sơn bên bờ sông Mã, tỉnh Thanh Hóa. Sự phong phú về các loại đồ đồng ở đây cho thấy kỹ thuật luyện đồng hàng nghìn năm trước, từ nghệ thuật trang trí trên trống đồng Đông Sơn đến công cụ bằng đồng gắn với tôn giáo, tín ngưỡng cổ truyền như thần mặt trời, thần núi, thần sông, thổ sinh, thực khí, ma thuật…; thiên nhiên chan hòa với con người, cỏ cây, hoa lá, muông thú.., Đồ gốm Đông Sơn sử dụng bàn xoay, hình dáng phong phú, bố cục đối xứng ngang dọc xen kẽ. Những chiếc đèn lồng có hình người, hình thú, tượng thú, phản ánh sự tồn tại của thần linh, quan niệm tín ngưỡng thời kỳ Đông Sơn và bản sắc văn hóa, nghệ thuật Lạc Việt không bị đồng hoá bởi ách đô hộ của các triều đình phương Bắc. Mỹ thuật ứng dụng Đông Sơn được các nhà nghiên cứu văn hoá đánh giá là huy hoàng nhất giai đoạn mỹ thuật thời tiền sơ sử Việt Nam và Đông Nam Á.

Tượng thần Brahama, niên đại thế kỷ XII – XIII.

Đồ gốm niên đại thế kỷ IV – VI.

Bát bồng chất liệu gốm, niên đại trước Công nguyên.

Bia đá thế kỷ XI.

Tượng Phật bằng gỗ, niên đại thế kỷ VI – VII.

Tượng Phật bằng gỗ, niên đại thế kỷ IV – VI.

Ngoài cổ vật văn hoá Đông Sơn, khách tham quan còn được khám phá nghệ thuật gốm cổ Việt qua nhiều thế kỷ, từ thời Lý (1010 – 1225), Trần (1225 – 1400), Lê Sơ (1428 – 1527), Mạc (1527 – 1592) tới Lê Trung Hưng (1533 – 1789). Vào thời Lý (1010 – 1225) thịnh hành các loại gốm men ngọc, gốm hoa nâu, gốm trắng, gốm men đen, sứ màu nâu sậm. Thời Trần (1225 – 1400) bên cạnh loại gốm men ngọc, hoa nâu còn xuất hiện gốm hoa lam. Gốm men ngọc thuộc hàng cổ vật tiêu biểu của gốm thời Lý, Trần với màu men xanh lá cây từ sẫm đến vàng nhạt, xương gốm trắng mịn, hoa văn trang trí chạm chìm hoặc đắp nổi. “ Thạp gốm hoa nâu” thời Lý, Trần kế tục nhau trở thành loại gốm nổi tiếng. Đặc biệt, có sự kết hợp giữa các thủ pháp nghệ thuật điêu khắc với nghệ thuật phối hợp kỹ thuật men và màu tạo nên vẻ đẹp gốm hoa nâu. Các cổ vật gốm hoa lam thế kỷ XV – XVII làm từ đất sét trắng mịn, nung gần chảy nên xương cứng. Nét vẽ tay bằng bút lông trên sản phẩm đồ thờ cúng tạo sự khoáng đạt, thông thoáng, không lệ thuộc vào các hình mẫu tả thực. Sự phát triển rực rỡ của gốm sứ giai đoạn này đưa sản phẩm gốm sứ Việt theo con đường tơ lụa xuất đi nhiều quốc gia trên thế giới. Đến thời nhà Nguyễn (1802 – 1945), pháp lam Huế, một loại hình trang trí, đã được dùng để gọi tên cho kỹ nghệ chế tác pháp lam ở Việt Nam, khẳng định dấu ấn sáng tạo của người Việt, của văn hoá Việt Nam, minh chứng cho nền kinh tế – chính trị những năm độc lập, tự chủ thời Nguyễn. Hiện vật cặp bình choé có nắp đồng pháp lam, hiệu “Minh Mạng niên chế” (1820 – 1840) trang trí đa dạng với các đồ án từ hoa lá, tứ linh, bát bửu, sơn thuỷ, màu sắc phong phú, phối màu hợp lý, tinh tế.

Nhẫn chất liệu vàng, niên đại thế lỷ III – VII.

Hạt chuỗi chất liệu vàng, niên đại trước Công nguyên.

Lá dập nổi hình mặt người, chất liệu vàng, niên đại trước Công nguyên.

Một góc trưng bày chuyên đề ‘Cổ vật Việt Nam’.

Nghề kim hoàn truyền thống Việt Namnổi tiếng với các kỹ thuật chạm, đậu, trơn, đạt đến độ tinh xảo. Kĩ thuật chạm thể hiện sự khéo léo, đạt đến tầm nghệ thuật qua phương pháp chạm trổ những hình vẽ hoa văn trên mặt đồ vàng, bạc. Kĩ thuật đậu là kéo vàng, bạc, rồi uốn ghép thành hình hoa lá, chim muông gắn lên đồ trang sức. Kĩ thuật trơn chuyên đánh vàng, bạc thành những đồ trang sức không cần chạm trổ. Bộ sưu tập đồ trang sức vàng, bạc thời các chúa Nguyễn trưng bày gồm: vòng tay, trâm cài, vòng cổ, nhẫn.., được sưu tập 5 năm trước và đây là lần đầu tiên trưng bày, giới thiệu tới công chúng Thủ đô. Các hiện vật quý giá được trưng bày trong chuyên đề ‘Cổ vật Việt Nam’ góp phần giới thiệu tới công chúng trong nước, bạn bè quốc tế những nét tinh hoa, giá trị lịch sử cũng như văn hóa đặc sắc của Việt Nam./.

Đăng bởi

Nghệ thuật Rối nước: “Linh hồn của đồng ruộng Việt Nam”

Múa rối là loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống có từ lâu đời của các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam, nó ra đời và tồn tại cùng với nền văn minh lúa nước từ thời các vua Hùng dựng nước.Song dấu ấn của nghệ thuật múa rối nước còn lại đến ngày nay mà chúng ta nhận biết được là vào đời vua Lý Nhân Tông năm 1121, trên bia Sùng Thiện Diên Linh đặt tại chùa Long Ðọi, xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Văn bia chùa Đọi có ghi nhân dân biểu diễn các trò diễn Rối nước để mừng thọ Vua. 

Do điều kiện tự nhiên và công việc nông nghiệp của người dân Việt Nam gần gũi và gắn bó với nước, chính những người nông dân chân lấm tay bùn này đã sáng tạo ra nghệ thuật Rối nước. Họ thường tổ chức diễn vào những ngày việc đồng áng tạm xong, ngày xuân, những ngày mở hội. Người Pháp gọi môn nghệ thuật này với những con rối duyên dáng là “Linh hồn của đồng ruộng Việt Nam” và đánh giá: “Với sáng tạo và khám phá. 


Rối nước đáng được xếp vào những hình thức quan trọng nhất của Sân Khấu Múa Rối”. Phương thức nhờ nước để con rối hoạt động, nhờ nước giấu đi bộ máy và cách điều khiển là sáng tạo tuyệt vời. Nước làm cho con rối sinh động, làm cho chúng tươi tắn. Nước đã tham gia cùng diễn với con rối như một nhận xét: “Nước cũng là một nhân vật của múa rối”. Mặt nước như êm ả với đàn vịt bơi, trở nên thơ mộng trong làn khói huyền ảo khi bầy tiên nữ giáng trần múa hát. Nhưng mặt nước cũng sôi động trong những trận chiến lửa, những con rồng vây vàng xuất hiện. Báo Pháp viết: “Con rối được điều khiển bằng sự khéo léo khó mà tưởng tượng. Con rối như có phép thuật điều khiển”.

Đấy chính là sự tài tình, là điều hấp dẫn và sáng tạo của nghệ thuật Múa rối nước. Trước kia, rối nước chỉ diễn vào ban ngày, ở ngoài trời. Không thấy sân khấu gắn bó hòa quyện với phong cảnh thiên nhiên như rối nước. Giữa thiên nhiên thơ mộng, khán giả có cơ hội chiêm ngưỡng một loại hình nghệ thuật trong đó có đất, nước, cây xanh, mây, gió, có lửa, có khói mờ vương tỏa, có cả mái đình với những hàng ngói đỏ… Thật sự là một sự hòa hợp độc đáo của nghệ thuật, thiên nhiên và con người. Lịch sử Múa rối Việt Nam ghi nhận hai loại hình chính là Múa rối cạn và Múa rối nước. Rối cạn gồm nhiều hình thức như: Rối tay, Rối que ở Đồng Minh (Hải Phòng), Tế Tiêu (Hà Tây), Rối dây, Mộc Thầu Hý ở Cao Bằng, Bắc Thái. Riêng Rối nước là loại hình dân gian độc đáo, chỉ có duy nhất ở Việt Nam. 





Nguồn: Nhà hát Múa rối Việt Nam

Đăng bởi

Thanh minh là ngày mặt trời ở vị trí hoàng đạo

Theo ông Trịnh Yên, Ủy viên Hội Các dòng họ Việt Nam, Thanh minh như một ngày giỗ chung của mọi nhà nhằm báo hiếu trả nghĩa người quá cố. Dù đi làm ăn xa con cháu cũng cố về chăm sóc sinh phần tổ tiên. Với nhiều gia tộc, việc tảo mộ trong tiết Thanh minh được quy định rõ trong gia phả.

Cúng ở mộ tổ trước
Với các nhà tâm linh, Thanh minh vừa là dịp lễ, vừa là ngày mặt trời ở vị trí hoàng đạo, may mắn và người dân đi tảo mộ, tu chỉnh lại mộ phần tổ tiên với đạo nghĩa uống nước nhớ nguồn. Với nhiều gia đình, lễ tảo mộ là dịp con cháu sum họp để thực hiện trách nhiệm, sự tận nghĩa, hiếu hạnh, thành kính với tổ tiên.

Trong gia tộc, phụ lão đi trước mang vàng hương, thanh niên đi sau đội mâm lễ, rồi thứ tự người già, trưởng nam, trưởng nữ, con cháu ruột nội ngoại, dâu rể. Người lớn thắp hương, sửa sang mộ phần, dâng hương hoa, vàng, nến…Con trẻ cũng theo đi tảo mộ để biết về gia tiên, dòng tộc. Phẩm vật cúng lễ tuy “tay xách, nách mang” nhưng không được thuê người giúp để thể hiện lòng thành với tiên tổ. Sau khi dâng hương tổ tiên, mọi người sẽ đi dâng hương một vòng những ngôi mộ không có người tới thăm, thể hiện tâm đức của người đang sống với người đã khuất.

Thượng tọa Thích Thanh Duệ (Giáo hội Phật giáo Việt Nam) hướng dẫn trong Văn khấn Việt Nam: Lễ cúng trong tiết Thanh minh gồm: Nước, hương đèn, trầu cau, tiền vàng, hoa quả… Khi đến nghĩa trang (hay khu vực mộ phần tổ tiên), gia chủ đặt lễ vào chỗ thờ chung, sau đó thắp hương, đèn vái các vị thần linh, thổ địa rồi khấn cầu cho vong linh được an nhàn yên ổn, siêu thoát, độ trì cho con cháu mạnh khỏe an bình, bốn mùa không tật ách, tám tiết hưởng thanh bình.

Khi đến mộ phần, gia chủ đặt lễ vào am (nơi cúng chung), nếu không có thì dùng đôn (ghế) đặt lễ vật. Dân gian thường có 2 lễ: Một lễ quan niệm cúng sơn thần, thổ địa… cai quản để xin quan thần linh thổ địa cho phép tảo mộ, chăm chút, phát quang, sửa sang, bồi thổ phần mộ và độ cho vong linh được yên ổn, siêu thoát.

Theo ông Đặng Nam, Trung tâm UNESCO cổ học Phương Đông, các phần mộ nhiều khi cách xa, thăm viếng trọn vẹn mất cả ngày, cả tuần. Nhưng nếu đã đi cúng tại mộ phần thì phải thăm mộ tổ trước, rồi mới tới các mộ kế cận. Đứng lễ cúng tế nếu là họ tộc thì người già nhất họ sẽ dâng hương, cúng tế, rồi mới tới con cháu đồng tâm khấn vái. Nếu là gia đình thì trưởng nam dâng hương. Đợi hết 2/3 hương thì hóa vàng, hạ lễ và thụ lộc.

Nếu không có điều kiện đi tới các phần mộ thì có thể cúng Thanh minh tại nhà, hoặc nhà thờ họ rồi chia lộc cho con cháu để thể hiện tình cảm ruột rà, tình nghĩa. “Thanh minh như một ngày giỗ chung của mọi nhà nhằm báo hiếu trả nghĩa người quá cố. Dù đi làm ăn xa ai cũng cố về chăm sóc sinh phần tổ tiên, là dịp cha chú ôn chuyện xưa, dạy bảo con cháu, dâu rể biết về mộ phần, tên tuổi, vai vế của tổ tiên, về dòng họ phụng thờ. Với nhiều gia tộc, việc tảo mộ quy định rõ trong gia phả, cứ đúng ngày là con cháu phải về phụng sự, như sợi dây vô hình nối kết dòng họ”, ông Trịnh Yên cho biết.

Nên và không nên trong cúng Thanh minh
Cũng theo ông Đặng Nam, trong cúng Thanh minh, các gia chủ lưu ý một số điều sau:

Nên:

> Cúng Thanh minh bằng lễ chay, không nên làm lễ mặn bởi quan niệm được ăn chay, niệm Phật mới dễ siêu thoát.

> Nên sắm lễ chay với: Xôi chè, oản chuối, bánh trái, chai nước, gạo muối, bỏng, bơ, chén mật ong.

> Khi tảo mộ, nếu là mộ xây thì xin phép được bao sái mộ chí, sơn vẽ, tu sửa phần bị hư hỏng. Với mộ đất thì xin phép rẫy cỏ, đắp đất tôn cao…với tâm nguyện để mộ phát gia tộc mới thịnh vượng. Lưu ý: sơn, giấy, hoa ở mộ thường chọn màu đỏ để khu mộ vượng khí, đẹp và có tài lộc.

> Ngoài mộ phần thân quyến, nên thắp hương cả những ngôi mộ vô chủ, hoặc gần đó.

Không nên:

Tiết Thanh minh không nên mời thầy pháp, thầy chùa theo cúng lễ sinh tốn kém. Chỉ gia đình, họ tộc tự đi tảo mộ, tự khấn vái là được.

Theo các nhà tâm linh, Thanh minh là lễ tiết hàng năm, sau Lập xuân 45 ngày, sau ngày Đông chí 105 ngày. Năm nay, Thanh minh bắt đầu từ 22h ngày 4/4 dương lịch (24/2 âm lịch) và kết thúc vào khoảng ngày 20, hay 21/4 khi tiết Cốc vũ bắt đầu. Tiết Thanh minh trời thường quang đãng, sáng sủa, mưa phùn và nồm ẩm chấm dứt.

Thanh minh vừa là dịp lễ, vừa là ngày mặt trời ở vị trí hoàng đạo, may mắn và người dân đi tảo mộ, tu chỉnh lại mộ phần tổ tiên với đạo nghĩa uống nước nhớ nguồn.

Đăng bởi

Thanh minh thiêng liêng trong tiềm thức người Việt.

Thanh minh tuy không phải là cái tết lớn, nhưng lại gắn liền với đạo đức, với bổn phận con người Việt Nam – bổn phận của con cháu tưởng nhớ công lao của tổ phụ, của những người đi trước. Đây chính là ngày giỗ tổ chung để mọi người có dịp báo hiếu, trả nghĩa, gọi là đền đáp phần nào ơn sinh thành tạo dựng của tổ tiên.



Dù ai đi đâu, ở đâu đến ngày Thanh minh âm lịch cũng cố gắng về với gia đình để được đi tảo mộ, để cùng nhau ngồi bên mâm cơm sum họp gia đình. Những ngôi mộ được người nhà dọn dẹp sạch sẽ, vun đắp thêm đất mới, đó là những tâm đức của người đang sống đối với người đã khuất.
Con cháu dù làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này để tưởng nhớ tổ tiên và sum họp với gia đình.
Phong tục làm cỏ các phần mộ (lễ tảo mộ), sửa sang, thắp hương, đặt hoa quả thành kính tưởng nhớ ông bà tổ tiên là những hoạt động không thể thiếu trong ngày lễ quan trọng này.
 
Nguồn gốc Tết Hàn thực
Tết Hàn thực được bắt nguồn từ Trung Quốc. Chuyện kể rằng, đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công, nước Tấn, gặp loạn phải bỏ nước lưu vong, nay trú nước Tề, mai trú nước Sở. Bấy giờ có một hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi theo vua giúp đỡ mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn, Giới Tử Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi mình nấu lên dâng vua. Vua ăn xong hỏi ra mới biết, đem lòng cảm kích vô cùng.
Giới Tử Thôi theo phò Tấn Văn Công trong mười chín năm trời, cùng nhau trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm. Về sau, Tấn Văn Công giành lại được ngôi báu trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu cho những người có công, nhưng lại quên mất công lao của Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình làm được việc gì, cũng là cái nghĩa vụ của mình, chứ không có công lao gì đáng nói. Vì vậy, ông về nhà đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn.
Tấn Văn Công về sau nhớ ra, cho người đi tìm. Giới Tử Thôi không chịu rời Điền Sơn ra lĩnh thưởng, Tấn Văn Công hạ lệnh đốt rừng, ý muốn thúc ép Giới Tử Thôi phải ra, nhưng ông nhất định không chịu tuân mệnh, rốt cục cả hai mẹ con ông đều chết cháy. Vua thương xót, lập miếu thờ và hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng niệm (khoảng từ mồng 3.3 đến mồng 5.3 âm lịch hàng năm). Từ đó ngày mùng 3.3 âm lịch hằng năm được coi là ngày Tết Hàn thực, nhằm tưởng nhớ đến công ơn dưỡng dục của những người đã khuất.
Tết Hàn thực của người Việt
Nếu như Tết Thanh minh mang ý nghĩa cội nguồn, nhắc chúng ta không quên hướng về quê cha đất tổ, thì Tết Hàn thực (Tết bánh trôi bánh chay) cũng được người dân nhiều nơi coi trọng, hoặc kết hợp Tết Thanh minh với Tết Hàn thực, được tổ chức vào ngày 3 tháng Ba âm lịch. Tuy nhiên, trên thực tế Tết Thanh minh đi theo quy luật vận hành của mặt trời – lịch dương, chứ không theo lịch mặt trăng – lịch âm, thường rơi vào ngày 4 hoặc ngày 5 của tháng Tư dương lịch.
Từ thời Lý nhân dân ta đã tiếp nhận tết Hàn thực nhưng ý nghĩa của ngày tết này đã biến đổi và mang đậm màu sắc truyền thống, phù hợp với tâm lý cũng như cuộc sống thường nhật của người dân nước Việt. Vào ngày tết Hàn thực, người Việt không kiêng lửa, mọi việc nấu nướng vẫn được thực hiện, chỉ có điều người Việt dùng bánh trôi – bánh chay cho tết Hàn thực với ý nghĩa tượng trưng đó là những thức ăn nguội – hàn thực. Vì vậy người Việt còn gọi tết Hàn thực bằng một tên gọi khác là tết bánh trôi – bánh chay.
Bánh trôi, bánh chay sau khi thắp hương, cả gia đình quây quần bên nhau thưởng thức hương vị đậm đà của món bánh này.
Tết Thanh minh nhắc chúng ta nhớ về quê hương, nguồn cội. Phảng phất trong bóng dáng mỗi con người là dấu ấn quê hương không dễ phai mờ theo năm tháng. Quê hương, nguồn cội chính là tài sản tinh thần vô giá đối với mỗi cá nhân chúng ta. Nếu không có điều kiện trở về quê hương trong dịp Thanh minh này, xin hãy hướng về nơi thiêng liêng ấy, bởi quê hương đi theo chúng ta suốt cuộc đời, in đậm dấu ấn trong từng nhân cách.
Đăng bởi

Lễ hội cổ truyền Việt Nam diễn ra trong tháng 4 Âm Lịch

Hương Tâm Linh tổng hợp các lễ hội truyền thống diễn ra trong tháng 4 âm lịch để mọi người sắp xếp thời gian tham gia.

1- LỄ HỘI GIÓNG PHÙ ĐỔNG
“Ai ơi mùng chín tháng tư
Không đi Hội gióng cũng hư mất người”
(Ngày 15 tháng 4 âm lịch)

Diễn ra từ ngày 6 -10 tháng 4 ở huyện Gia Lâm, HN). Hội Gióng Phù Đổng thấy được tổ chức hàng năm vào hai ngày mùng 8 và mùng 9 tháng 4 âm lịch tại xã Phù Đổng, huỵện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, nơi sinh ra người anh hùng huyền thoại “Phù Đổng Thiên Vương“. Hội gióng Phù Đổng có sức hấp dẫn trong việc hoàn thiện nhân cách con người, dân gian từng ghi nhận bằng câu ca dao:

2- Lễ Phật Đản
Phật Đản (chữ Nho 佛誕; sa. Vaisakha; p. Visakha) là ngày kỷ niệm Đức Phật đản sanh (sinh ra) tại vườn Lâm-tì-ni, năm 624 TCN, diễn ra vào ngày 15 tháng 4 âm lịch hàng năm. Theo truyền thống Phật giáo Đông Á ngày này chỉ là ngày kỉ niệm Phật đản sanh; tuy nhiên, theo Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Tây Tạng thì ngày này là ngày Tam hiệp (Phật đản, Phật thành đạo và Phật nhập Niết-bàn). Trước năm 1959 các nước Đông Á, thường tổ chức ngày lễ Phật đản vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch. Nhưng Đại hội Phật giáo thế giới lần đầu tiên, tại Colombo, Tích Lan, 25 tháng 5 đến 8 tháng 6 năm 1950, 26 nước là thành viên thống nhất ngày Phật đản quốc tế là ngày rằm tháng Tư âm lịch.
Lễ hội phật đản, Versak
3- Lễ hội Chol Chnam Thmay
(Ngày 15 tháng 4 âm lịch)

Chol Chnam Thmay (hoặc Chaul Chnam Thmay) trong phong tục tập quán của người Khmer là lễ hội mừng năm mới theo lịch cổ truyền. Lễ Chôl Chnăm Thmay cũng là những ngày Tết của Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanma, Sri Lanka. Ngoài tôn giáo chính là Phật giáo, người Khmer còn tin rằng mỗi năm có một vị thần trên trời (Têvôđa) được sai xuống để chăm lo cho cuộc sống và con người trong năm đó, hết năm lại về trời để vị thần khác xuống hạ giới. Những ngày này trở thành, lễ hội truyền thống của cả cộng đồng. Tổ chức nhiều trò vui như đốt đèn trời, đốt ông lói, đánh quay lửa… Các cụ già kể cổ tích, thần thoại, chuyện cũ cho con cháu nghe.

Thường tổ chức khoảng đầu tháng Chét của lịch Phật giáo Khmer (khoảng giữa tháng 4 dương lịch). Kéo dài trong 3 ngày, năm nhuận kéo dài 4 ngày, tên gọi mỗi ngày tết khác nhau.
Ngày đầu tiên có tên: Moha Songkran {Chôl sangkran Chmây)
Ngày thứ hai có tên: Wanabat (Wonbơf)
Ngày thứ ba có tên: Tngai Laeung Saka (Lơm săk)
Nếu năm nhuận cũng có tên là: wonbơf
Trong các này mọi người đi thăm hỏi lẫn nhau, chúc nhau tài lộc, sức khoẻ, phát đạt và cùng nhau tham gia các trò vui. Thời gian có khi kéo dài hơn tuần mới trở lại cuộc sống thường nhật.
4- Lễ khao lề thế lính
(Từ ngày 18-20 tháng 4 âm lịch ở huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi)
Lễ khao lề thế lính là một lễ hội được nhân dân huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi duy trì hàng trăm năm nay. Thời gian đầu khi mới thành lập Đội Hoàng Sa, cứ hàng năm người của đảo Lý Sơn lại được tuyển mộ vào đội này làm binh, phu đi khai thác và bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa. Việc này gọi là “thế lính”. Lễ khao lề thế lính là một lễ hội độc đáo với truyền thống uống nước nhớ nguồn nhằm ghi nhớ công ơn người xưa hay nhóm An Vĩnh thuộc hải đội Hoàng Sa đã ra đi tìm kiếm sản vật và cắm mốc biên giới hải phận mà không trở về.
Lễ hội được tổ chức tại Âm Linh Tự (một di tích được xếp hạng quốc gia) vào các ngày 18, 19, 20 tháng 4 âm lịch hàng năm. Đây là lễ hội lớn không chỉ của huyện mà còn của cả tỉnh Quảng Ngãi. Với hình thức tổ chức rất công phu nhiều công đoạn, song đặc biệt hơn cả là hình thức thả thuyền giấy ra biển ngụ ý mãi duy trì việc ra biển như trước và có lẽ vì thế mà lễ hội có tên là khao lề thế lính. Vào những ngày này, ngoài việc tổ chức người địa phương còn thực hiện đắp và dọn các ngôi mộ của các chiến sĩ hải đội Hoàng Sa (dân nơi đây gọi là Mộ gió).
Lễ hội này không chỉ mang ý nghĩa phục vụ công tác nghiên cứu văn hóa cộng đồng cư dân ven biển Việt Nam, du lịch mà còn thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, truyền thống gìn giữ và bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải của đất nước.
5- Lễ hội miếu Bà Chúa Xứ
(Từ ngày 23-27 tháng 4 âm lịch ở Châu Đốc, An Giang)
Lễ hội miếu Bà Chúa Xứ còn gọi lễ Vía Bà là một lễ hội của người dân Nam bộ, nằm dưới Núi Sam. Thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang, hàng năm đã thu hút trên 2 triệu lượt khách hành hương.
Đêm 23 tháng 4 làm lễ tắm và thay xiêm y cho tượng Bà. Nước tắm tượng là nước thơm, bộ y phục cũ của Bà được cắt nhỏ ra phân phát cho người dân hay khách trẩy hội và được coi như lá bùa hộ mệnh giúp cho người khỏe mạnh và trừ ma quỷ, hóa giải .
Tiếp theo các lễ:
Lễ rước bốn bài vị từ lăng Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà
Lễ Túc Yết được tổ chức vào lúc 24 giờ ngày 25 rạng ngày 26. Lễ được tiến hành theo trình tự: dâng hương, chúc tửu (rượu), hiến trà, đọc văn tế. Sau đó bài văn tế được hóa cùng với một ít giấy vàng bạc
Lễ Xây Chầu – Hát Bội do do một người sành nghi lễ và có uy tín làm tế tại miếu Bà thực hiện cùng đào kép hát bội cầu nguyện cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa
Lễ Chính Tế vào 4 giờ sáng ngày 26/4, lễ nghi được tiến hành giống lễ Túc Yết. Chiều ngày 27/4 bài vị Thoại Ngọc Hầu được đưa về lăng. Chương trình hát bội cũng chấm dứt, kết thúc lễ vía Bà.
Lễ Vía Bà hằng năm thu hút rất đông khách thập phương. Đến với lễ hội hội họ vừa được tham dự lễ hội dân gian phong phú để xin cầu tài cầu lộc.
6.Ngoài ra còn có các lễ hội đặc sắc khác trên mọi miền tổ quốc như:
Lễ hội truyền thống tiêu biểu
2/5 (4/4 âm lịch)
Hội đền Đồng Cổ
Phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội
3 – 5/5 (5 – 7/4 âm lịch)
Hội Lỗ Khê
Xã Liên Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội
5/5 (7/4 âm lịch)
Hội Khám
Làng Ngọc Khám, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
6/5 (8/4 âm lịch)
Hội chùa Dâu
Xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
10 – 12/5 (12 – 14/4 âm lịch)
Hội đình Bình Thủy
Phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ
12/5 (14/4  âm lịch)
Lễ hội cầu Ngư
Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
18/5 (20/4 âm lịch)
Lễ hội Làng Sen
Xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Tháng 5 (tháng 4 âm lịch)
Lễ hội cầu mưa của người Mường
Bãi Tếch Lìm, xã Mỹ Hòa, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
Tháng 5 (tháng 4 âm lịch)
Lễ hội cầu mưa của người Thái
Huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình
Đăng bởi

Cội nguồn nghi lễ thờ cúng Hùng Vương

Khu vực Kinh đô xưa còn dày đặc các di sản văn hóa với hàng trăm di tích lịch sử, di sản văn hóa vật thể và nhiều lễ hội truyền thống, trò diễn, dân ca nghi lễ, diễn xướng dân gian. Mỗi nơi thờ tự, từng di chỉ khảo cổ học đều liên quan tới các hoạt động thời vua Hùng. Làng Minh Nông với lễ hội Tịch điền, ghi lại công đức vua Hùng dạy dân trồng lúa nước. Đàn cầu cúng Thần Nông gốc tại Đồng Lú do Vua Hùng sáng lập sau lan tỏa cùng với kỹ thuật gieo mạ cấy lúa nước ra xung quanh, đến với những vùng xa xôi. Các nghi lễ Tịch điền vẫn còn duy trì đến ngày nay.

Tại đình làng Thét, xã Kim Đức, điệu hát Xoan có từ thủa Vua Hùng, đã được biết bao thế hệ giữ gìn, bảo tồn và phát huy cho đến ngày nay được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa của nhân loại. Cùng với đó, qua khai quật, nghiên cứu của các nhà khảo cổ học thông qua các hiện vật thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn đã chứng minh thời kỳ phát triển rực rỡ của dân tộc thông qua kỹ thuật luyện kim, trình độ sản xuất nông nghiệp, các hoạt động văn hóa nghệ thuật…

Bà Tạ Thị Kim Nhung, Phó Giám đốc Khu di tích lịch sử đền Hùng cho biết: Kinh đô Văn Lang-Thủ đô đầu tiên của nước Việt Nam được xác lập từ thời đại các Vua Hùng. Toàn bộ khu vực kinh đô Văn Lang được thiết lập trên không gian các địa phương Việt Trì, Phù Ninh, Lâm Thao. Thống kê mới đây nhất, trong khu vực Kinh đô Văn Lang xưa đã có 71 di chỉ khảo cổ học có liên quan tới việc thờ tự các vua Hùng.

Đặc biệt hơn, trong khu vực Kinh đô Văn Lang xưa, các Vua Hùng đã chọn núi Nghĩa Lĩnh, ngọn núi cao nhất vùng để thực hiện các nghi lễ theo tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thời bấy giờ. Việc thờ thần lúa, thờ thần mặt trời để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh sôi, nảy nở, con người được no đủ. Về sau này, để ghi nhớ công lao to lớn của các Vua Hùng, con cháu đã lập đền thờ các Vua Hùng.

Với những di tích khảo cổ học và các luận điểm nêu trên, đã chứng minh cội rễ tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có từ thời đại các Vua Hùng, bởi nếu không có thời đại Hùng Vương thì không có tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Và Khu di tích lịch sử đền Hùng, mà trung tâm là núi Nghĩa Lĩnh chính là nơi gốc thờ tự các Vua Hùng của cả dân tộc- và đây cũng là nguồn gốc của tục thờ Tổ tiên của từng gia đình, dòng họ người Việt Nam.

Từ trung tâm thờ tự các Vua Hùng đầu tiên này, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương dần dần lan tỏa tới các nơi. Đầu tiên là các “vệ tinh” dưới chân núi Nghĩa Lĩnh như đình làng Cổ Tích xã Hy Cương, đình làng Trẹo thị trấn Hùng Sơn… Và cứ thế, mỗi nơi Vua Hùng đi qua, mỗi nơi Vua Hùng làm việc, vui chơi, giải trí, thực hiện các nghi lễ tín ngưỡng đều được nhân dân lập nơi thờ tự. Từ Đền Hùng, tín ngưỡng gốc không những mai một mà còn có sức sống lâu bền, mở rộng từ đời này qua đời khác, từ đồng bằng lên miền núi, từ Bắc vào Nam, từ đất liền ra biển khơi, từ trong nước ra nước ngoài. Đất nước có lúc thịnh lúc suy, có lúc rơi vào tay giặc ngoại xâm cả ngàn năm nhưng việc thờ cúng Hùng Vương vẫn được các thế hệ thực hiện, duy trì đến ngày nay và còn mãi đến muôn đời sau. Ngay từ thời Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, vào mùa xuân năm Canh Tý (40), hai bà đã làm lễ tế cờ xuất binh với lời thề: “Một xin rửa sạch quốc thù/Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng”.

Tín ngưỡng thờ Hùng Vương không chỉ tồn tại trong đời sống nhân dân mà bất kỳ thời nào, chế độ nào cai trị đất nước, chính quyền và người đứng đầu chính quyền cũng đều chăm lo việc thờ cúng. Các bậc vua chúa có người đến được, có người không đến được nhưng đều chỉ đạo cho người dưới quyền lên Đền Hùng thực hiện nghi lễ thờ cúng. Trong bản ngọc phả viết thời Trần, năm 1470- đời vua Lê Thánh Tông và đời vua Lê Kính Tông – năm 1601 (sao chép đóng dấu kiềm để tại Bảo tảng Hùng Vương thuộc Khu di tích) có đoạn: “Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói…”. Từ xa xưa, các triều đại đều quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Những người dân này được triều đình miễn nộp thuế ruộng, miễn đóng sưu, miễn đi phu đi lính.

Cho đến ngày nay-Thời đại Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới Đền Hùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đều về đây thăm viếng Vua Hùng. Kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, nhất là đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, ngay sau cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 22/SL – CTN ngày 18 tháng 2 năm 1946 cho công chức nghỉ ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm để tham gia tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương – hướng về cội nguồn dân tộc. Và ngày nghỉ này những năm gần đây lại tiếp tục thực hiện. Trong ngày Giỗ Tổ năm Bính Tuất (1946) – năm đầu tiên của Chính phủ mới được thành lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng – Quyền Chủ tịch nước đã dâng 1 tấm bản đồ Tổ quốc Việt Nam và 1 thanh gươm quý nhằm kính cáo với Tổ tiên về đất nước bị xâm lăng và cầu mong Tổ tiên phù hộ cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình cùng nhau đoàn kết, đánh tan giặc xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm Đền Hùng (19/9/1954 và 19/8/1962). Tại đây Người đã có câu nói bất hủ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước – Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Người còn nhắc: “Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, thêm cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm và đẹp đẽ, thành công viên lịch sử cho con cháu sau này đến tham quan”.

Trên địa bàn toàn tỉnh Phú Thọ  hiện có 181 di tích thờ Hùng Vương. Và số liệu thống kê năm 2005, trên địa bàn cả nước có 1.471 nơi thờ Hùng Vương, vợ con và các tướng lĩnh của các Vua Hùng. Và con số này không ngừng phát triển. Nhiều bà con Việt kiều đã về Đền Hùng để xin một nắm đất ở gần mộ Tổ, một chút nước ở giếng Ngọc và chân nhang bát hương thờ các vua Hùng ở đền Thượng đưa ra nước ngoài thời cúng. Tại quần đảo Trường Sa, đoàn công tác của tỉnh Phú Thọ đã tiến hành lễ dâng, đặt đất, nước, chân hương và trống đồng được lấy từ Đền Hùng mang tới Trường Sa, thể hiện tâm nguyện của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Phú Thọ đối với cán bộ, chiến sỹ và nhân dân huyện đảo, cùng cả nước khẳng định vững chắc chủ quyền thiêng liêng biển đảo của Tổ quốc. Ở nhiều nơi trên cả nước, mặc dù không làm nơi thờ tự song đều tổ chức giỗ Tổ vào ngày 10-3 âm lịch hàng năm. Nhiều công sở, trường học, cơ quan đơn vị tự hào mang tên Hùng Vương hoặc tên các tướng lĩnh của Vua Hùng.

Nghi lễ thờ cúng không những được quan tâm duy trì mà chính quyền và nhân dân các thế hệ còn bỏ công sức, tiền của để xây dựng, tôn tạo nơi thờ cúng. Ngày nay, bằng tấm lòng tri ân công đức Tổ tiên, đồng bào và kiều bào ta ở khắp nơi đã về đây dâng cúng của cải vật chất, công sức tu bổ, bồi đắp Khu di tích để xứng đáng với công lao to lớn của các Vua Hùng đã có công dựng nước và xứng tầm với di tích lịch sử đặc biệt cấp quốc gia. Từ đó thêm khẳng định rằng từ tín ngưỡng gốc này, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã lan tỏa và ngày càng ăn sâu trong tâm trí của mọi thế hệ con dân đất Việt.

Đăng bởi

Lễ hội cổ truyền Việt Nam diễn ra trong tháng 3 Âm Lịch

1. LỄ HỘI PHỦ TÂY HỒ

Thời gian: 3 – 7/3 âm lịch.
Địa điểm: Phường Quảng An, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Bà chúa Liễu Hạnh, Tam tòa Thánh Mẫu.
Đặc điểm Lễ hội: Hội có rước, dâng hương và hát văn.

Phủ Tây Hồ nơi người Hà Nội hay đi lễ vào các ngày mùng một, ngày rằm. Phủ được xây vào thế kỷ 16 thờ mẫu Liễu Hạnh. Trong phủ trên cao là tượng chúa Liễu, hai bên là tượng chầu bà đệ nhị, bà đệ nhất. Ở giữa tượng vua cha Ngọc Hoàng, Nam Tào Bắc Đẩu. Phía dưới là tứ phủ công đồng: tượng quan hoàng Mười, quan hoàng Bẩy và nhiều di vật có giá trị khác. Ngày 3/3 âm lịch là ngày giỗ Mẫu Liễu Hạnh, rước kiệu các Mẫu từ phủ Tây Hồ qua đường Yên Phụ, Cổ Ngư, ngược lại đường Quán Thánh tới đền Nghĩa lập (32 phố Hàng Đậu) lấy mã rồi quay lại, các ngày 6 – 7/3 có các cuộc thi văn, hát chầu văn, đàn hát ở chùa Phổ Linh (thôn Tây Hồ) lôi cuốn nhiều người tham gia.

2. Lễ hội Yên Tử

Ðịa điểm: Diễn ra ở vùng núi Yên Tử thuộc xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí
Thời gian: Hàng nãm được tổ chức bắt đầu từ ngày 10 tháng giêng và kéo dài hết tháng 3 (âm lịch)

Lễ hội Yên Tử là trung tâm Phật giáo của nước Ðại Việt thuở trước, nơi phát tích của thiền phái Trúc Lâm. Du khách đến Lễ hội chùa Yên Tử để được tách mình khỏi thế giới trần tục, thực hiện cuộc hành hương tôn giáo giữa thiên nhiên hùng vĩ.

Yên Tử là trung tâm Phật giáo của nước Ðại Việt thuở trước, nơi phát tích của thiền phái Trúc Lâm. Du khách đến lễ hội chùa Yên Tử để được tách mình khỏi thế giới trần tục, thực hiện cuộc hành hương tôn giáo giữa thiên nhiên hùng vĩ.

3. Hội đền Hát Môn

Thời gian: 4 – 7/3, 4/9 và 24/12 âm lịch. Chính hội 6/3 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Hát Môn, xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây.
Đối tượng suy tôn: Hai Bà Trưng.
Đặc điểm của LỄ HỘI đó là có tục dâng cúng bánh trôi. Tục thả bánh trôi trên sông vào đêm 5/3 âm lịch. Tại xã Hát Môn, nơi Hai Bà Trưng trầm mình ở đoạn sông Đáy. Hội đền Hát Môn mở vào ngày giỗ Vua Bà.

Đền mở cửa thắp hương, cử hành lễ tế, dâng cúng 100 viên bánh trôi hình trứng còn gọi là bánh tù tì, rồi thả 49 viên vào lòng 49 bông sen, thả trên sông Đáy vào đêm 5/3. Ngày 6/3 lễ cúng bánh trôi dâng Hai Bà Trưng, sau đó dân làng mới được ăn bánh trôi.

4. Lễ hội chùa Thầy

Thời gian: 5 – 7/3 âm lịch.
Địa điểm: Xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.
Đối tượng suy tôn: Pháp sư Từ Ðạo Hạnh, ông tổ nghệ thuật múa rối nước Việt Nam.
Đặc điểm: Lễ cúng phật và chạy đàn. Trò chơi rối nước.

Chùa Thầy ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, nơi thờ pháp sư Từ Ðạo Hạnh với 3 kiếp sống của ông. Ông là Tăng, là Phật, là Vua và được nhân dân coi là ông tổ nghệ thuật múa rối nước Việt Nam.

Lễ hội diễn ra từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 3 âm lịch hàng năm, ngày 7 tháng 3 âm lịch là chính hội. Hội mở đầu bằng lễ cúng Phật và chạy đàn – một diễn xướng có tính chất tôn giáo với sự phối hợp của các nhạc cụ dân tộc, trang nghiêm. Quần chúng bị cuốn hút theo nhịp hát kinh của các nhà sư.

Trong các ngày diễn ra lễ hội còn có nhiều trò chơi, đặc biêt là khách được xem nghệ thuật múa rối nước Việt Nam đặc sắc mà sân khấu biểu diễn ở ngay trước Thủy Ðình. Có nhiều tích trò rối như Thạch Sanh, Tấm Cám hay các cảnh sinh hoạt dân dã như đi cày, chăn vịt, đấu vật.

5. LỄ HỘI ĐỀN HÙNG

Thời gian: 8 – 11/3 âm lịch. Chính hội ngày 10/3 âm lịch
Địa điểm: Núi Nghĩa Lĩnh, Xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Đối tượng suy tôn: Các Vua Hùng.
Lễ hội là ngày giỗ của toàn dân tộc. Cùng lúc với lễ hội dâng hương tại đền Hùng ở Phú Thọ còn có lễ dâng bái tại đền Hùng ở TP Hồ Chí Minh, đền Hùng ở Nha Trang và nhiều địa phương khác.

Việc tế lễ được tổ chức rất trọng thể vào ngày chính hội (10/3), bắt đầu bằng lễ dâng hương có đại diện của Nhà nước, tại đền Thượng là nơi xưa kia vua Hùng tế trời đất. Ðồ tế lễ ngoài mâm ngũ quả còn có bánh chưng, bánh dày để nhắc lại sự tích Lang Liêu, cũng là nhắc nhở công đức các vua Hùng đã dạy dân trồng lúa.

Phần rước, có nhiều cuộc rước thần, rước voi, rước kiệu… của các làng Tiên Cương, Hy Cương, Phượng Giao, Cổ Tích… Sau tế lễ còn có múa hát xoan (ở đền Thượng), hát ca trù (ở đền Hạ) và nhiều trò chơi khác.

Lễ hội đền Hùng không chỉ thu hút khách thập phương đến dự lễ bởi những nét sinh hoạt văn hoá đặc sắc, vị trí địa lý linh thiêng , mà còn ở tín ngưỡng riêng của một cuộc hành hương trở về cội nguồn dân tộc của các thế hệ người Việt Nam. Ðến hội, mỗi người đều biểu hiện một tình thương yêu, lòng ngưỡng mộ về quê cha đất tổ. Ðây là một tín ngưỡng đã ăn sâu vào tâm thức mỗi con người Việt Nam, cho dù họ ở bất cứ nơi đâu.

6. Lễ hội Trường Yên

Đối tượng suy tôn: Vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành.
Thời gian: 9 – 11/3 (âm lịch). Chính hội 10/3.
Địa điểm: Xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, Ninh Bình.
Đặc điểm của Lễ hôi chính là lễ rước nước và trò diễn cờ lau tập trận, kéo chữ.
Hội Trường Yên diễn ra hàng năm vào đầu tháng ba âm lịch, chính hội ngày mồng 10 tháng ba, tại mảnh đất cố đô Hoa Lư của nước Đại Cồ Việt xa xưa – nơi có đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành. Tương truyền, ngày 10/3 là ngày vua Đinh lên ngôi Hoàng đế.
Hai nghi lễ trang nghiêm là lễ rước nước và lễ tế.

7. Lễ hội đền Đô

Thời gian: Lễ hội được tổ chức từ ngày 15/3 đến ngày 19/3 âm lịch.
Địa điểm: Làng Ðình Bảng, xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Chính là 8 vị vua nhà Lý.

Chính hội là ngày 16/3, ngày vua Lý Thái Tổ lên ngôi, có lễ trình thánh, rước kiệu long trọng. Ðám rước với hàng vạn người tham gia từ chùa Kim Ðài đến đền Ðô (khoảng 3 km). Ði đầu đám rước gồm có một đoàn tướng võ, cởi trần, đóng khố, tay cầm truỳ đồng và hàng trăm quân sĩ đi theo. Tiếp đến là 100 người khiêng kiệu mặc áo đỏ, mũ đen. Ði đầu là kiệu của Thánh Mẫu có 18 nữ tướng theo sau rồi đến kiệu Bát Ðế, mỗi kiệu một con ngựa và có 16 nam tướng mặc áo đỏ. Sau cùng đoàn rước là các vị mặc sắc phục lễ hội, hương lão và dân làng dự hội, cờ lọng che rợp đồng nội, tiếng trống vang trời.
Phần hội có các trò vui như chọi gà, thả chim bồ câu, thi đấu vật, hát Quan họ và nhiều trò vui khác.

Du khách về dự Lễ hội đền Ðô, vừa được dâng hương tưởng niệm 8 vị vua nhà Lý, vừa được ghé thăm, vãn cảnh vùng đất Kinh Bắc. Ðám rước hội đền Ðô đã nói lên ý nghĩa thiêng liêng của ngày hội, vừa tưởng nhớ các nhân vật lịch sử, vừa khơi dậy lòng tự hào về cội nguồn phục hưng và thăng hoa của đất nước từ thuở Ðại Việt.

8. Hội chùa Đọi

Thời gian: 21/3 âm lịch.
Địa điểm: Chùa Đọi, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Đối tượng suy tôn: Phật và Lý Nhân Tông.

Đặc điểmcủa Lễ hội đó là lễ Phật, rước kiệu từ chân núi lên chùa làm lễ dâng hương tưởng niệm Lý Nhân Tông; đội tế nam quan và tế nữ quan tạ ơn trời Phật. Nấu cơm thi, thi dệt vải, bơi thuyền, hát chèo, múa tứ linh, đấu vật, đánh cờ người.

9. Lễ hội làng Lệ Mật

Thời gian: Ngày 23/3 âm lịch hàng năm.
Địa điểm: Làng Lệ Mật, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Đối tượng suy tôn: Thành Hoàng làng họ Hoàng.
Đặc điểm: Hội có múa rắn.

Làng Lệ Mật mở hội để tưởng nhớ Hoàng Đức Trung có công trong việc đưa người nghèo từ làng Lệ Mật tới vùng kinh đô khẩn hoang, lập ra 13 trại ở tây thành Thăng Long (quận Ba Đình ngày nay). Lễ hội bao gồm lễ rước nước từ giếng làng, đánh cá chép, dâng cá chép tế thần. Rước cỗ (lễ vật) của 13 trại ở quận Ba Đình về làng dâng thần. Múa rắn, tục rước Gà Ông, Lợn Ông (gà to, lợn béo) và thi món ăn đặc sản “tam xà đại hội” (3 loại rắn là rắn hổ mang, cạp nong, rắn ráo), “ngũ hổ chầu lâm” (cỗ 5 con ếch) và “lý ngư vọng nguyệt” (cỗ cá chép to, cỗ gỏi).

10. Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu (Tp. Hồ Chí Minh)

Thời gian: 23/3 âm lịch.
Địa điểm: 710 Nguyễn Trãi, quận 3, TP. Hồ Chí Minh.
Đối tượng suy tôn: Bà Thiên Hậu.
Đặc điểm của Lễ hội là lễ vía Bà tại chùa Bà Thiên Hậu, một trong những ngôi chùa cổ của người Hoa ở Chợ Lớn có kiến trúc theo lối Trung Hoa. Ngày hội, người Hoa về đây rất đông, họ làm hai hình nộm Ông Thiện, Ông Ác cao 3 thước. Cuối ngày đốt 2 hình nộm để cúng.

Đăng bởi

Văn khấn, sắm lễ khi tảo mộ tiết Thanh minh như thế nào?

Ông bà ta xưa chọn Tiết Thanh Minh là ngày cắt cỏ trên mộ và đắp đất lên mộ (tảo mộ). Vì ngày này thời tiết chuyển sang ấm dần, mưa nhiều hơn, cây cỏ tốt hơn trùm lên mộ, có thể làm mộ sụt lở nên cần phải cắt cỏ, đắp thêm đất lên mộ. Nhân lúc đi Thanh Minh tảo mộ, để tưởng nhớ tổ tiên, người thân đã khuất, mọi người có thể dạo chơi ngắm cảnh cỏ cây tươi tốt, nên còn gọi là Đạp Thanh. Nguyễn Du có câu:


Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh
Công việc chính của lễ tảo mộ là sửa sang các ngôi mộ của tổ tiên cho được sạch sẽ. Người ta mang theo xẻng, cuốc để đắp lại nấm mồ cho đầy đặn, rẫy hết cỏ dại và những cây hoang mọc trùm lên mộ cũng như tránh không để cho các loài động vật hoang dã như rắn, chuột đào hang, làm tổ mà theo suy nghĩ của họ là có thể phạm tới linh hồn người đã khuất.
Ảnh minh họa: Internet
Sau đó, người tảo mộ thắp vài nén hương, đốt vàng mã hoặc đặt thêm bó hoa cho linh hồn người đã khuất.
Trong những ngày này, khu nghĩa địa trở nên đông đúc và nhộn nhịp. Các cụ già thì lo khấn vái tổ tiên nơi phần mộ. Trẻ em cũng được theo cha mẹ hay ông bà đi tảo mộ, trước là để biết dần những ngôi mộ của gia tiên, sau là để tập cho chúng sự kính trọng tổ tiên qua tục viếng mộ. Những người quanh năm đi làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này (có thể sớm hơn một, hai ngày vì nhiều lý do khác nhau) để tảo mộ gia tiên và sum họp với gia đình.
Bên cạnh những ngôi mộ được trông nom, chăm sóc cẩn thận, còn có những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng. Những người đi viếng mộ thường cũng cắm cho các ngôi mộ này một nén hương.
Cách sắm lễ tảo mộ tiết Thanh minh:
Lễ trong tiết Thanh Minh gồm có: hương đèn, trầu cau, tiền vàng, rượu thịt (chân giò, gà luộc hoặc một khoanh giò nạc độ vài lạng), hoa quả.
Khi đến nghĩa trang hay khu vực có để mộ phần của gia đình mình thì gia chủ đặt lễ vào chỗ thờ chung. Sau đó thắp đèn, nhang, vái ba vái vị Linh thần Thổ địa rồi khấn.
Bài văn khấn Lễ âm phần long mạch, sơn thần thổ phủ
Văn khấn lễ âm phần Long Mạch, Sơn thần thổ phủ nơi mộ
Nam mô a di Đà Phật
– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ, chư vị Tôn thần:
– Con kính lạy các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.
Hôm nay là ngày: …………………………………………………
Tín chủ (chúng) con là:……………………………………….
Nhân tiết Thanh minh (hoặc là nhân tiết thu, tiết đông, hoặc nhân ngày lành tháng tốt.. .) tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước án, kính mời chư vị Tôn thần lai lâm chiếu giám.
Gia đình chúng con có ngôi mộ của…………………..
Táng tại xứ này, nay muốn sửa sang xây đắp (hoặc tảo mộ, bốc mộ…) vì vậy chúng con xin kính cáo các đấng Thần linh, Thổ công, Thổ phủ Long Mạch, Tiền Chu Tước, Hậu Huyền Vũ, Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ và Chư vị Tôn thần cai quản trong khu vực này, chúng con kính mời các vị chư Thần về đây chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho vong linh được an nhàn yên ổn, siêu thoát. Cúi xin các vị phù hộ độ trì cho tín chủ chúng con toàn gia mạnh khỏe an bình, bốn mùa không tật ách, tám tiết hưởng thái bình.
Nam mô a di Đà Phật
Bài văn khấn Lễ vong linh ngoài mộ
Nếu viết văn khấn ra giấy thì đọc, xong hoá ngay cùng tiền vàng. Trong khi đợi tuần nhang thổ địa thì mọi người trong gia đình đi viếng thăm các ngôi mộ của gia đình mình, thắp lên mộ mấy nén. Đứng trước ngôi mộ và khấn:
Văn khấn lễ vong linh ngoài mộ
-Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương
-Con Kính lạy Hương linh………………(Hiển khảo, Hiển tỷ hoặc Tổ Khảo………….
Hôm nay là ngày. . ………….
Nhân tiết:………………………….
Tín chủ (chúng) con ……………………………
Ngụ tại:…………………….
Chúng con và tòan thể gia đình con cháu, nhờ công ơn võng cực, nền đức cao dầy, gây dựng cơ nghiệp của………….. chạnh lòng nghĩ đến âm phần ở nơi hoang vắng, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương kính dâng trước mộ, kính mời chân linh……. . .. …….. . …. . . .lai lâm hiến hưởng. Chúng con xin phép được sửa sang phần mộ, bồi xa, bồi thổ, cho được dầy bền, tu sửa minh đường hậu quỷ cho thêm vững chắc. Nhờ ơn Phật Thánh phù trì, đội đức trời che đất chở, cảm niệm Thần linh phù độ, khiến cho được chữ bình an, âm siêu dương thái. Con cháu chúng con xin vì chân linh . . ……..Phát nguyện tích đức tu nhân, làm duyên, làm phúc cúng dâng Tin Bảo, giúp đỡ cô nhi quả phụ, tế bần cứu nạn, hiếu thuận tông nhân để lấy phúc này hướng về Tiên Tổ.
Cúi xin linh thiêng chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì con cháu, qua lại soi xét cửa nhà. Che tai cứu nạn, ban tài tiếp lộc, điều lành mang đến, điều dữ xua đi. Độ cho gia đạo hưng long, quế hờ tươi tốt, cháu con vinh hưởng lộc trời, già trẻ nhuần ơn Phật Thánh.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Sau khi khấn xong, đợi hết 2/3 tuần hương thì đi lễ tạ các nơi, hóa vàng, xin lộc và mọi người trở về nhà làm lễ gia thần và gia tiên ở nhà.
Đăng bởi

Sự khác nhau giữa Chùa, Đình, Đền, Phủ, Miếu, Quán trong phong tục Việt

Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt Nam có rất nhiều nơi thờ cúng khác nhau như Chùa, Đình, Đền, Phủ, Miếu, … Nhưng không phải ai cũng hiểu được ý nghĩa của những địa điểm thờ cúng đó.



Cho nên có rất nhiều người đi chùa mà không hiểu được ý nghĩa của việc đi chùa, ở gần nhà có cái đình mà cũng không hiểu vì sao cái đình lại “mọc” lên ở đó,…
Vì vậy, chúng tôi đã biên tập bài viết này để giúp bạn đọc dễ dàng phân biệt được các địa điểm thờ cúng khác nhau, hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng và những nhân vật được thờ cúng trong đó.
Chùa là gì?
 phan biet chua, dinh, den, phu, mieu, quan trong phong tuc viet hinh anh 1
Chùa Kim Liên tại Nghi Tàm, Quảng An, Tây Hồ, Hà Nội (Ảnh: Huyền Phương)
Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo, là nơi tập trung sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật của các nhà sư, tăng, ni. Mọi người kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, chiêm bái, vãn cảnh, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ Phật giáo.
Ở một số nơi, chùa cũng là nơi cất giữ xá lị và chôn cất các vị đại sư.
Đình là gì?
Đình là nơi thờ Thành hoàng của các làng, đồng thời là nơi hội họp, bàn việc của dân làng. Đình được coi là trung tâm sinh hoạt văn hóa gắn bó với một cộng đồng cư dân và mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam.
 phan biet chua, dinh, den, phu, mieu, quan trong phong tuc viet hinh anh 2
Đình làng Đình Bảng.
Thành hoàng là người có công với dân, với nước, lập làng, dựng ấp hay sáng lập nên một nghề (ông tổ của nghề). Dưới các triều vua thường có sắc phong cho Thành hoàng, vì hầu hết Thành hoàng đều có công với nước. Dân làng, hay phường hội đi lập nghiệp nơi khác cũng xây miếu, đền thờ Thành hoàng quê gốc của mình tại nơi ở mới.
Đền là gì?
Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị Thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng theo truyền thuyết dân gian.
 phan biet chua, dinh, den, phu, mieu, quan trong phong tuc viet hinh anh 3
Đền Kiếp Bạc.
Các đền nổi tiếng có thể kể đến ở nước ta như Đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Sóc, đền Trần… thờ các anh hùng dân tộc.
Đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Kim Liên, đền Quán Thánh… thờ các vị thánh theo truyền thuyết dân gian.
 phan biet chua, dinh, den, phu, mieu, quan trong phong tuc viet hinh anh 4
Đền Quan Thánh (Tây Hồ, Hà Nội) thờ vị thần Huyền Thiên Trấn Vũ. Theo truyền thuyết dân gian, thần Trấn Vũ để trấn giữ ở phía Bắc kinh thành Thăng Long xưa. (Ảnh: Huyền Phương)
XEM THÊM >> Cảnh sắc Tây Hồ xưa và nay
Miếu là gì?
Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có quy mô nhỏ hơn đền. Đối tượng được thờ ở miếu rất đa dạng, thể hiện ở tên gọi của miếu – tên gọi theo đối tượng được thờ thường phiếm chỉ và tượng trưng.
Ví dụ: miếu Cô, miếu Cậu, miếu thờ thần núi gọi chung là miếu Sơn thần, miếu thờ thần nước gọi là miếu Hà Bá hoặc miếu Thủy thần. Miếu thờ thần đất gọi là miếu thổ thần hoặc thần Hậu thổ.
Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị, không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân sinh. Ở một số nơi, trong các ngày giỗ thần như ngày sinh, ngày hóa (nhân thần), ngày hiện hóa (thiên thần) làng mở tế lễ, mở hội, nghinh rước thần từ miếu về đình. Tế lễ xong, lại rước thần về miếu yên vị.
Miếu nhỏ còn được gọi là Miễu (cách gọi của người miền Nam)
Nghè là gì?
Một hình thức của đền miếu, thờ thần thánh. Đây là kiến trúc thường có mối quan hệ chặt chẽ với một di tích trung tâm nào đó. Nghè có khi thờ thành hoàng làng ở làng nhỏ, được tách ra từ làng gốc như Nghè Hải Triều (Cẩm Giàng – Hải Dương).
Nghè cũng có thể là một ngôi đền nhỏ của một thần trong xã nhằm thích ứng với dân sở tại để tiện việc sinh hoạt tâm linh khi ngôi đền chính khó đáp ứng được nhu cầu thờ cúng thường nhật, như Nghè ở Trường Yên là một kiến trúc phụ của đền vua Đinh.
Hiện ngôi nghè cổ nhất được tìm thấy từ thế kỷ XVII.
Điện thờ là gì?
Điện là sảnh đường cao lớn, thường chỉ chỗ Vua Chúa ở, chỗ Thần Thánh ngự. Như vậy Điện thờ là một hình thức của Đền, là nơi thờ Thánh trong tín ngưỡng Tam tứ phủ. Tuy vậy quy mô của Điện nhỏ hơn Đền và Phủ, lớn hơn so với Miếu Thờ. Điện thông thường thờ Phật, thờ Mẫu, Công đồng Tam tứ phủ, Trần Triều và các vị thần nổi tiếng khác.
Điện có thể của cộng đồng hoặc tư nhân. Trên bàn thờ thường có ngai, bài vị, khám, tượng chư vị thánh thần và các đồ thờ khác: tam sơn, bát hương, cây nến, đài, lọ hoa, vàng mã,…
Phủ là gì?
Phủ là đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu (tín ngưỡng bản địa của người Việt Nam). Một số nơi thờ tự (ở Thanh Hóa) gọi đền là phủ. Có thể hiểu Phủ là nơi thờ tự Thánh Mẫu khá sầm uất, mang tính chất trung tâm của cả một vùng lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa phương, thu hút tín đồ khắp nơi đến hành hương (tương tự như chốn Tổ của sơn môn đạo Phật).
Ngôi phủ sớm nhất còn lại hiện biết là điện thờ các thần vũ nhân ở chùa Bút Tháp, có niên đại vào giữa thế kỷ XVII.
Quán là gì?
Quán là một dạng đền gắn với đạo Lão (Đạo giáo). Vào các thế kỷ XI và XIV đạo Lão ở Việt nặng xu hướng thần tiên nên điện thờ thực chất giống như một đền thờ thần thánh.
 phan biet chua, dinh, den, phu, mieu, quan trong phong tuc viet hinh anh 5
Bích Câu đạo quán.
Sang tới thế kỷ XVI và XVII, sự khủng hoảng của Nho giáo đã đẩy một số nhà Nho và một bộ phận dân chúng quan tâm nhiều tới Lão giáo, và điện thờ đạo Lão có nhiều sự phát triển mới, với việc thờ cúng các thần linh cơ bản theo Trung Hoa.
Đó là Tam thanh (Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Đạo Quân, Thái Thượng Lão Quân), Ngũ Nhạc mà nổi lên với Đông Phương Sóc và Tây Vương Mẫu, rồi Thánh Phụ, Thánh Mẫu. Cửu Diệu Tinh Quân (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Mặt Trời, Mặt Trăng, Hồ phủ, Kế đô) đồng thời trên chính điện cũng có cả tượng của Hoàng Quân giáo chủ (Ngọc Hoàng).
Có thể kể tới các quán điển hình như: Hưng Thánh Quán, Lâm Dương Quán, Hội Linh Quán, Linh Tiên Quán… đều ở Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). “Thăng Long Tứ quán” bao gồm: Chân Vũ quán (tức đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh); Huyền Thiên cổ quán (nay là chùa Quán Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai); Đồng Thiên quán (nay là chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành); Đế Thích quán (nay là chùa Vua ở phố Thịnh Yên).
Am là gì?
Hiện được coi là một kiến trúc nhỏ thờ Phật. Gốc của Am từ Trung Quốc, được mô tả như ngôi nhà nhỏ, lợp lá, dùng làm nơi ở của con cái chịu tang cha mẹ, về sau đổi kết cấu với mái tròn, lợp lá, làm nơi ở và nơi đọc sách của văn nhân. Từ đời Đường, Am là nơi tu hành và thờ Phật của ni cô đặt trong vườn tư gia.
Với người Việt, Am là nơi thờ Phật (Hương Hải am tức Chùa Thầy, Thọ Am tức Chùa Đậu – Hà Tây…) cũng có khi am là ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của xóm làng – Vào thế kỷ XV (thời Lê sơ) là nơi ở tĩnh mịch để đọc sách làm thơ của văn nhân. Miếu thờ thần linh ở các làng hoặc miếu cô hồn ở bãi tha ma cũng gọi là Am.
Đăng bởi

Những lễ hội truyền thống trong tháng 2 âm lịch

Lễ hội đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của nhân dân từ ngàn xưa cho tới nay. Đi chơi trong mùa lễ hội cũng là cách để đắm mình cảm nhận không khí náo nức, để  sống những khoảnh khắc quá khứ truyền thống được tái hiện sinh động.  Những lễ hội được tổ chức trong tháng 2 âm lịch






Hội Chùa Trầm (2/2 âm lịch): Chùa Trầm tọa lạc trên một diện tích chỉ trên dưới năm chục mét vuông trên núi Trầm (hay còn gọi là Tử Trầm Sơn), thuộc xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 25 km. Xưa kia toàn bộ khu núi Trầm là nơi vua Lê, chúa Trịnh đặt hành cung. Núi Tử Trầm có chùa Hang được xây dựng trong động Long Tiên dưới chân Tử Trầm Sơn với những pho tượng đá, văn bia khắc trên vách động, trống đá, khánh đá… ; có hang Long Tiên Động rất lớn và bàn thờ Phật bên trong. Ở đây có đường lên đỉnh núi gọi là đường lên Trời và đường xuống hang sâu gọi là đường xuống Âm phủ. Đứng trên đỉnh núi Trầm có thể nhìn thấy toàn cảnh vùng đất So Sở và các danh thắng kề cận như chùa Vô Vi, chùa Trăm Gian …
Chùa Trầm.


Lễ hội kén rể (2/2 âm lịch): Theo truyền thuyết, nữ tướng Lê Thị Hoa từng tham gia đánh thắng giặc Nam Hán và được Hai Bà Trưng sắc phong “Nữ sử anh phong”. Bà trở về làng cùng nhân dân lập ấp, phát triển canh nông. Để tưởng nhớ công lao của bà, hàng năm vào ngày 2/2, dân làng Đường Yên, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội lại tổ chức lễ hội kén rể với những nghi thức và trò chơi dân gian hết sức độc đáo để chọn rể tài hiền cho nữ tướng. Mở đầu là lễ vinh quy bái tổ của nữ tướng Lê Hoa. Sau phần lễ là màn trình diễn độc đáo của 2 chàng trai trong phần thi kén rể. Họ phải trổ tài kể vè, giới thiệu bản thân, cấy lúa, cày ruộng, câu ếch, bắt lợn, “chõng chó” (chọc cho chó sủa vang lên).

Các chàng rể thi tài tại lễ hội kén rể. Ảnh: KTĐT


Hội năm làng Mọc (9 – 11/2 âm lịch): Lễ hội lớn chung cho 5 làng Mọc (Mọc Quan Nhân, Mọc Chính Kinh, Mọc Cự Lộc, Mọc Giáp Nhất, Mọc Phùng Khoang, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội) nhộn nhịp tưng bừng (cứ 5 năm tổ chức lớn một lần). Vào chính hội (11/2), từ mờ sáng, kiệu, rồng, sư tử, bát bửu, chấp kích, cờ quạt, đội tế, đội dâng hương… đi theo nhịp trống, nhạc bát âm từ đình Phùng Khoang đến đình Giáp Nhất. Đoạn đường rước dài trên 3km, đi qua làng nào đoàn rước của làng đó ra đón mừng rồi nhập cuộc. Đoàn rước của năm làng nối tiếp nhau dài trên một cây số với một biển cờ, quạt, hương án, long đình, voi nan, ngựa gỗ… đội múa rồng, múa sư tử, ông thổ, ông địa phe phẩy quạt ở giữa. Trong hội có nhiều trò chơi: đánh vật, chọi gà, chơi cờ tướng, hát chèo…

Đình làng Mọc

Xưa dân làng Mọc chọn năm nào phong đăng hoà cốc, dân khang, vật thịnh sẽ làm giấy xin phép quan trên cho mở hội. Hội năm làng được tổ chức rất trọng thể với nhiều nghi thức, trò diễn hấp dẫn. Các già làng cho rằng lễ hội năm làng được tổ chức nhằm rước các Thánh du xuân và thưởng lãm cảnh quan năm làng; năm làng vẫn giữ qui ước, lệ như xưa là đến kỳ Đại hội Năm làng Mọc sẽ vẫn cùng nhau tổ chức Lễ hội và rước sách tế Thần cầu cho quốc thái dân an…

Lễ hội Nghinh Cô tại Dinh Cô (12/2 âm lịch): Địa điểm: Thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Ngày vía cô trở thành lễ hội lớn thu hút rất đông khách từ nhiều tỉnh thành khác đến. Các đội múa lân, dàn nhạc ngũ âm từ nhiều tỉnh Nam bộ đến góp vui. Các nghi lễ trong ngày hội: lễ cầu an tại chính điện vào đêm hôm trước. Bên ngoài diễn ra đêm hội hoa. Lễ rước vào sáng 12 trên hàng chục chiếc ghe thuyền trang hoàng lộng lẫy để cầu mong trời yên bể lặng, tôm cá đầy khoang.

Hội miếu Ông Địa (2/2 âm lịch): Miếu Ông Địa (125 đường Lê Lợi, phường 3, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh) được xây dựng từ đầu thế kỷ 19 và từng được vua Tự Đức sắc phong vào năm 1852. Hàng năm lễ hội diễn ra vào ngày 2/2 âm lịch là ngày vía Thổ địa Phúc Đức Chính Thần. Đây là lễ hội tiêu biểu cho các lễ hội miếu ở TP.HCM và Nam bộ với các nghi thức: “gióng trống khai trang” thông báo vào lễ, “mời trầu” bằng điệu hát bóng rỗi để thỉnh thần về dự lễ, diễn tuồng hài “Địa Nàng” với nhân vật ông Địa và nàng tiên mang nội dung phê phán thói hư tật xấu trong xã hội hương thôn xưa. Sau đó là màn diễn múa mâm vàng, mâm bạc và múa đồ chơi do các nghệ nhân dân gian trình diễn. Kết thúc hội là nghi thức phát lộc.

Lễ Kỳ Yên đình Bình Đông (10 – 14/2 âm lịch): Đình Bình Đông nằm trên bờ rạch Bà Tàng thuộc Phường 7, quận 8, TP. Hồ Chí Minh, là một trong hai ngôi đình có lượng khách tham quan, lễ bái đông nhất thành phố. Lễ Kỳ Yên gồm có: lễ cúng tiên sư tưởng nhớ những bậc thầy dạy nghề trong thôn, lễ tụng kinh cầu an theo nghi thức Phật giáo, hoàn sắc, lễ tế thần, lễ tế tiền hiền, hậu hiền những thế hệ khai hoang lập ấp và xây dựng các công trình phúc lợi cho thôn làng. Có hát bội cúng thần.

Lễ hội Tây Thiên (15-17/2 âm lịch): Tây Thiên là nơi thờ Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu, người được Hùng Chiêu Vương thứ 7 lập làm Chính Vương Phi, có công giúp vua dẹp giặc, mở mang bờ cõi, thống nhất giang sơn, dạy dân trồng lúa, giữ lửa trong buổi bình minh của dân tộc. Xong công việc, bà lại trở về quê hương tại thôn Đông Lộ, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo ngày nay, rồi “hóa” tại đây. Lễ hội được tổ chức ba ngày với phần tế lễ và nhiều trò chơi dân gian như thi hát dân ca của người dân tộc thiểu số Sán Dìu, thi nấu cơm, thi hú đáo, làm bánh chưng, bánh dày, kéo co, chọi gà… Nơi đây cũng vừa xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm lớn nhất cả nước, cùng với cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ vẫn còn giữ nguyên vẻ nguyên sơ, quanh năm có mây mù, thông reo, chim hót.
Lễ hội Tây Thiên. Ảnh: VietNamNet


Lễ hội Quán Thế Âm (19 đến 21 tháng 2 âm lịch): Lễ hội diễn ra tại chùa Quán Thế Âm trong quần thể Khu danh thắng Ngũ Hành Sơn. Lễ hội bao gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ mang màu sắc lễ nghi Phật giáo với các lễ dâng hoa, lễ rước ánh sáng, cầu nguyện, thuyết giảng về Bồ Tát Quán Thế Âm và đại nguyện của ngài, lễ rước tượng Quan Thế Âm. Phần hội bao gồm nhiều sinh hoạt văn hoá mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc như hội hoá trang, hát dân ca, thi cờ, nhạc, hoạ, điêu khắc, múa tứ linh, thả đèn trên sông, hát tuồng…



Lễ hội Quán Thế Âm năm nào cũng nườm nượp du khách.


le hoi
Lễ hội tháng 2

LỄ HỘI ĐÌNH YÊN PHỤ

Đình Yên Phụ (Tây Hồ) nằm trong làng Yên Phụ, là một làng cổ ở trên bán đảo nhô ra Hồ Tây. Trước đây đình ở 66 Phó Đức Chính, gọi là An Trì, thờ Uy Linh Lang Đại vương. Khi thực dân Pháp sang xâm lược, đình bị biến thành trường tiểu học Yên Phụ. Theo sử sách, ở các vùng lân cận Hà Nội có tới 72 nơi thờ Uy Linh Lang. Theo truyền thuyết, Uy Linh Lang là con vua Trần Thánh Tông( trị vì từ 1258 – 1278). Ngài là một anh hùng chống quân Nguyên, có ngày Ngài đánh giặc tới 8 trận ở chiến trường khác nhau. Bởi vậy, những nơi ngài đi qua nhân dân còn nhớ và lập đình thờ phong Thành Hoàng làng. Cũng bởi vậy, không chỉ riêng đình Yên Phụ mà ở các nơi thờ Uy Linh Lang đều tổ chức lễ hội vào 10 – 2 âm lịch hàng năm. Riêng đình Yên Phụ còn là nơi Uy Linh Lang từng ngồi làm việc nước. Dân làng Yên Phụ luôn tin vào sự phù trợ của Uy Linh Lang trong việc phát triển kinh tế. Hàng năm, dân cầu xin ngài đắp phù trợ để đắp đê được thuận lợi. Để tỏ lòng biết ơn, dân vùng này kiêng nói chữ “Lang” (khoai lang gọi là khoai dây).
xem ngay tot xau
Lễ hội Đình Yên Phụ
Lễ hội đình Yên Phụ trang nghiêm và là một nét đẹp văn hoá truyền thống của Hà Nội cần được duy trì giữ gìn. Năm 2006, từ tiền công đức và đóng góp của nhân dân phường Yên Phụ và khách thập phương, đình Yên Phụ đã được trùng tu rất tỉ mỉ, nhưng vẫn giữ được toàn vẹn cấu trúc cổ xưa. Đình Yên Phụ thâm u, bền vững, nằm bên Hồ Tây, chắc chắn sẽ là nơi linh thiêng, gìn giữ nét văn hoá nghìn năm Thăng Long – Hà Nội.

LỄ HỘI MIẾU MẠCH LŨNG

Trong suốt 3 ngày diễn ra LE HOI (tức ngày 10 -12/2 âm lịch), hàng nghìn người dân huyện Đông Anh (Hà Nội) cùng du khách thập phương đã kéo về miếu Mạch Lũng làm lễ dâng hương và dự lễ hộicủa làng. Hàng chục xe ô tô và hàng trăm xe gắn máy chạy dọc đường dẫn lên gò miếu.
Miếu Mạch Lũng (trước còn có tên là Lũng Trang) tọa ngự trên gò đất cao rộng trên 30.000m2 thuộc thôn Mạch Lũng, xã Đại Mạch, huyện Đông Anh, Hà Nội – dải đất cổ bên triền sông Hồng có bề dày lịch sử hàng ngàn năm. Lễ hội Miếu Mạch Lũng được tổ chức trong 3 ngày từ 10 đến 12/2 âm lịch hàng năm, tại xã Đại Mạch, huyện Đông Anh. Miếu Mạch Lũng là di tích lịch sử thờ ba vị anh hùng dân tộc thời Hùng Vương thứ 18.
Trong suốt 3 ngày diễn ra le hoi, các đoàn đại diện cho các tổ đội sản xuất, nhóm đồng niên, đông ngũ, đồng môn…và các gia đình lần lượt mang lễ lên miếu làm lễ dâng hương. Những gia đình làm ăn khá giả có thể dâng đến 5 mâm lớn với thủ lợn, xôi, gà, trầu cau, bánh cốm…và những gia đình nghèo nhất cũng thể hiện lòng thành với đĩa xôi, khoanh thịt. Tất cả các việc đại sự trong các gia đình như hiếu, hỉ, xây nhà…đều phải dừng lại để tập trung cho ngày Thánh.
Cùng với các nghi lễ truyền thống trong lễ hội này như tế nam, tế nữ, tế cáo, rước kiệu, lễ hội làng Mạch Lũng còn có nhiều hoạt động văn hóa dân gian như: chọi gà, cờ tướng, bịt mắt đập niêu, hát quan họ… thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia.
Đăng bởi

Cúng động thổ, nguồn gốc và ý nghĩa của lễ cúng động thổ.

Cúng động thổ | Nguồn gốc, ý nghĩa của lễ cúng động thổ.

Xuất phát từ quan niệm duy tâm cho rằng trên mảnh đất , công trình sắp được xây dựng là nơi cư ngụ của những người đã khuất, hoặc có thể trước kia là nơi thờ cúng, chùa, miếu,…

Người Việt Nam tin rằng: nơi ở, cửa hàng, công ty làm ăn đều có công thần, địa thổ coi giữ. Vì vậy, mỗi khi có việc động đến đất đai nhà cửa, cửa hàng…. Như đào móng, sửa chữa nhà cửa, đổ sàn,…. Cần phải có lễ cúng để trình báo về việc sắp xây dựng công trình trên mảnh đất đó , mong các vong linh cự ngụ tại đó vui vẻ dời đi nơi khác để việc thi công được gặp thuận lợi. Ngoài ra, để báo với các vị thổ địa, thần hòang trong khu vực đó, xin các vị phù hộ, độ trì cho mọi việc suôn sẻ, may mắn.

 

Xây dựng nhà cửa là việc quan trọng đối với mỗi con người. Ngôi nhà hợp với tuổi của gia chủ sẽ có thể giúp gia chủ gặp nhiều may mắn trong cuộc sống cũng như thuận lợi trong công việc. Trong  trường hợp người làm nhà muốn xây nhà nhưng không hợp tuổi, có thể mượn tuổi của người khác trong dòng họ: anh, em, cha, mẹ,…đứng ra động thổ xây nhà. Trong lúc làm lễ động thổ, gia chủ nên tránh mặt. Nếu có đổ mái tầng 1, tầng 2,.. cất nóc, thì người được mượn tuổi vẫn tiếp tục đứng dân hương, khấn lễ, gia chủ cũng phải tránh mặt lúc làm lễ.

 

Do đó khi muốn động thổ xây dựng cần tuân thủ các quy định về:

  Chọn giờ, ngày tốt.

  Sắm lễ vật cúng động thổ.

  Đọc văn khấn động thổ xin làm nhà, công trình trên khu đất đó.

 

Sắm lễ vật cúng động thổ.

 

Khi làm lễ cúng động thổ, gia chủ cần chuẩn bị các vật phẩm: 1 bộ tam sên đã luộc (3 con tôm/1 con cua, 1 miếng thịt, 1 quả trứng), 1 con gà (heo quay con tùy điều kiện gia chủ), xôi, chè, muối gạo, trà rượu nước, giấy cúng  (giấy thổ thần đất đai, tiền vàng, có thể có thêm quần áo, mũ hài, ngựa ngủ sắc,…), hoa quả, trầu cau… Mỗi vùng miền, cũng như sự tin tưởng của mọi người mà có cách cúng động thổ khác nhau nhưng đều bắt buộc phải có những lễ vật cơ bản: con gà, hoa quả, giấy cúng, nhang đèn.

 

Chuẩn bị lễ cúng

Gia chủ sắp đồ lễ cúng lên 1 cái bàn hoặc mâm nhỏ để giữa khu đất sẽ đào móng. Các vật phẩm trên bàn sắp theo quy luật “Đông bình Tây quả” nghĩa là hoa đặt bên phía tay phải, trái cây đặt bên trái. Gia chủ vái tám hướng rồi quay về bàn lễ vật khấn. Tiếp theo là nhà thầu cũng thắp nhang và khấn giống như gia chủ, bên cạnh đó khấn thêm Tổ nghề xây dựng (Lổ Ban) cầu mong cho việc xây dựng tiến hành suôn sẻ.

 

Văn khấn cúng động thổ.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy Quan Đương niên.

– Con kính lạy các Tôn phần bản xứ.

Tín chủ (chúng) con là:…………….

Ngụ tại:……………………

Hôm nay là ngày… tháng….năm….. tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén hương, dâng lên trước án, có lời thưa rằng: Hôm nay tín chủ con khởi công xây dựng nhà…. (nếu cất nóc thì đọc là cất nóc, nếu sửa chữa thì đọc là sửa chữa, nếu chuyển nhà thị đọc là chuyển nhà) tại đây để làm nơi cư ngụ cho gia đình con cháu. Nay chọn được ngày lành tháng tốt, kính cáo chư vị linh thần linh, cúi mong soi xét và cho phép được động thổ (hoặc cất nóc). Tín chủ con lòng thành dâng lễ vật lên trước án thành tâm kính mời: ngài Kim Niên Đường Thái tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài định phúc Táo quân, các ngài Địa chúa Long Mạch Tôn thần và tất cả các vị Thần linh cai quản trong khu vực này.

Cúi xin các Ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho chúng con được vạn sự tốt lành, công việc hanh thông, Chủ thợ được bình an, ngày tháng hưởng phần lợi lạc, âm phù dương trợ, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Tín chủ lại xin phổ cáo với các vị Tiền chủ, Hậu chủ và các vị Hương linh, cô hồn y thảo phụ mộc, phảng phất quanh khu vực này, xin mời các vị tới đây thụ hưởng vật, phù trì tín chủ, cũng như chủ thợ đôi bên khiến cho an lạc, công việc chóng thành, muôn sự như ý.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

 

Sau khi thủ tục hoàn tất, hương gần tàn (còn lại 1/3).  Gia chủ đốt giấy tiền vàng, rải muối gạo, đổ nước rượu ra công trình,.. Sau đó chính tay cuốc những cuốc đất đầu tiên vào chỗ đào móng hay đặt viên gạch đầu tiên để khởi công  và viên gạch này phải để đúng vị trí, không được di chuyển trong quá trình thi công. Sau đó nhà thầu mới cho thợ thực hiện công việc.

 

Là lễ cúng quan trọng nên gia chủ phải thực hiện đúng và đầy đủ các lễ nghi, cầu mong cho thuận lợi cho mọi điều sau này.

Đăng bởi

Tết của người Mông ở Mèo Vạc, Hà Giang .

Các cô gái, chàng trai trong những bộ trang phục rự rỡ đón Tết

Tết của người Mông ở xã Cán Chu Phìn của  huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang đến sớm hơn Tết nguyên đán khoảng 1 tháng. Người Mông đón Tết từ ngày 26/11 âm lịch và kéo dài trong 10 ngày. Thời gian này, người Mông không đi nương mà cùng nhau vui văn nghệ hát, múa, ném còn, hát đối giao duyên. Trong không khí rộn rã của tiếng khèn, tiếng chiêng, từng đoàn người, từ các cụ già đến các em nhỏ xúng xính trong những bộ áo, váy mới đi chơi Tết.


Những ngày cuối năm, ở xã Cán Chu Phìn, các gia đình người Mông tất bật chuẩn bị đón Tết của dân tộc mình. Cả năm làm ăn vất vả, vật lộn mưu sinh, Tết đến, người Mông dành hẳn 10 ngày để nghỉ ngơi.  Gia đình phải chuẩn bị từ 10 ngày trước. Từ ngày 20 tháng 11 âm lịch phải chuẩn bị rau cho bò, lợn, củi đun. Còn trước Tết một tuần thì đi chợ mua quà, quần áo mới. vì ngày Tết cả trẻ con và thanh niên trai gái khi đi chơi đều mặc quần áo mới của dân tộc mình”.

Không khí Tết rộn ràng nhất là ở chợ phiên cuối tuần. Chợ phiên vốn đã đông  nhưng đến với phiên chợ giáp Tết thì kẻ mua, người bán đổ về dường như không còn chỗ chen chân. Tất cả các quầy hàng đều chật kín người. Các món hàng được người Mông mua nhiều như quần áo, thịt lợn, mắm, muối, đường, vàng hương. Họ quan niệm cả năm có tiết kiệm thì Tết đến cũng phải sắm sửa đầy đủ mọi thứ dù là ít để làm lễ cúng mời tổ tiên. Tết thì trong gia đình mỗi người phải có quần áo mới. Vì vậy chờ đến phiên chợ giáp Tết, các bà, các mẹ mới tranh thủ sắm quần áo cho các thành viên trong gia đình. Số lượng hàng bán trong phiên giáp Tết thường phải gấp đôi phiên chợ thường. Trung bình một người mua 1 đến 2 bộ để mặc ngày Tết. Bà con mặc đẹp và rực rỡ, và luôn sắm cái mới. Dịp Tết mua nhiều hơn ngày thường vì lúc đó mới dành tiền để đi mua. Họ phải thử đi thử lại vừa và đẹp mới mua. Mẫu thay đổi, cứ có vải gì mới thì mang ra bán” – anh Tú nói.
Những mặt hàng cần thiết để dùng trong 10 ngày Tết đã được mang về nhà, lúc này mỗi gia đình tập trung dọn dẹp nhà cửa, vườn tược sạch sẽ. Đồ dùng trong nhà được lau chùi, sắp xếp ngăn nắp. Theo phong tục của dân tộc Mông, không chỉ có con người được nghỉ Tết mà các đồ vật phục vụ lao động, sinh hoạt cũng được nghỉ bằng cách được niêm phong. Đồ dùng như cày cuốc, dao, xẻng cũng được nghỉ vì nó đã giúp mình làm việc trong một năm rồi nên Tết cũng được nghỉ. Tôn trọng đồ đã lao động chung tay với con người,tất cả những thứ liên quan tới con người vào tối 30 đều được dán giấy. Cả xe máy cũng dán, những đồ cùng mình đi lao động trong một năm qua. 
Tết của người Mông, có ba món không thể thiếu là thịt, rượu và bánh ngô. Đêm 30 Tết, nhà nào cũng làm lễ cúng tổ tiên bằng một con lợn, một con gà trống còn sống để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cầu cho các thành viên trong gia đình khỏe mạnh, ai cũng đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Sáng sớm mùng 1 Tết, việc làm đầu tiên của người Mông là ra chuồng bò, lợn, gà gọi linh hồn của chúng về ăn Tết cùng với gia đình. Thức ăn cho các con vật trong nhà đều được làm mới như râu cho bò thì sáng ra mới thái, cám cho lợn thì cũng vừa nấu xong. Năm cũ qua đi năm mới đã về, trân trọng kính mời linh hồn của những con bò, trâu, gà, lợn mà đang đi lạc ở đâu đó xa xôi thì về ăn bữa cơm mới, bữa thức ăn mới đầu tiên thì phải  thái mới từ sáng chứ không thái từ hôm tước. con lợn thì ăn cám nấu mới, con gà về chuồng ăn chung thức ăn mới của ngày Tết
Người Mông rất hiếu khách. Họ quan niệm ngày Tết mà có nhiều anh em, bạn bè đến cùng ăn Tết và chúc nhau những điều tốt đẹp là năm đó gia chủ làm ăn sẽ có thêm nhiều tài lộc. Tết cũng là dịp để các chàng trai, cô gái người Mông có cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu và cũng từ đây nhiều đôi đã nên vợ thành chồng. 


Đăng bởi

Lễ hội Quán Thế Âm diễn ra trong tháng 2 âm lịch

Lễ hội Quán Thế Âm là một lời cầu nguyện cho quốc thái dân an, cho mưa thuận gió hòa; là dịp để mọi người, mọi giới chan hòa trong không khí hội hè, soi mình vào bản sắc văn hóa dân tộc để ngày một sống đẹp hơn. Lễ hội Quán Thế Âm góp phần phục hồi và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.


Thời gian tổ chứcLễ hội Quán Thế Âm được tổ chức hàng năm, cứ đến ngày 19.2 Âm lịch, lễ hội lại được tổ chức với một tầm vóc, quy mô ngày càng lớn hơn về cả nội dung và hình thức. Lễ hội Quán Thế Âm diễn ra trong 3 ngày, bao gồm hai phần: lễ và hội. 


Lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức hàng năm tại khu du lịch Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng. Lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1960, nhân ngày khánh thành tượng Bồ Tát Quán Thế Âm ở động Hoa Nghiêm thuộc ngọn Thuỷ Sơn, phía Tây Ngũ Hành Sơn. Hai năm sau, lễ hội được tổ chức nhân dịp khánh thành chùa Quan Âm ở động Quan Âm, là nơi phát hiện một khối thạch nhũ có hình tượng Phật bà Quán Thế Âm. Sau đó, vì nhiều lý do, lễ hội không được tổ chức trong một thời gian khá dài. Mãi đến ngày vía đức Phật bà Quan Thế Âm vào năm 1991 (19/2 năm Tân Mùi), Lễ hội Quán Thế Âm mới được khôi phục trở lại. 


le hoi quan the am



Phần lễ: Mang màu sắc lễ nghi Phật Giáo với các nội dung: 


– Lễ rước ánh sáng: Nghi lễ rước ánh sáng thường tổ chức vào tối ngày 18, gồm rước đuốc, rước kiệu, múa lân, múa rồng để cầu mong ánh sáng soi đường cho chúng sinh, mà trong phật giáo ánh sáng đồng nghĩa với trí tuệ, trí tuệ sáng thì tấm lòng, đạo đức trong sáng, sẽ làm nhiều việc thiện. 


– Lễ khai kinh: Lễ được tổ chức vào sáng sớm ngày 19, đây là lễ cầu nguyện cho quốc thái dân an, chúng sinh an lạc. 

le nguyen cau quoc thai dan an
Lễ nguyện cầu quốc thái dân an

– Lễ trai đàn chẩn tế: lễ này cũng được tổ chức vào sáng ngày 19 để cầu siêu, cúng thập loại chúng sinh, thường trước đó đồng bào phật tử gửi danh sách những người thân của mình đã mất đến chùa để làm lễ cầu siêu, trong lễ này phải mời người có giới phẩm đứng ra làm lễ. 


– Lễ thuyết giảng về Bồ tát Quán Thế Âm và dân tộc: lễ cúng được tổ chức vào sáng ngày 19, ngợi ca lòng từ bi bác ái của đức Phật Bồ Tát Quán Thế Âm và cầu nguyện cho dân tộc an bình, thịnh vượng. 


– Lễ rước tượng Quán Thế Âm: Lễ này tổ chức vào khoảng 10 giờ sáng ngày 19, sau các nghi lễ trên, bốn người khiêng kiệu trên có tượng Phật bà đi trước, và đồng bào Phật tử đi sau, kiệu được khiêng từ trên chùa và đi xuống chiếc thuyền đậu trên Sông Cầu Biện (nhánh của sông Cổ Cò), sau đó cho thuyền chạy vòng quanh sông Cổ Cò. Lễ này nhằm cầu nguyện cho đồng bào, chúng sinh đi biển, đi làm ăn trên sông nước được thuận lợi bình an. Ngoài các nghi lễ trên, còn có lễ tế xuân (cúng sơn thủy, thổ thần) để cầu quốc thái dân an. Lễ thường được tổ chức vào đêm ngày 18. Trong ngày lễ này các bô lão của các phường Hòa Hải, Hòa Quý khăn áo chỉnh tề, tay cầm cờ lọng, đuốc, lồng đèn, có đội nhạc cổ và chiêng trống đi theo. Sau khi làm lễ và đọc văn tế, đoàn bô lão sẽ dẫn đầu đoàn rước cộ xuống bờ sông Cầu Biện để mở hội hoa đăng, rồi từ chùa Quán Thế Âm đi quanh các khu phố qua các làng đá mỹ nghệ Non Nước, xuống khu du lịch Non Nước và trở về lại lễ đài với lộ trình dài hơn 2km. 

nghi thuc ruoc via quan the am

Nghi thức rước vía Đức Bồ Tát Quán Thế Âm 



Phần hội: Diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hoá – thể thao mang đậm bản sắc dân tộc xen lẫn với hiện đại như hội hoá trang, hát dân ca, thi cờ, nhạc, hoạ, điêu khắc, múa tứ linh, thả đèn trên sông, hát tuồng… các hoạt động văn hóa như triển lãm thư pháp và tranh thủy mặc, hội thi thuyết minh về danh thắng Ngũ Hành Sơn, hội thi nấu ăn chay…/

thi viet thu phap
Thi viết thư pháp


phat tu va du khach du le





Đăng bởi

Lễ cúng ngày Tết cổ truyền

Từ 23 tháng Chạp trở đi, là giai đoạn chuẩn bị Tết của các gia đình. Dọn dẹp, sơn phết nhà cửa, giặt giũ rèm cửa, đánh bóng lư đồng, sắm sửa đồ dùng mới… tất cả được làm trong khoảng thời gian này.





Theo tục lệ cổ truyền, cứ đến ngày 23 tháng Chạp âm lịch, Táo Quân lại cưỡi cá chép bay về trời để trình báo mọi việc xảy ra trong gia đình với Ngọc Hoàng. Vị Táo Quân quanh năm ở trong bếp nên biết hết mọi chuyện hay dở tốt xấu của mọi người, cho nên để Vua Bếp “phù trợ” cho mình được nhiều điều may mắn trong năm mới.

Ngay từ buổi sáng ngày 23 tháng Chạp, hoặc tối trước đó 1 ngày, các bà nội trợ trong nhà phải lau chùi sạch sẽ bếp nấu, lau sạch bàn bếp, quét mạng nhện… Xưa các gia đình phải dọn tro bếp củi, bếp than, còn hiện nay hầu hết các gia đình mua nước rửa kim loại, nước rửa kính về chùi bếp gas sạch bóng. 

Cúng ông Táo làm to nhỏ, chay mặn tùy khả năng mỗi gia đình. Mâm lễ mặn (có thể là xôi gà, chân giò luộc, thịt ba rọi luộc, các món nấu nấm, măng…) hay lễ chay (với trái cây, chè, xôi, bánh…) để tiễn Táo Quân. Ngoài ra, đối với những nhà có trẻ con, người ta còn cúng Táo Quân một con gà luộc, loại gà cồ ngụ ý nhờ Táo quân xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho đứa trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ.

Trước đây lễ vật cúng Táo Quân thường phải có 3 chiếc mũ giấy, gồm hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có cánh chuồn. Lễ cúng thường diễn ra trước 12h trưa, sau khi cúng xong, người ta sẽ hóa vàng (đốt) đồ lễ, nếu có cá sống thì sẽ đem thả xuống sông, hồ, biển hay giếng nước, tùy theo khu vực họ sinh sống. Nhưng hiện nay, theo quan điểm mới hạn chế đốt vàng mã, ở nhà chung cư cũng khó có điều kiện thả cá chép, nên các gia đình chỉ bày mâm cỗ và thắp nhang vào buổi trưa ngày 23 tháng Chạp để bày tỏ lòng thành kính.
 
Chuẩn bị Tết

Từ 23 Tháng Chạp trở đi, là giai đoạn chuẩn bị Tết của các gia đình. Dọn dẹp, sơn phết nhà cửa, giặt giũ rèm cửa, đánh bóng lư đồng, sắm sửa đồ dùng mới… tất cả được làm trong khoảng thời gian này.

Ngày tết, bàn thờ là tâm điểm của các hoạt động tâm linh, là nơi ngự vị của các bậc tiền nhân trong gia đình, vì thế việc lau dọn sạch sẽ bàn thờ là công việc phải được chú ý kỹ lưỡng nhất cũng như thực hiện một cách cẩn thận, tỉ mỉ.

Chổi quét hoặc khăn lau bàn thờ thường được dùng riêng, và rất hạn chế sự chung đụng. Nước lau bàn thờ thường được dùng từ nguồn nước sạch sẽ. Không gian thờ tự là không gian thiêng liêng trong gia đình, là nơi lưu giữ nhiều ẩn ức tình cảm giữa các thế hệ, chính vì thế việc giữ gìn bàn thờ luôn sạch sẽ, mát mẻ không chỉ thể hiện sự chăm sóc và tôn kính của con cháu đối với ông bà tổ tiên mà còn là sự chăm sóc đến cái tôi tâm linh ở mỗi con người. Do vậy những việc tưởng chừng nhỏ nhặt như đánh sáng lại bộ tư đồng, lau chùi khung ảnh, thay cát bát nhang… thể hiện tình cảm và lòng thành kính của con cháu với ông bà, cha mẹ, tổ tiên… 

Trên bàn thờ tổ tiên, ở chính giữa đặt bát nhang (tượng trưng cho tinh tú) và trên bát hương có cây trụ để cắm hương vòng (tượng trưng cho trục vũ trụ), hai bát hương khác đặt ở bên trái và bên phải tạo nên tư thế tam tài; ở hai góc ngoài bao giờ cũng có hai cây đèn dầu (hoặc nến) tượng trưng cho mặt trời bên trái và mặt trăng ở bên phải. Khi cần giao tiếp với tổ tiên (có lúc thỉnh cầu, có lúc sám hối… người ta thường đốt nến (đèn dầu) và thắp hương. Mọi nguyện cầu theo các vòng khói hương chuyển đến ông bà tổ tiên.

Để suốt những ngày tết, trên bàn thờ là mâm ngũ quả, 3 chén nước, bình hoa lớn (có thể là hoa cúc, hoa huệ, hoa lay ơn, hoa mai, hoa đào)…, bình (hoặc chai rượu ngon). Để bàn thờ thêm đẹp mắt, tùy theo phong tục từng miền, có thể chưng bày thêm bánh in, bánh tổ, bánh tét, bánh chưng, mứt, cặp dưa hấu… 

Việc thắp sáng cho bàn thờ ngày Tết cũng được bắt đầu từ ngày 30, với loại nhang vòng, hay nhang que loại lớn, cháy liên tục trong nhiều ngày với nhiều ý nghĩa biểu trưng như các vì tinh tú đang tỏa sáng, sự chăm lo ân cần của con cháu… Hương khói còn tạo nên một không khí ấm cúng nơi gian thờ, gắn kết tình cảm và ước nguyện hạnh phúc của mọi người trong một gia đình. Nhang dùng cho những ngày Tết cũng thường là các loại có mùi thơm đặc biệt ví dụ như nhang trầm…
 
Đón ông bà về ăn Tết

Việc đón ông bà về ăn Tết cùng con cháu được bắt đầu từ trưa ngày 30 tết. Tuy nhiên, nhiều gia đình bận rộn có thể đón vào chiều 30, hoặc đêm giao thừa. Thức cúng là mâm cơm với các sản vật ngày Tết, thường có con gà và mâm ngũ quả, ngoài ra có thể dùng các món như thịt kho, canh khổ qua, canh măng. 

Các ngày tiếp theo, mỗi ngày đều có cúng cơm và đèn nhang phải giữ thắp suốt mấy ngày Tết cho đến hết Tết, đến khi làm lễ tiễn ông bà (lễ hóa vàng) thì việc thờ cúng gia tiên trong ngày Tết mới coi là đã hoàn tất. Trong mấy ngày này, nhang đèn luôn thắp sáng trên bàn thờ để thể hiện lòng tôn kính của con cháu với tổ tiên. Vì vậy để giữ hương khói không bị ngắt quãng, có thể dùng nhang vòng.

Ở đây, cùng với nghi thức đón ông bà, cũng là ngày gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên, nên còn gọi là cúng tất niên.

Vào đêm 30 (hoặc đêm 29), để đón ông bà, cũng như ghi nhận thời khắc năm mới, trong gia đình thường có 2 mâm cúng: 1 mâm trên bàn thờ đón gia tiên, một mâm để ngoài sân cúng trời đất. Mâm cúng đêm 30, một số gia đình chỉ dùng đơn giản là dĩa trái cây, chén chè, dĩa xôi, bình hoa tươi và 3 nén nhang. Lễ cúng đêm giao thừa, còn gọi là lễ trừ tịch.

Ngày 30, cũng là thời điểm cuối cùng để hoàn tất việc dọn dẹp, bỏ qua những điều không may của năm cũ đển chuẩn bị đón năm mới. Buổi tiệc tất niên, cũng như lễ cúng giao thừa, mọi chuyện buồn phiền, xích mích giữa các thành viên gia đình, hàng xóm láng giềng đều được cho qua.
 
Tiễn ông bà

Trước kia, lễ tiễn ông bà, hay còn gọi là hoá vàng kết thúc Tết Nguyên đán có thể diễn ra vào mùng 5, mùng 7 hay mùng 10 là tùy thuộc vào thời gian ăn tết ngắn hay dài của các gia đình. 

Hiện nay, theo quy định công chức phải đi làm từ mùng 4 tết, hầu hết ở các khu đô thị, lễ tiễn ông bà thường diễn ra vào mùng 3 tết, tại nhà. Nhà nhiều anh em có chia nhau thờ cúng thì người ta có thể đưa ông bà từ ngày mùng hai Tết. Và sắp xếp để người anh lớn nhất hoặc người có cha mẹ ở chung thì làm lễ đưa ông bà ngày cuối. Đây cũng là cách làm hay để mọi người tronggia đình luân phiên đến nhà nhau. Trong lễ này, dù giàu hay nghèo, gia đình nào cũng cố gắng sắm sửa một mâm cơm có đủ các món ăn truyền thống như gà luộc, bánh chưng, thịt kho… để thắp hương dâng lên tổ tiên, những người thân đã khuất bóng để cầu xin tổ tiên phù hộ cho một năm mới an lành, nhiều may mắn. 

Con gà cúng ngày mùng 3 phải chọn thật no tròn, chắc nịch, có cặp chân đẹp, bày biện thật long trọng. Mâm cơm phải có canh rau, đồ xào, các loại nước chấm, trà rượu để ông bà mát ruột, hài lòng. Chân gà giữ lại để treo đằng cửa cùng với hình ông cọp, bộ tiền vàng mã cũng phải chuẩn bị thật chu đáo.

Tết cổ truyền của người VN được khai hội từ ngày 23 tháng Chạp kéo dài đến ngày tiễn ông bà là xem như mãn tiệc. Với những người bận rộn, chỉ cần du xuân và thực hiện những tập tục của ngày Tết đến hết mùng 3 là mãn nguyện, đủ đầy. Trong khi đó, giới phật tử, người về hưu, những ai không phải lo cơm áo gạo tiền thường tiễn xuân, chào Tết đến tận rằm tháng Giêng, đi cho đủ 10 ngôi tự (đi 10 kiểng chùa) để cầu an.